Sách » Y Học - Sức Khỏe » Y học gia đình

Chương 39: Nhức và đau

Chương 39: N H ứC Và ĐAU

Peter Curtis

Thưa bác sĩ, thời gian gần đây tôi thấy đau nhức toàn thân, có phải đây là chứng bệnh thường có ở lứa tuổi của tôi không?" Đây là câu hỏi thường gặp hàng ngày của bệnh nhân ở các phòng mạch của bác sĩ và nó còn là một ví dụ về các triệu chứng không đặc hiệu mà các bác sĩ đa khoa phải làm rõ ràng và điều trị.

Thuật ngữ "nhức và đau" chỉ cảm giác khó chịu từ nhẹ đến trung bình xuất hiện ở cơ, khớp, xương hoặc mô viêm. Các triệu chứng có thể xuất hiện ở một vùng của cơ thể hoặc di chuyển từ vùng này đến vùng khác với biểu hiện cấp tính, tái đi tái lại hoặc mạn tính. Các nguyên nhân gây ra nhức và đau thay đổi tùy theo tuổi và là biểu hiện của nhiều bệnh, hội chứng và những vấn đề về tâm lý.

ĐáNH GIá

Cũng giống như các triệu chứng không đặc hiệu khác. Một bệnh sử được khai thác cẩn thận và tập trung bao gồm các vấn đề về y tế, xã hội và hành vi là rất quan trọng nhằm làm sáng tỏ các đầu mối và biểu hiện có ý nghĩa. Các câu hỏi nên bao gồm các vấn đề sau đây:

- Bệnh nhân mô tả cảm giác. Phần này nên bao gồm hoàn cảnh xuất hiện và thời gian tồn tại của các triệu chứng, phần nào của cơ thể bị ảnh hưởng, các yếu tố làm tǎng hoặc thuyên giảm và bất cứ tiền sử về bệnh lý cơ xương nào trong gia đình.

- Trong tiền sử hoặc hiện tại về bất kỳ bệnh hệ thống nào đang mắc (thí dụ bệnh vảy nến thường có liên quan đến bệnh lý về khớp) và liệt kê những thuốc đã dùng theo đơn và không theo đơn. Một số dược phẩm có thể gây ra biểu hiện đau ở cơ hoặc khớp.

- Xác định nghề nghiệp, các sang chấn và các tác động của gia đình, cũng như trạng thái tinh thần của người bệnh. Suy sụp về mặt thể chất hoặc công việc lặp đi lặp lại cũng có thể gây ra các triệu chứng, trong khi các sang chấn trong cuộc sống và trầm cảm thường liên quan đến dấu hiệu đau không đặc hiệu.

Thǎm khám lâm sàng nên bao gồm sờ nắn các cơ, khớp và xương ở những nơi bệnh nhân kêu đau, tiếp theo là các khám nghiệm sơ lược về vận động của các khớp ở tay, vai, mông, gối và bàn chân. Việc yêu cầu người bệnh mô tả cảm giác khó chịu là một cách tốt và nếu không có các triệu chứng rõ ràng vào thời điểm thǎm khám thì yêu cầu người bệnh quay trở lại khi đau tǎng lên. Thǎm khám nhiều hơn một lần là cần thiết để có bệnh sử đầy đủ của bệnh nhân và để quan sát đáp ứng của người bệnh đối với thảo luận, trấn an và thông thường là các biện pháp điều trị theo kinh nghiệm.

Các xét nghiệm cận lâm sàng nhằm loại trừ những bệnh nặng hoặc bệnh hệ thống có thể đi kèm với các chứng đau mỏi không đặc hiệu. Nên bắt đầu bằng các xét nghiệm đơn giản và ít tốn kém như số lượng và công thức hồng, bạch cầu (CTM), tốc độ lắng máu (TĐLM) và xét nghiệm phân tích nước tiểu. Kết quả bình thường của những xét nghiệm này thông thường sẽ cho phép sàng lọc nhiều bệnh lý về thấp khớp và những bệnh lý về collagen thành mạch. Việc tiến hành các xét nghiệm về huyết học, thấp khớp, nội tiết trước khi tiến hành xác định chẩn đoán thì đơn giản nhưng tốn kém và còn dễ sa đà vào tình trạng quá nhiều xét nghiệm, các kết quả nghi ngờ và dương tính giả.

