Sách » Y Học - Sức Khỏe » Y học gia đình

Chương 35: Quản lý trọng lượng và bệnh béo phì

Chương 35: quản lý trọng lượng và bệnh béo phì

Paul F. Dunn và Michele Marshall Tuttle

Trên 34 triệu người Mĩ bị bệnh béo phì, bệnh thường tác hại về y học và tâm lý. Để nhận biết nó không khó. Việc điều trị bệnh phần lớn dựa trên hành vi và được xử lý tốt nhất trong khung cảnh gia đình bệnh nhân và môi trường. Chương này giới thiệu các kiến thức và kỹ nǎng cơ bản cần thiết cho việc triển khai cách tiếp cận có hiệu quả với những bệnh nhân béo phì gặp trong cơ sở khám bệnh gia đình.

DịCH Tễ HọC

Cuộc điều tra về khảo sát Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia từ 1976 đến 1980 (NHANES II) đã định nghĩa "quá nặng" (over weight) nếu chỉ số khối lượng cơ thể (xem hình 35.1) bằng 27.8 và quá nặng nghiêm trọng nếu điểm chỉ số vượt 31.1. Đối với nữ điểm cắt ngưỡng tương ứng là 27.3 và 32.3. Các hạng quá nặng tương đương với khoảng 20% và 40% trên điểm giữa các thang cao/cân nặng trong các bảng của Bảo hiểm Nhân thọ Đô thị (Metropolitan Life insurance) 1983. Theo NHANES II, 34 triệu người Mỹ đã trở thành quá nặng trên 20%. Trong nhóm này có 12,4 triệu quá nặng trên 40%.

Hình 35.1. Chỉ số khối cơ thể P.P.Box 10622, Portland OR 97210. In lại với sự cho phép của Viện Sức khỏe Portland, các bản sao đơn chiếc khổ 8 1/2x11 inch sẽ được gửi miễn phí đến các cán bộ y tế và những người khác quan tâm khi nhận được 1 phong bì đã in sẵn địa chỉ và đã dán tem.

Các nguy cơ chủ yếu đến sức khỏe, cả về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, tương quan cao với tǎng chỉ số khối cơ thể. Theo ban điều tra của các viện y tế quốc gia, trọng lượng cơ thể 20% hay nhiều hơn trên mức mong muốn tạo ra một nguy cơ sức khỏe rõ rệt. Các nguy cơ quan trọng nhất của béo phì là:

  • Giá trị trung bình của huyết áp tǎng, với tỷ lệ mắc cao huyết áp tǎng
  • Cholesterol huyết thanh tǎng
  • Tỷ lệ mắc bệnh đái đường tǎng
  • Tǎng nguy cơ bệnh tim độc lập với nguy cơ bổ sung do sự gia tǎng của các yếu tố nguy cơ khác
  • Tǎng tỷ lệ ung thư đại tràng, trực tràng và tuyến tiền liệt ở nam giới.
  • Tǎng tỷ lệ ung thư túi mật, vú, tử cung, buồng trứng ở nữ giới.
  • Tǎng tỷ lệ tử vong, đặc biệt ở những cá thể cực kỳ béo phì.

Bảng 35.1 tóm tắt các dữ liệu đã biết về nhiều hậu quả sức khỏe kể trên. Hàng loạt các nguy cơ khác có thể góp phần vào tỷ lệ mắc bệnh trong đời sống trưởng thành được trình bày trong bảng 35.2.

Bảng 35.1. Các nguy cơ được định lượng theo các công trình nghiên cứu 12 nǎm (1959-1972) của Hội Ung thư Mỹ (ACS) và của NHANES II (1976-1980)

Nghiên cứu

Bệnh

Tuổi

Nguy cơ của người béo phì so với người không béo phì

Nguy cơ tương đối

NHANES II

Cao HA (160/95)

20-44

BMI > 27,8 nam; 27,3 nữ

5,6 x

NHANES II

Cholesterol cao (>250mg/dl)

45-74

BMI>27,8 nam; 27,3 nữ

11,2 x

ACS

Đái tháo đường

20-29

BMI>27,8 nam; 27,3 nữ

2,1 x

ACS

Bệnh mạch vành

Không đặc hiệu

BMI>31,1 nam; 32,3 nữ

5,19 x nam

7,09 x nữ

ACS

Các bệnh tiêu hóa

 

