Sách » Y Học - Sức Khỏe » Y học thường thức

Tìm hiểu về thận

Ai cũng biết là mỗi người có hai quả thận. Nước tiểu từ thận qua hai ống nhỏ vào bọng đái, rồi từ đó qua ống tiểu mà ra ngoài. Nếu vì cớ gì (vì bệnh, hay là hy sinh cho người thân) mất đi một qủa thận chỉ còn một thì chức năng thận vẫn còn được đều hòa.

Các chức năng của thận: Một không ba có

Xin nói ngay về "một không": thận không liên hệ gì đến vấn đề sinh con đẻ cái hay là cường dương yếu sinh lý gì hết. Người " phòng sự qúa độ " không bị bại thận. Uống " Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn" nếu có bổ thận như là qủang cáo, thì cũng không giúp gì cho vấn đề phòng sự của quí ông. Sở dĩ có sự liên tưởng là vì nuớc tiểu và tinh khí của đàn ông đi chung nhau một khúc ở đoạn chót trước khi ra ngoài.

Ba phận sự của thận là gì?

Thứ nhất, và cũng là phận sự chính của thận, là bài tiết các chất phế thải ra khỏi cơ thể. Ngoài ra, thận góp phần điều hòa áp suất máu và cũng ảnh hưởng đến ván đề tạo hồng huyết cầu.

Phận sự chính: bài tiết nước tiểu

Khi ta bổ đôi quả thận ra (làm món cháo bồ dục, hay là ăn lòng chay luộc) thì thấy có năm sáu cái múi nhỏ bên trong. Thận lọc máu để gạn nước tiểu đi, nhưng không phải đơn gỉan qua những cái ống phễu như những cái múi ta nhìn thấy. Mỗi quả thận có chừng một triệu bộ phận nhỏ li ti gọi là nephron, mỗi đơn vị là một bộ phận lọc tinh vi gồm nhiều chặng, sau khi thành nước tiểu rồi mới gom lại dần mà thải ra. Người bị bệnh cao máu lâu ngày, hay là về tuổi già, thì số đơn vị bộ phận lọc này giảm đi. Số bộ phận lọc li ti đáng lẽ là chừng một triệu, thì chỉ còn thí dụ bảy tám trăm ngàn. Nếu bị hư nhiều hơn nữa, thì bị bại thận, không phải yếu sinh lý, mà là chức năng bài tiết chất độc suy xụp, do đó chất độc tích tụ trong cơ thể mà sinh bệnh.

Chặng đầu của một nephron như một cái bát rỗng vỏ, có chứa một búi mạch máu nhỏ. Máu được đẩy tới đó với sức ép mạnh, làm cho chất nước trong máu toát ra, chỉ giữ lại huyết cầu và những phân tử lớn như là chất đạm, albumin chẳng hạn (cho nên người hư thận thử thấy có albumin trong nước tiểu). Chất nước và các chất điện giải như Natri (của muối) sau chặng này đi theo một cái ống. Dọc theo ống này còn có nhiều đẩy đưa qua lại, rồi mới thành nước tiểu. Nước tiểu loãng hay đặc, là do những chất nội tiết kiểm soát và điều hòa, tùy theo cơ thể lúc đó cần nhiều hay ít nước.

Nước tiểu từ mỗi bên thận đi theo một cái ống chảy xuống bọng đái, nhưng không đơn giản như nuớc chảy theo ống cống. Chung quanh mỗi ống. là những bắp thịt nhỏ, co bóp từng đợt như đợt sóng mà đẩy nước tiểu đi. Tới chỗ gặp bọng đái, thì có một vòng bắp thịt ôm quanh, mở ra cho nước tiểu qua, rồi lại thắt kín lại.