Trường hợp 1: "Những cơn đau đang làm tôi suy sụp"

Bà Haynes, 45 tuổi đến phòng khám bệnh phàn nàn vì bị đau ở vai, đùi và gối từ 5 tháng nay. Bệnh nhân có tiền sử gia đình về bệnh viêm xương khớp. Thǎm khám lâm sàng hoàn toàn bình thường. Bác sĩ đã cho xét nghiệm CTM, TĐLM, yếu tố dạng thấp, protein phản ứng C, kháng thể kháng nhân, yếu tố LE và SMA 6. Công thức máu (CTM) cho thấy có tình trạng thiếu máu nhược sắc nhẹ. Tốc độ lắng máu khoảng 30mm/giờ và yếu tố dạng thấp dương tính nhẹ. Hình ảnh X-quang của các khớp có triệu chứng bệnh thì hoàn toàn bình thường.

Bà được điều trị bằng thuốc chống viêm không steroid, nhưng sau vài tháng theo dõi điều trị, bà ta cho biết bệnh không thuyên giảm. Khi bác sĩ tiến hành khai thác thêm thì thấy rõ ràng là bà là một người mẹ cô đơn, mới mát việc làm. Bà thú nhận là đã khóc, khó ngủ và khó tập trung. Việc điều trị bao gồm: thuốc chống trầm cảm, tư vấn và giới thiệu việc làm đã làm cải thiện tình trạng đau mỏi của bà.

Bàn luận

Bà Haynes đã mắc chứng trầm cảm, một trạng thái thường gây tǎng thêm cảm nhận về những triệu chứng chức nǎng của cơ thể (hồi hộp, đánh trống ngực, tức ngực khó thở, đau mỏi cơ và khớp). Thiếu máu là do tình trạng thiếu dinh dưỡng gây ra và những kết quả xét nghiệm khác không có ý nghĩa, do đó mà các khám nghiệm lâm sàng bình thường. Tuy nhiên các xét nghiệm (nhất là chụp X-quang) đã làm bà ta phải trả khoảng 200 đô la trong khi bà ta không có bảo hiểm. Sự chú ý hơn nữa đến tất cả các mặt của quá trình bệnh lý có thể đã xác định được chẩn đoán sớm hơn và chi phí ít hơn.

NHứC Và ĐAU ở TRẻ EM

Nhức và đau là biểu hiện thường gặp ở mọi lứa tuổi, trừ trẻ em dưới 5 tuổi. Việc các bậc cha mẹ đưa mót cháu nhỏ hoặc tuổi thiếu niên đến gặp bác sĩ gia đình vì cháu có những triệu chứng đau mỏi không đặc hiệu là việc tương đối phổ biến và việc xác định nguyên nhân có thể không dễ dàng. Những nguyên nhân thường gây ra các biểu hiện nhức và đau này, ở trẻ em được trình bày trong bảng 39-1.

Bảng 39.1. Những nguyên nhân phổ biến gây đau và nhức ở trẻ em

Cấp tính

Mạn tính

Tái phát

Chứng đau khớp

- Sốt do viêm khớp

- Bệnh sởi (Rubeon)

- Thủy đậu

- Quai bị

Chấn thương

Dị ứng (ong đốt)

Viêm màng hoạt dịch cấp

Viêm mao mạch dị ứng

Viêm khớp dạng thấp

Đau đầu

Vẹo cột sống

Viêm xương sụn

Sau tiêm chủng

Tâm thần-thân thể

Bệnh Lyme

Viêm bao gân

Bệnh hồng cầu hình liềm

Đau ở tuổi đang lớn

Đau khớp từng thời kỳ

Trường hợp 2 : "Đau ở tuổi đang lớn"

Johnny, 8 tuổi, được mẹ đưa đến bác sĩ và nói cháu kêu đau vùng cột sống thắt lưng và chân từ 4 tháng. Có lúc đau nhiều đến nỗi làm cháu phải khóc. Cháu không sốt, không bị sưng khớp, đi lại và chạy nhảy tương đối bình thường. Cháu vẫn hoạt động được như những trẻ khác. Cháu ǎn uống được và còn vui vẻ bình thường. Cơn đau thường kéo dài khoảng một giờ. Cha của Johnny cũng đã bị đau tương tự khi ông ta còn nhỏ. Kết quả khám xét hoàn toàn bình thường.