BMI>31,1 nam; 32,3 nữ

1,95 x nam

2,07 x nữ

Lavecchia và cộng sự

Ung thư nội mạc tử cung

 

BMI>31,1 nam; 32,3 nữ

3,99 x nam

2,29 x nữ

Friedman và cộng sự

Bệnh túi mật

 

+ 101b quá nặng

+201b quá nặng

BMI>27,3 nữ

6,69 x

7,20 x

2,0 x

Biên tập từ Barrett. Conner EL…

Bảng 35.2. Tỷ lệ mắc bệnh không định lượng, theo công trình nghiên cứu tương quan với chỉ số cơ thể quá cao

Nữ

Nam

Cả hai giới

- Ra kinh nhiều

- Kinh nguyệt không đều

- Nhiều lông mặt

- Kéo dài thời gian các chu kỳ (> 36 ngày)

- Hội chứng buồng trứng đa nang

- Thiểu hoặc vô kinh

- Chuyển dạ kéo dài khi sinh con.

Bị mổ đẻ nhiều hơn

- Testosterone huyết thanh giảm

- Tǎng estron và estradiol

- Tǎng viêm xương khớp của các khớp chịu trọng lượng.

- Nhiều viêm khớp do gút

- Bệnh ngoài da

- Protein niệu

- Tǎng Hemoglobin

- Gan nhiễm mỡ

- Giảm FEV1

Trích từ : Bray GA…

Các hậu quả tâm lý của béo phì rất rộng. Trong xã hội có xu hướng người thanh mảnh như hiện nay, các cá thể béo phì phải chạm trán thường xuyên với sự "thất bại" của họ để phù hợp với các chuẩn được thừa nhận của sức khỏe và vẻ đẹp. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng người "béo" bị từ chối các cơ hội tuyển đụng, thǎng tiến và nhập học. Họ thường bị thử thách nhiều hơn trong quyền được nhận con nuôi. Các cảm giác tiêu cực thường thịnh hành trong công chúng, nhân viên xã hội, giới chủ, các quan chức tuyển sinh, y tá và thầy thuốc. Hậu quả là người béo thường cảm thấy không hiệu quả, không thành công, và không hạnh phúc.

BệNH CǍN CủA BéO PHì

Nguyên nhân của béo phì là đa yếu tố và chưa được hiểu đầy đủ. Các lý thuyết hiện hành dựa trên nhận xét sinh lý học về béo phì và có thể đánh giá các rào cản mà bệnh nhân phải vượt qua để giảm cân và giữ ở mức gầy.

Một số điểm quan tâm từ các lý thuyết hiện hành là:

Béo phì có thể sinh ra từ người có nhiều tế bào mỡ (béo phì quá sản) hay có các tế bào mỡ to bất thường (béo phì phì đại). Chỉ số khối cơ thể (BMI) cho chiều cao và cân nặng đặc hiệu đi chân không và không mặc quần áo (BMI = cân nặng/(chiều cao(m))21985 Viện sức khỏe Portland-5775 SW Macadam Avenue-portland OR 97201 (503) 2422-0500.

Chỉ số khối cơ thể với chiều cao và cân nặng đặc hiệu, đi chân không và không mặc quần áo.

Béo phì ở trẻ nhỏ ngả về phía tǎng sản và những tế bào mỡ dư thừa đó làm khó giữ gầy ở những nǎm sau.

- Cân nặng có thể có 1 "điểm mốc" sinh lý tới đó các cá thể sẽ lên cân nếu ǎn không hạn chế. Những người béo phì làm giảm cân thành công có thể có 1 điểm mốc cao hơn bình thường. Vậy họ phải liên tục hạn chế khẩu phần để giữ gầy.

- Tốc độ chuyển hóa thay đổi tuỳ người. Người gầy có tốc độ chuyển hóa cao hơn, tỏa nhiều calo qua mất nhiệt so với người béo. Điều này giải thích tại sao người béo thường ǎn không nhiều bằng người gầy.

- Chế độ ǎn (ǎn kiêng) có thể làm chuyển hóa của cơ thể chậm lại. Tốc độ chuyển hóa chậm này duy trì cả sau khi chế độ ǎn kiêng chấm dứt. Vì lý do này, các chế độ ǎn kiêng lặp lại sau mỗi lần ǎn nhiều trở lại thường dẫn đến tǎng cân.