Bọng đái giống như một qủa bóng cao su, có thể dãn nở được phần nào. Nước tiểu gom dần trong đó, tới khi nhiều qúa thì sức ép tăng, làm kích thích giây thần kinh lên tới óc, làm cho ta macé đi tiểu.Nước tiểu từ trong bọng đái qua ống tiểu mà đi tiểu ra ngoài. Tạo hóa sinh ra cơ thể con người rất tinh vi mầu nhiệm, cho nên "đi tiểu" không phải chỉ đơn giản "tiểu là tiểu". Khi đi tiểu, thì cái vòng thắt ôm quanh chỗ bọng đái vào ống tiểu mở ra, bọng đái co bóp lại làm tăng áp lực đẩy nước tiểu ra (nếu ta ép bắp thịt bụng lại, thì sẽ giúp sức ép mạnh lên, và nước tiểu ra nhanh hơn). Đồng thời, hai cái vòng thắt chỗ hai ống từ hai quả thận đi xuống thắt kín lại, giữa cho nuớc tiểu không dội ngược trở lên được.

Thận điều hòa huyết áp

Thận điều hòa huyết áp bằng hai cách. Khi áp suất máu lưu thông trong huyết quản tăng cao, thì thận thải bớt nước (và muối) ra ngoài, làm cho thể tích máu giảm đi, như vậy huyết áp sẽ hạ. Vì vậy cho nên thuốc lợi tiểu làm hạ huyết áp. Nếu huyết áp qúa thấp, thì thận giữ nhiều nước và muối lại, tức là thể tích máu sẽ nhiều lên, kết qủa là huyết áp gia tăng. Đấy là cách thận dùng để trực tiếp điều hòa huyết áp và là phương cách vật lý.

Thận cũng điều hòa huyết áp một cách gián tiếp bằng phương cách hóa học. Nếu huyết áp qúa thấp, thận sẽ tiết ra một chất gọi là renin, chất này kích thích một chất thứ hai là angiotensin. Angiotensin tác dụng theo hai mặt. Một mặt nó làm cho tất cả các động mạch nhỏ trong cơ thể co lại. Khi co lại như thế, mà sức ép từ tim đẩy ra vẫn giữ nguyên, thì tự nhiên sức ép trong mạch máu sẽ tăng lên. Một mặt khác, nó làm cho nang thượng thận (một cái tuyến nằm ngay bên trên qủa thận) tiết ra một chất nội tiết, chất này làm cho thận giữ nhiều muối lại (đồng thời với nước, vì theo tự nhiên thì muối đi đôi với nước), thành ra thể tích máu trong huyết qủa tăng lên, nghĩa là huyết áp tăng lên.

Vì thận đóng vai trò quan trọng trong vấn đề đièu hòa huyết áp, cho nên nhiều bệnh thận làm cho huyết áp bị cao, thí dụ như khi thận bị nhiễm trùng, bị ung thư hay là bị chấn thương một hay hai bên.

Như trên ta đã thấy, nếu thể tích máu do tim bơm đi qúa nhiều, thì huyết áp sẽ tăng. Theo điều hòa tự nhiên, thì vì huyết áp tăng, các mạch máu sẽ dãn nở và thận thì thải ra nhiều nước và muối hơn, như vậy sức ép giảm đi. Người bị bệnh cứng các động mạch nhỏ, như là người cao máu lâu ngày, thì các động mạch khó dãn nở, hơn nữa, các động mạch nhỏ trong qủa thận cũng bị cứng, khó mà gia tăng bài tiết nhiêu muối và nước, cho nên huyết áp cao mà không điều hòa được.

Thận cũng có ảnh hưởng trong vụ tạo hồng huyết cầu

Thận sinh ra một chất, gọi là erythropoietin, là một chất nội tiết kích thích tủy xương trong việc sản xuất hồng huyết cầu. Một số bệnh thận làm cho số lượng hồng huyết cầu trong máu bị xáo trộn, thí dụ như một số bọng và ung thư thận làm sinh ra qúa nhiều hồng huyết cầ. Trái lại, người bị bại thận sẽ bị chứng "thiếu máu", hay nói chính xác hơn, là thiếu hồng huyết cầu (anemia).

Bài này chỉ nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về sức khỏe và y tế. Nếu cần chữa bệnh, xin liên lạc trực tiếp với bác sĩ của bạn.

Bác sĩ Vũ Quí Đài