Bàn luận

"Đau ở tuổi đang lớn" là một vấn đề phổ biến, xảy ra ở những trẻ khoảng 10 tuổi và gặp ở 15% trẻ em. Nói chung, đau loại này được định nghĩa là những cơn đau cách hồi ở chi kéo dài trên 3 tháng, không có biểu hiện ở khớp nhưng đôi khi làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của trẻ. Nguyên nhân gây ra đau chưa rõ. Những biểu hiện đặc trưng bao gồm (a) đau ở đùi và bắp chân (đôi khi ở lưng và tay) có thể biểu hiện mức độ từ nhẹ đến khá nặng; (b) vị trí đau mơ hồ và (c) trong nhiều trường hợp, đau xảy ra vào ban đêm. Hiếm khi tìm thấy nguyên nhân bệnh lý ở những trẻ này (<5% các trường hợp).

Khai thác bệnh sử và khám xét ở trẻ có biểu hiện đau mỏi nên chú ý tìm những nguyên nhân nghiêm trọng cần được chữa trị và xác định những dấu hiệu của bệnh lành tính. Do đó, phần đánh giá nên bao gồm việc tìm kiếm những dấu hiệu gợi ý sau đây:

- Sốt từng đợt.

- Đau hoặc tǎng nhạy cảm xuất hiện khu trú tại khớp, cơ hoặc xương.

- Đi tập tễnh kéo dài.

Bạn cũng cần tìm những vận động nhiều ở khớp gây ra những biểu hiện tương tự. Những dấu hiệu biểu hiện của vấn đề lự giới hạn như "Đau ở tuổi đang lớn" bao gồm một tiền sử bệnh có đau từng đợt xen kẽ với những thời kỳ bình thường, một tiền sử gia đình về bệnh lý tương tự và mối liên quan giữa đau với các sang chấn hoặc mức hoạt động.

Điều trị "Đau ở tuổi đang lớn" lành tính bao gồm xoa bóp, thuốc giảm đau nhẹ, theo dõi điều trị theo thời gian, làm người bệnh yên tâm với một tiên lượng bệnh tốt. Hướng dẫn cho họ để tránh hoạt động quá mức hoặc các sang chấn tại nhà cũng là một biện pháp điều trị quan trọng.

ĐAU Và NHứC ở NGƯờI LớN

Có rất nhiều nguyên nhân gây nhức và đau cơ xương ở người lớn. Những nguyên nhân phổ biến hơn cả được liệt kê trong bảng 39.2.

Bảng 39.2. Những nguyên nhân phổ biến gây đau và nhức ở người lớn

Cấp tính

Mạn tính

Tái phát

- Nhiễm trùng toàn thân

- Hội chứng nhiễm virus

- Tǎng bạch cầu đơn nhân

- Sốt vùng núi đá

Viêm khớp dạng thấp

Đau nhiều cơ do thấp

Viêm động mạch thái dương

Hội chứng Stevens-Johnson

Chấn thương

Bệnh gút

Viêm xương khớp

Viêm khớp dạng thấp.

Bệnh gút

Bệnh giả gút

Tǎng nǎng tuyến cận giáp

Tǎng nǎng tuyến giáp

Giảm nǎng tuyến giáp

Bệnh lý thần kinh cơ

Trầm cảm

Đau xơ cơ

Bệnh Lyme

Hội chứng đau cơ mạc

Bệnh gút

Hội chứng tiền mãn kính

*Nguyên nhân nhiễm trùng

Trong quá trình xác định chẩn đoán thì bệnh sử đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Hãy chú ý tới các chi tiết mô tả về cơn đau như hoàn cảnh xuất hiện, cường độ, tần số, thời gian trong ngày, sự liên quan với tình trạng mệt mỏi, các yếu tố gây tǎng hoặc giảm. Dấu hiệu cứng cơ khớp đặc biệt nếu là biểu hiện đầu tiên vào buổi sáng và kéo dài trong vài giờ là một dấu hiệu phổ biến gợi ý một bệnh lý của viêm khớp. Bảng 39.3 phân loại những bệnh lý trong đó dấu hiệu cứng cơ khớp là một biểu hiện nổi bật. Mệt mỏi kéo dài là một triệu chứng khác của bệnh khớp nhưng ít đặc hiệu.