- Các kiểu hình thu nhập thức ǎn cũng quan trọng. Nhiều người béo chỉ ǎn một hay hai bữa một ngày, tình trạng này khuyến khích cơ thể tích trữ mỡ. Ngược lại các người dây hưởng tới các bữa ǎn ít lần nhưng ǎn nhiều hơn, cả 2 làm thuận lợi cho vận động và giảm ứ đọng mỡ.

Điều kiện kinh tế xã hội rõ ràng là có liên quan đến béo phì. Điều kiện càng thấp tỷ lệ mắc béo phì càng nhiều. Hoa Kỳ, những người da đen, người gốc Tây Ban Nha và người da đỏ về mặt thống kê ở điều kiện kinh tế xã hội thấp hơn người da trắng. Các yếu tố gia đình và vǎn hóa là hết sức quan trọng và có thể làm nền cho nhiều dữ liệu dịch tễ học về béo phì. Béo phì rõ ràng là có một sự nổi trội theo gia đình, một số do di truyền nhưng phần nhiều là do môi trường. Các gia đình có con béo thường hay dùng thức ǎn để khen thưởng hơn các gia đình khác và các bậc cha mẹ thường dùng cách ǎn để phản ứng các vấn đề cảm xúc càng làm gương cho con cái kiểu hành vi này. Khi hỏi 55 ông chồng là có muốn vợ mình giảm trọng lượng không 91 % trả lời là có, chỉ có 49% nói họ tự nguyện giúp đỡ, tuy nhiên nhiều ông chồng đã chịu trước những tác động hôn nhân bất lợi. 53% các ông chồng sợ ǎn chung sẽ không còn là hoạt động chung nữa, 49% sợ họ mất quyền lực trong các xung đột vợ chồng nếu vợ họ giảm trọng lượng và 31% sợ vợ họ sẽ lỏng lẻo trong các ràng buộc gia đình hoặc có thể không còn trung thành về mặt tình dục. Các cuộc đàm thoại được ghi lại trong bữa ǎn cho thấy các ông chồng có vợ béo 7 lần nói về thức ǎn nhiều hơn, 4 lần lấy thức ǎn cho vợ, 12 lần phê bình vợ nhiều hơn là khen ngợi vì những nỗ lực của vợ.

Nếu như vǎn hóa có thể định nghĩa là sự chuyển giao của những giá trị và cách ứng xử học được từ thế hệ này sang thế hệ khác thì các hành vi và ứng xử liên quan đến bệnh béo phì là 1 phản ảnh của vǎn hóa. Vì vậy, giá trị vǎn hóa thống trị ở Mỹ cho rằng thanh mảnh là tốt và béo phì là xấu, một số cá thể béo vẫn có thể phù hợp với 1 nhóm vǎn hóa ở đó cho rằng phát phì là tốt. ý kiến béo phì là kết quả của nuôi dưỡng kém là 1 quan niệm của phương Tây. Phát phì được xem bởi một số người là có thực phẩm tha hồ dùng. Các bà nội, bà ngoại béo được xem như "bệ vệ". Những cá thể như thế làm mất nhuệ khí vǎn hóa của việc giảm trọng lượng.

Vì vậy bệnh cǎn của béo phì thường là phức tạp. Đúng là béo phì chung phát triển do thu nhập calo vượt quá mức tiêu thụ calo. Ngoại ra, những ai muốn điều trị bệnh nhân béo phì cần nhận thức được các cơ chế sinh lý học cơ sở của vấn đề và các yếu tố gia đình và vǎn hóa đóng góp vào sự phát triển của bệnh béo phì.

XáC địNH KHI MộT BệNH NHÂN BéO PHì

Tài liệu tham chiếu thông dụng nhất mà các thầy thuốc thực hành dùng trong định nghĩa béo phì là các bảng tử vong của Bảo hiểm Nhân thọ Đô thị. Những bảng nay có vài mâu thuẫn, phân biệt theo các cá thể bảo hiểm (và như vậy còn đang nghi ngờ về tính khái quát) và không tính được theo tuổi. Chuẩn thứ hai, chỉ số khối cơ thể đã được dùng trong các nghiên cứu NHANES, là bảng tham chiếu dịch tế học được dùng phổ biến nhất.

Tuy nhiên, tại thực hành phòng khám bệnh 2 phương pháp khác tỏ ra đặc biệt ích lợi. Một phương pháp là để ước tính trọng lượng cơ thể lý tưởng theo các công thức đơn giản sau đây:

Nam: 48kg/152cm + 2,72kg/2,54cm trên 152cm ? 10%

Nữ: 45kg/152cm + 2,26kg/2,54cm trên 152cm ? 10%

Phương pháp khác có thể là chính xác nhất đo mức độ béo bệu (không có phép đo tinh vi phòng thí nghiệm) là đo độ dày lớp mỡ dưới da. Những phép đo này được thực hiện bằng cách dùng thước đo caliper được thiết kế đặc hiệu cho việc đo mỡ cơ thể. Bằng cách đo độ dày lớp mỡ dưới da ở các điểm giải phẫu xác định trước, người khám có thể ước tính tổng số mô mỡ so với khối gầy cơ thể (nghĩa là số phần trǎm mỡ của cơ thể).

Độ dày lớp mỡ dưới da rất có ích trong tư vấn dài hạn để giảm trọng, vì nó đo trực tiếp tổ chức mỡ. Trong khi hàm lượng mỡ của toàn cơ thể là quan trọng, bằng chứng mới chỉ ra rằng sự phân bố mỡ cơ thể có tính dự báo hơn các nguy cơ sức khỏe. Béo phì ở các vùng bụng mang nguy cơ lớn nhất. Phân bố mỡ ở háng và ngoại vi chủ yếu nhất là ở nữ, không gắn liền với tỷ lệ tử vong tǎng lên.

nam tỷ số eo/háng (vòng đo vòng eo lưng chia cho vòng đo của đùi) là 1 yếu tố nguy cơ cho bệnh thiếu máu tim, đái tháo đường và chết. Tỷ số này độc lập với khối mỡ toàn cơ thể.

nam, nguy cơ của các bệnh trên tǎng lên có ý nghĩa (thống kê) khi tỷ số eo/háng tǎng lên trên 1:1 và ở nữ tǎng lên 0,8:1. Hiện nay có nguy cơ cao hơn đối với nam có độ béo phì chung thấp (theo chỉ số khối cơ thể) và tỷ số eo/háng cao.

GIảI PHáP QUảN Lý

Dù ta định nghĩa béo phì là một bệnh hay không, nó vẫn dẫn đến các biến chứng y học và giảm cân vẫn đưa lại các dẫn liệu lâm sàng thuận lợi. Là một thầy thuốc gia đình điều trị bệnh nhân béo phì bạn cần biết rằng một số bước phải được thực hiện để giúp bệnh nhân giảm cân. Trước tiên là bệnh nhân phải quan tâm đến việc giảm cân. Thứ hai là giáo dục sức khỏe về các hậu quả y học của béo phì và thông tin dinh dưỡng đặc hiệu là quan trọng. Thứ ba là thầy thuốc gia đình cần phải làm việc với bệnh nhân để xác định các mục đích chính và phụ có tính chất hiện thực. Khi có thể, các thành viên gia đình cần tham gia vào kế hoạch điều trị và họ phải là một nguồn củng cố tích cực.

Cuối cùng, người thầy thuốc gia đình cần dành sự ủng hộ và củng cố tích cực liên tục trong suốt quá trình giảm cân. Thầy thuốc gia đình cần được biết các biện pháp khác nhau để quản lý. Nhiều biện pháp có thể và cần được dùng một cách phối hợp và thay đổi phong cách sống lâu dài phải là mục đích cuối cùng của quản lý. Mục đích của anh là phải xây dựng cho được một chương trình mà bệnh nhân có thể làm và tin tưởng. Nói chung, một chương trình như thế được xây dựng trên các kinh nghiệm dương tính mà bệnh nhân đã có với các nỗ lực giảm cân trước đó. Triển khai 1 chương trình như thế đòi hỏi phải biết tiền sử giảm cân của bệnh nhân, gia đình, tình trạng nghề nghiệp và kiểu ǎn uống của bệnh nhân.

Thuyết tự hiệu quả

Thuyết của Albert Badura về tự hiệu quả là mô hình làm việc đặc biệt thích hợp cho quản lý các bệnh nhân béo phì. Nói vǎn tắt, thuyết tự hiệu quả nói rằng mọi người được thúc đầy để gắn với 1 phong cách sống mới (đi bộ, thay đổi chế độ ǎn v.v...) nếu:

- Họ tin rằng họ có thể làm điều mà họ được yêu cầu làm

- Họ tin rằng điều mà họ được yêu cầu làm thực sự tạo ra sự khác biệt có thể mong đợi.