Bảng 39.3. Những bệnh lý có biểu hiện triệu chứng cứng cơ khớp

- Viêm khớp dạng thấp

- Các bệnh khớp có huyết thanh âm tính

- Thoái khớp nói chung

- Thấp khớp có đau nhiều cơ

- Nhiễm trùng thông thường

- Bất động kéo dài

- Viêm đốt sống Alkyl hóa

Khi đau và nhức xuất hiện cùng với sưng khớp đặc biệt là ở bàn tay và chân thì sự chẩn đoán phân biệt sẽ rất rộng. Nhìn chung, viêm xương khớp thường kèm theo tình trạng hơi

Bảng 39.5: Đau và nhức liên quan tới sang chân

- Trầm cảm - Bệnh thấp do rối loạn tâm thần

- Đau xơ cơ

- Hội chứng đau cơ mạc

- Viêm xương khớp

- Viêm khớp dạng thấp và các thể lâm sàng

cứng cơ khớp vào buổi sáng, hạn chế vận động ở mức nhẹ đến trung bình, sưng rất nhẹ ở phần mềm nhưng sưng không đều, rõ rệt ở phần quanh khớp. Các khớp bị bệnh dặc trưng là vai, gối, háng và các khớp đốt ngón của bàn tay và chân. TĐLM bình thường. Ngược lại, bệnh viêm khớp dạng thấp và các thể lâm sàng của nó biểu hiện phổ biến ở các khớp bàn tay, khớp cổ tay, các khớp ở bàn chân. Khớp gối, vai và cột sống thường cũng bị ảnh hưởng nặng. Có sưng đáng kể phần mềm xung quanh khớp. Biến dạng khớp rõ và teo cơ, cứng cơ khớp nhiều vào buổi sáng.

Những dạng khác của sự đánh giá đau và nhức ở người lớn bao gồm sự chú ý cẩn thận tới những biểu hiện ngoài khớp của các bệnh khớp và vai trò của các sang chấn trong một số rối loạn bệnh lý. Bảng 39.4 đưa ra một số dấu hiệu và triệu chứng ngoài khớp mà bạn nên chú ý phát hiện bệnh khớp ở bệnh nhân có biểu hiện đau nhức.

Bảng 39.5 đưa ra một số tình trạng thường gặp mà ở đó đau và nhức được gây ra bởi hoặc làm nặng lên do các sang chấn về mặt cảm xúc.

Bảng 39.4. Những biểu hiện ngoài khớp của bệnh khớp

- Những thay đổi ở da và móng

- Hạt trong da và dưới da

- Viêm kết mạc

- Viêm màng bồ đào

- Đau ngực, ho, khó thở

- Đái khó, tắc niệu quản

- Tiêu chảy và/hoặc đau bụng

Mặc dù bệnh sử và khám thực thể là các yếu tố xác định chẩn đoán chủ yếu, nhưng một số xét nghiệm có thể có giá trị trong trường hợp khó chẩn đoán hoặc trường hợp có các bằng chứng cụ thể của viêm khớp. Các xét nghiệm có thể tiến hành ở các bệnh nhân như vậy gồm:

- CTM: thiếu máu hồng cầu bình thường, thiếu máu đẳng sắc gặp ở viêm khớp dạng thấp và các thể lâm sàng của nó, thiếu máu huyết tán có thể xuất hiện ở bệnh lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erythematosus-SLE) và tǎng tiểu cầu là gợi ý một bệnh viêm.

- Creatinin huyết thanh; có thể tǎng trong SLE, viêm mao mạch hoặc nhiễm độc thuốc.

- Tốc độ máu lắng và protein C phản ứng. Cả hai đều là những yếu tố phản ứng ở giai đoạn cấp và không đặc hiệu. Sự tǎng cao của các yếu tố này là biểu hiện điển hình của viêm khớp dạng thấp, đau nhiều cơ do thấp (và viêm động mạch thái dương), các tổ chức tân sản và nhiễm trùng.

- Xét nghiệm nước tiểu. Protein niệu, hồng cầu niệu và các trụ niệu là gợi ý cho bệnh lý của thận và có thể phản ánh các bệnh lupus ban đỏ hoặc viêm mạch.

- Xét nghiệm yếu tố dạng thấp. Yếu tố dạng thấp dương tính (chủ yếu là IgG ở nồng độ >1/260) ở 80% bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, 33% bệnh nhân sơ cứng bì và lupus ban đỏ, và ở 90% bệnh nhân có hội chứng Sj"gren hoặc viêm gan. Xét nghiệp này không đặc hiệu, tuy nhiên, ở nồng độ có thể phát hiện được thường gặp ở 33% người khỏe mạnh trên 65 tuổi.