Nếu bạn thiết kế kế hoạch một cách có hệ thống cho bệnh nhân của bạn gồm luyện tập, thay đổi chế độ ǎn và thảo luận thường xuyên về stress hãy hỏi bệnh nhân 2 câu hỏi trên. Nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ 1 là không, chương trình mà bạn đề nghị là không hiện thực. Nếu bệnh nhân có thể theo chương trình mà không tin là thay được cân nặng thì bạn cần phải tìm hiểu và vượt qua những điều tin này. Nếu bạn không hỏi những câu hỏi này trước, nỗ lực của bạn thường là vô ích. Phải chắc chắn là cả bạn và bệnh nhân đều hòa hợp với cả 2 nội dung của chương trình và tin vào sản phẩm cuối cùng.

Hình 35.2. Các câu hỏi để hỏi từng lần thǎm bệnh khởi đầu cho tư vấn giảm cân nặng

Các quan niệm về chế độ ǎn

1. Ai đã gợi ý tư vấn khẩu phần? Anh có thực sự muốn giảm cân nặng không?

2. Anh cho rằng điều gì là "sai" trong khẩu phần và lối sống hiện nay của anh?

3. Các thực phẩm nào anh cho là đã có ảnh hưởng nhất đối với cân nặng của anh?

4. Nếu anh cố gắng làm giảm cân, anh nghĩ rằng điều gì sẽ xảy ra?

Các thói quen ǎn uống

5. Anh đã tǎng bao nhiều kg trong 6 tháng vừa qua? Tại sao?

6. Anh thường ǎn bao nhiêu "thức ǎn nhanh"?

7. Anh xem ti vi có nhiều không? Anh có ǎn trong khi xem không?

8. (Nếu bệnh nhân nấu cho cả gia đình) : gia đình anh có mong anh nấu theo kiểu nghèo (nǎng lượng) để tiết chế?

9. Có bao giờ anh ǎn để làm dịu một "dạ dày cồn cào"? Thực phẩm có giúp được không (đây có thể là biểu hiện bệnh dạ dày hay thoả mãn một nhu cầu tâm lý)

Những nỗ lực tiết chế trước đây

10. Anh đã "quá nặng" từ bao lâu (tính bằng tháng hoặc nǎm)?

11. Anh đã theo tiết chế bao nhiêu lần

12. Những nỗ lực kiểm soát cân nặng trước đây được làm một mình hay theo một chương trình công cộng (thí dụ Weight Watchers, TOPS, Nutri-System)?

13. Những nỗ lực tiết chế trước đây có làm giảm cân không? Bao nhiêu kg? Cân nặng mong muốn có đạt được không?

14. Anh có tập thể dục trong chương trình tiết chế không?

15. Tình trạng cǎng thẳng trong gia đình có tǎng lên trong chương trình kiểm soát cân nặng không? Tại sao?

16. Phần nào là tồi tệ nhất trong tiết chế?

17. Điều gì làm anh ngừng chương trình?

Các yếu tố có thể giúp hoặc cản trở chương trình giảm cân nặng

18. Anh ở cùng với ai? Ai là người thân thiết nhất với anh? Anh có nghĩ là những người này sẽ ủng hộ anh trong 1 chương trình giảm cân nặng không?

19. Những thú riêng mà anh có? (bệnh nhân tĩnh tại ở mức nào?)

20. Một số người nói vợ hoặc chồng họ thực sự không muốn họ giảm cân. Điều này có đúng với anh

không?

Thǎm lần đầu: xác định và thỏa thuận các mục đích ban đầu

Cuộc thǎm khám khởi đầu là rất quan trọng cho cả bệnh nhân và người cung cấp dịch vụ. Nhiều bệnh nhân muốn giảm trọng lượng đã trải qua một hay nhiều chương trình trước đó. Đa số kể lại trước đây họ đã bắt đầu như thế nào, họ có đạt được trọng lượng mong muốn hay không, các kinh nghiệm thất bại và lúng túng và tại sao họ bỏ. 80% đã lấy lại trọng lượng ban đầu hoặc nhiều hơn nữa. Nhiều người thất vọng và có cảm giác uổng công. Sự kiện họ có mặt ở phòng khám của bạn là 1 dịp để thúc đẩy lòng tự tin bằng cách nói điều hiển nhiên. Một phần công việc của bạn là lam bệnh nhân quan tâm bằng cách trình bày rõ chương trình và cho phép bệnh nhân được chọn có bắt đầu hay không. Luôn cho bệnh nhân sự giúp đỡ khi bạn có thể, bất kể điều mà bạn cảm thấy là nhỏ nhặt đến mấy.