- Kháng thể kháng nhân (ANA). Đây là xét nghiệm tốt để sàng lọc các bệnh lý về mô liên kết đặc biệt là lupút ban đỏ (dương tính ở 95%) trường hợp, hội chứng Sj"gren (80%) viêm khớp dạng thấp (40-60%) và cứng bì (60%). Những biểu hiện quan sát thấy sẽ cung cấp chìa khóa cho chẩn đoán xác định.

- Chụp X-quang. Tổn thương hủy khớp là biểu hiện thường gặp ở phim X-quang thường hoặc trên phim chụp cắt lớp xương trong vòng 2-7 ngày ở viêm khớp nhiễm khuẩn 4-5 tháng trong viêm khớp dạng thấp, 3-4 nǎm trong gút và 5-6 nǎm trong viêm xương khớp.

Sử dụng các xét nghiệm trong đánh giá bệnh nhân có biểu hiện đau và nhức phải nhớ rằng càng giảm các nghi ngờ về mặt lâm sàng bao nhiêu trước khi tiến hành các xét nghiệm thì càng giảm khả nǎng một kết quả xét nghiệm bất thường là dương tính giả bấy nhiêu. Trong khuôn khổ chương này chúng tôi không thể đề cập đến tất cả các nguyên nhân gây đau và nhức. Những trường hợp sau dây được lấy ra từ thực tế, nhằm minh họa một số chẩn đoán và điều trị phổ biến ở các cơ sở chǎm sóc sức khỏe ban đầu.

Trường hợp 3. Đau lưng

Ông M, 60 tuổi, biểu hiện đau cách hồi các cơ ở 2 tay và phần trên cơ thể từ 5 tháng. Ông cũng phàn nàn có mệt mỏi mức độ nhẹ và sút 2,5 kg. Đau có tính chất di chuyển, tǎng lên khi vận động. Ông là giáo viên, có cuộc sống gia đình hòa thuận và không có các stress có ý nghĩa. Khám nghiệm lâm sàng bình thường và điều trị bằng thuốc giảm đau chống viêm không steroid không có kết quả. Các xét nghiệm công thức máu, máu lắng bình thường. Phim X-quang khớp vai và cột sống chỉ cho thấy những biến đổi do thoái khớp phù hợp với độ tuổi của ông.

Do tính chất kéo dài của các cơn đau vẫn không giải thích được nên bước tiếp theo nhằm loại trừ một bệnh lý chuyển hóa của xương được tiến hành. Calci-máu, phospho-máu và phosphatase kiềm được thǎm dò. Các kết quả này bình thường trừ calci-máu có tǎng nhẹ ở mức 10,9mg/100ml (giới hạn trên của bình thường là 10,5) 2 lần xét nghiệm thêm về calci-máu đều tǎng nhẹ; vì vậy nồng độ hormon cận giáp đã được xét nghiệm và kết quả bình thường. Sau đó, ông M được gửi đến bác sĩ chuyên khoa khớp, cũng không tìm được bằng chứng bệnh khớp nhưng đã cho xét nghiệm lại hormon cận giáp và đã phát hiện thấy là có tǎng. Sau đó, bệnh nhân đã được tìm thấy u tuyến cận giáp và các triệu chứng đã giảm đi sau khì bệnh nhân được phẫu thuật cắt u.

Bàn luận

Thường phải làm lại nhiều lần các xét nghiệm vì có sự thay đổi trong ngày và bệnh lý về nồng độ của các hom lon, các chất khoáng và các sản phẩm chuyển hóa trong máu. Người ta càng ngày càng thấy rằng cường giáp và cường cận giáp mức độ nhẹ hoặc dưới mức lâm sàng là tương đối thường gặp và có thể biểu hiện với các triệu chứng cơ-xương.

Trường hợp 4: Tai nạn xe máy

Bà S, 35 tuổi, đến phòng mạch phàn nàn vì bị đau và co cứng khớp vai, háng, vùng thắt lưng và khớp gối trong 6 tháng sau một tai nạn xe máy. Các triệu chứng của bà tǎng lên khi trời lạnh ẩm và khi bị stress. Bà đang chuẩn bị lễ cưới. Bà còn nói có cảm giác hụt hơi, lo lắng và cǎng thẳng ban ngày và mất ngủ ban đêm. Khám lâm sàng thấy bình thường ở các phần mềm ở cổ, vai, và khối cơ cạnh cột sống. Các vùng quanh mào chậu và giữa khớp gối của bà cũng mềm. Xét nghiệm công thức máu và tốc độ máu lắng bình thường.