Bảng liệt kê các câu hỏi quan trọng của lần khám đầu tiên được trình bày trong hình 35.2. Những câu hỏi này giúp bạn biết về các niềm tin, điều quan tâm, thói quen ǎn uống và lịch sử giảm cân trước đây của bệnh nhân. Thường thường các bệnh nhân biết vấn đề nằm ở đâu và cần sự giúp đỡ của bạn với những vấn đề đó ở những lần khác, bệnh nhân có những quan niệm sai quan trong (thí dụ bệnh nhân thường nói rằng glucid đã làm họ béo, trong khi ǎn mỡ chính là vấn đề). Khi anh hỏi những câu hỏi này và những câu tương tự hãy cố gắng tìm hiểu xem đến mức độ nào bệnh nhân được thúc đẩy làm giảm cân và tại sao. Thêm nữa hãy cố gắng khuyến khích các thái độ có lợi cho chương trình giảm cân nặng.

XáC ĐịNH MụC ĐíCH Và HợP ĐồNG

Một bước đầu quan trọng cho cả bạn và bệnh nhân là lập một bản sao hợp đồng. Bản hợp đồng thường như sau:

"Tôi (Tên bệnh nhân) đồng ý tham gia bản hợp đồng này với sự hiểu biết rằng bác sĩ (tên thầy thuốc) sẽ cung cấp: (a) Thông tin để giúp thay đổi chế độ ǎn, luyện tập và mọi thứ khác đòi hỏi để làm mọi việc quanh vấn đề này và (b) Giúp đỡ liên tục mà không phán xét bất kỳ nỗ lực nào tôi làm. Điều này với nhận thức rằng giảm cân nặng là 1 công việc phức tạp và khó khǎn đáng sợ nó đòi hỏi sự ủng hộ. Tôi cũng đồng ý làm mọi điều để theo lời khuyên dành cho tôi và để bác sĩ biết một khi có điều gì tôi cảm thấy không làm được hoặc khi thông tin hoặc sự giúp đỡ thêm là cần thiết đối với tôi".

Theo kinh nghiệm của chúng tôi thì điều mọi người đòi hỏi là giảm cân nặng. Họ phải được thuyết phục rằng cái mà họ thực sự cần là cảm thấy dễ chịu, vận động dễ dàng hơn, và có được một cảm giác được cải thiện của sự thoải mái. Nghĩa là các mục đích của họ cần phải dựa trên cảm giác và phải được tái tǎng cường (thí dụ "tôi muốn anh có nhiều nghị lực hơn lúc 7 giờ tối, ngồi sau tay lái chiếc xe của anh dễ dàng hơn, trở nên ít cáu kỉnh, nhìn vào gương và có thể tự nói với mình rằng anh đang làm để có vẻ và cảm thấy là khoẻ hơn v.v...)

Hãy để bệnh nhân xác định một mục đích cụ thể trong lần thǎm bệnh đầu tiên. Nếu mục đích được nói ra là không hiện thực hãy giúp bệnh nhân điều chỉnh lại thành 1 mục đích hiện thực. Thí dụ "tôi sẽ đì bộ 15 phút 3 lần mỗi tuần sau bữa tối vào các ngày thứ hai, thứ tư và thứ bảy" là hiện thực hơn "tôi sẽ đi bộ 2 dặm mỗi ngày" nếu bệnh nhân không đang luyện tập thường xuyên. Tương tự "tôi sẽ hướng về tiết chế Coke và chỉ uống nó với các bữa ǎn" có thể hiện thực hơn là tôi không uống bất kỳ một thứ nước ngọt nào". Hãy thật chuyên biệt và buộc chặt nó với các sự kiện hàng ngày như các bữa ǎn. Cuối buổi khám hãy yêu cầu bệnh nhân quay trở lại sau 1 tuần với 3 mục đích bổ sung được viết ra.

Lịch thực phẩm 3 ngày sắp tới

Một lịch sử thu nhập thực phẩm, trong đó tất cả thức ǎn và đồ uống (kể cả các thức nhỏ như các giọt thuốc ho) đều được ghi lại là quan trọng để yên kế hoạch quản lý. Trong giai đoạn này nhiều thầy thuốc giới thiệu một nhà dinh dưỡng có đǎng ký hoặc một thầy thuốc thực hành khác có chuyên môn về tư vấn chế độ ǎn (tiết chế). Điều này là rất đáng mong muốn nhưng không phải lúc nào cũng tuyệt đối cần. Sự phân tích lịch thực phẩm 3 ngày (ở lần khám thứ 2) có thể được thực hiện bởi thầy thuốc có hiểu biết cơ sở về các nhóm thực phẩm, hàm lượng calo và các bảng chuyển đổi. Các lần khám tiếp sau thường do các thành viên khác của ê kíp. Hình 35.3 cung cấp 1 mẫu lịch thực phẩm 3 ngày.

Hình 35.3. Mẫu lịch thực phẩm đơn giản

Lịch thực phẩm

Tên:…………………………………………………...

Ngày:…………………thứ trong tuần………………..

Thời gian ǎn chính xác

Số lượng

Tên thức ǎn

Bình luận

Lần khám thứ hai : triển khai một kế hoạch giảm cân nặng

lần thǎm bệnh thứ hai, 3 vấn đề then chốt được thảo luận hoặc đánh giá, nhắc lại kiến thức (có thể là 1 chỉ dẫn về hiểu biết), sự phấn khởi về động cơ và hch thực phẩm 3 ngày. Các hàng rào tiềm ẩn được thảo luận bằng cách tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau đây:

Hình 35.5 Mười quy tắc để sự ǎn kiêng thành công

1. Anh còn nhớ những gì từ lần gặp vừa qua? Anh có thấy lần thǎm bệnh vừa qua là có ích không? Điều gì là có ích? Điều gì là không có ích?

2. Anh có thảo luận về lần thǎm bệnh vừa qua với một ai khác ở nhà không? Anh có tìm

1 Tập trung vào chất bột, rau, trái cây (không dùng mỡ hoặc chất ngọt) để làm thức ǎn.

2. Biến đổi trước khi loại trừ các thực phẩm. Giảm từ 2 thìa xuống 1 thìa margarin thì dễ hơn là kiêng hoàn toàn.

3. ǎn 3 bữa mỗi ngày. Chỉ bỏ bữa để giảm calo nếu như hôm trước ǎn quá nhiều (thường là thức ǎn nhiều mỡ và đường đơn)

4. Nếu anh ǎn chất ngọt đơn hoặc mỡ, hãy luôn luôn ǎn ít hơn bình thường và ǎn chúng như một phần của bữa ǎn lớn không ǎn giữa hai bữa.

5. Luôn cố gắng ǎn các thức ǎn xơ hòa tan (như đậu xanh quả, đậu hạt các loài) trong bữa ǎn đặc biệt khi có đường và mỡ trong bữa ǎn. Những xơ sợi này làm chậm quá trình hấp thụ mỡ và đường và tránh dược hiệu ứng tàu lǎn của chất ngọt lần cảm xúc của anh.

6. Luôn đi bộ sau bữa ǎn. Đây là thời gian tồi tệ nhất để xem ti vi hay đi ngủ, vì thức ǎn sẽ chuyên vào dự trữ hơn là dùng dưới dạng nǎng lượng.

7. Hãy làm từng thay đổi và giữ cho đến khi nó đã nằm dưới tầm kiểm soát mới làm thay đổi khác.

8. Hãy soi gương vào mỗi buổi sáng và tự nói với mình là mình khoẻ hơn và cảm thấy dễ chịu hơn ngày hôm qua và anh thấy hãnh diện về nỗ lực anh làm.

9. Hãy luôn nói thành thật với bác sĩ và nhà tiết chế của anh. Thật là vô nghĩa nếu làm mất thì giờ của anh cũng như của họ.

10 Khi anh gặp phải những vấn dề hãy viết lại rõ ràng và mang theo trong buổi khám bệnh tới để thảo luận. Đó là cách để có được tiến bộ. Bác sĩ của anh luôn luôn sẵn sang ký một hợp đồng với anh cam kết giúp đỡ anh. Hãy chờ đợi điều đó.

được người nào ủng hộ các nỗ lực của anh không?