Bàn luận

Bệnh nhân này bị hội chứng Đau xơ cơ, có tỷ lệ mắc 19% ở người lớn. Biểu hiện đặc trưng của bệnh gồm đau nhức hoặc cứng cơ xuất hiện ở ít nhất 3 nhóm cơ và kéo dài ít nhất 3 tháng. "Điểm phát động" đau được tìm thấy đặc trưng ở một hoặc một số các vị trí sau đây: vùng liên bả, vùng trên cơ thang, vùng mông, khớp sụn sườn trước, khớp khuỷu bên, vùng giữa khớp gối . Những rối loạn tâm trạng và rối

loạn giấc ngủ ở giai đoạn không có chuyển động nhanh của nhãn cầu (non-rem sleep) cũng phổ biến trong hội chứng đau xơ cơ. Sự điều trị bao gồm việc giải thích, trấn an cho bệnh nhân rằng tình trạng này không phải là vấn đề nghiêm trọng và sẽ cải thiện, các hoạt động cần giữ ở mức độ trung bình. Điều trị chứng rối loạn giấc ngủ bằng các thuốc chống trầm cảm, vì người ta cho rằng cơ sẽ được thư giãn trong khi ngủ ở hội chứng này. Sau 4 tháng điều trị, các triệu chứng bệnh của bà S đã hết.

Trong trường hợp của bà S, chẩn đoán phân biệt có thể bao gồm cả trầm cảm, nhưng các phát hiện lâm sàng cho thấy có nhiều điểm phát động ở phần mềm với chấn thương đã biết từ trước chỉ ra đó là hội chứng đau xơ cơ.

Trường hợp 5: chuột rút ở chân

Bà McG, 70 tuổi, đến phòng mạch vì bị những cơn đau ở chân vào ban đêm xuất hiện ở cẳng chân và bàn chân từ 6 tháng nay. Đôi khi đau chỉ ở mức nhẹ, nhưng có lúc đau trở nên dữ dội . Khám lâm sàng hoàn toàn bình thường. Kết quả các xét nghiệm, bao gồm tốc độ máu lắng, calci huyết thanh đều bình thường.

Bàn luận

Người phụ nữ này bị chứng chuột rút ở chân vào ban đêm, một chứng bệnh phổ biến mà nguyên nhân chưa rõ. Bệnh xảy ra vào ban đêm và thường gặp ở người già. Suy tim ứ huyết là một yếu tố thuận lợi. Điều trị bao gồm xoa bóp, gấp mu chân trong cơn chuột rút. Biện pháp phòng ngừa bắt buộc là phải nằm trên giường phẳng, hoặc kê gối dưới chân, nằm sấp, tập trước khi đi ngủ bằng cách duỗi các cơ cẳng chân (nghiêng về phía tường với bàn chân cách tường khoảng 30 cm có kết quả tốt),và đi giầy vừa chân. Qui nin 200 hoặc 300 mg (cả 2 liều đều có thể mua không cần đơn), hoặc quinin sulphate 260 mg (phải theo đơn). Không nên nhầm tình trạng này với hội chứng đau cẳng chân khi bất động, một bệnh lý về thần kinh bao gồm có các cảm giác giật hoặc kiến bò ở 2 chân kèm theo tình trạng không kiểm soát được các cử động ở chân, và có đáp ứng với benzodiazepin (ví dụ Clonazepam).

ĐIÊU TRị

Hầu hết các bệnh nhân với các triệu chứng của bệnh thấp có thể được các bác sĩ đa khoa điều trị tốt. Các bệnh nhân mắc bệnh thấp mạn tính có bị hạn chế vận động sẽ có thể rất khó điều trị, đặc biệt là vấn đề điều trị chức nǎng, chế độ thuốc men và các can thiệp ngoại khoa. Những bệnh nhân này cùng với những trường hợp khác đều gặp khó khǎn trong thời gian dài về chẩn đoán và thường được chuyển tới các bác sĩ chuyên khoa khớp nhằm để tham vấn hoặc cùng chǎm sóc.

Những trường hợp cần có sự tham vấn hoặc chuyển đi bao gồm: (a) chẩn đoán không rõ ràng; (b) cần thiết thǎm khám chuyên khoa (ví dụ sinh thiết bao hoạt dịch), (c) có những triệu chứng kéo dài và nặng; (d) hạn chế vận động hoặc diễn biến xấu đi nhanh, (e) đề nghị có các biện pháp điều trị có nguy cơ cao như muối vàng hoặc cyclophosphamid.