3. Anh có mang theo 3 mục đích bổ sung không? (Xem lại chúng)

4. Anh có mang theo hôm nay 1 lịch thực phẩm 3 ngày?

Việc phân tích lịch thực phẩm là 1 nhiệm vụ đơn giản nếu bạn dùng tờ "phân tích tháp thực phẩm" (Hình 35.4). Mục đính của tháp là phân hạng thực phẩm và chỉ ra bằng đồ thị cho bệnh nhân ǎn như thế nào. Nó cũng giúp họ có khả nǎng theo những thay đổi qua thời gian khi thực hiện lặp lại. Quá trình mất khoảng 5 phút và nhanh hơn khi anh đã quen dùng nó.

Bảng 35.4. Tháp phân tích thức ǎn hàng ngày

Hãy ǎn từ đáy của tháp. 50-60% calo phải là từ chất bột. Đánh 1 dấu (chỉ dùng 1 lần) cạnh mỗi hạng thực phẩm của anh. Chất bột =4 calo, mỡ = 9 calo. Anh có thay đổi qua thời gian không. Hãy xem các tháp cũ của anh.

Dùng tháp thực phẩm như thế nào? Đánh dấu vào nhóm thực phẩm mà bệnh nhân đã viết ra (thí dụ 1 lát bánh mì là 1 dấu gần chất bột (bánh mì). Một lát bánh bột có phó mát có thể được ghi là 1 chất bột (bánh mì), 1 thịt hoặc chế phẩm sữa (phó mát), 1 hoặc 2 mỡ (cũng cho phó mát) và 1/2 rau (cho xốt cà chua). Hãy nhớ là tháp thực phẩm chỉ là 1 sự ước lượng không cho ta số calo. Nó cho biết sự cân bằng và các nguồn cung cấp calo. Như phần ghi ở dưới đáy chỉ rõ, số calo cao nhất là ở mỡ và rượu. Nếu tổng số các dấu ghi là ở phần cao của tháp thì có nghĩa là phần lớn calo là từ các nguồn không thích hợp.

Sau khi phân tích thực phẩm xong hãy hướng cho bệnh nhân ǎn nhiều các chất từ đáy tháp. Chất bột, trái cây và rau (trái với niềm tin thông thường) không có calo cao và sẽ không tham gia vào cân nặng cơ thể nhiều như một số chất ở đỉnh tháp.

Làm một bản sao cho bệnh nhân và 1 bản vào biểu theo dõi. Yêu cầu bệnh nhân làm lại lịch mỗi tháng một lần và xem cân bằng calo có dịch chuyển xuống đáy tháp hay không. Liên tục khuyến khích và giúp làm thay thế (thí dụ ǎn hạt ngô ít mỡ cho 1 lần ǎn nhẹ thay cho NABS hay khoai tây rán) luôn luôn cần thiết cho việc thay đổi hành vi.

Nếu bệnh nhân vẫn giữ cam kết, các cách lựa chọn để thấy rõ giảm cân và chế độ ǎn uống được thảo luận và 1 chương trình cá biệt được thương lượng. Xác lập một cân nặng đích với mục đích là đạt được sau một thời gian vừa mềm dẻo và hiện thực một cách sinh lý. Nhìn chung giảm 0,5-1 kg mỗi tuần trong tháng đầu là 1 mục đích có lý. Sau đó với tập thể dục có điều kiện và vi chỉnh chế độ ǎn có thể nâng mức giảm lên 1 - 1 ,5 kg mỗi tuần.

Chế độ ǎn kiêng

Một nguyên lý cơ bản của chế độ ǎn kiêng là giảm lượng calo ǎn vào và tǎng tiêu hao nǎng lượng, giảm lượng mỡ cơ thể. ít ai tranh luận về điều đó.

Không có một chế độ ǎn điển hình áp dụng cho tất cả các bệnh nhân. Hội chẩn với một nhà dinh dưỡng có đǎng ký là rất có ích để đi tới một kế hoạch tiết chế phù hợp với các ý thích cá nhân của bệnh nhân. Một số chế độ ǎn kiêng chỉ dựa vào số calo ǎn vào, một số khác dựa trên số thay đổi từ mỗi nhóm thực phẩm. Điều quan trong cần hiểu là mọi chế độ ǎn kiêng ngắn hạn đều không hứa hẹn thành công. Bệnh nhân cần được khuyến khích chấp nhận những mẫu hình ǎn uống mà họ cảm thấy thoải mái trong một thời gian dài hơn là những tiết chế đột ngột và ngắn hạn. Trong khi các hướng dẫn thường thay đổi, một số khuyến cáo quan trọng được thâu tóm trong hình 35.3.

cuối buổi khám và trong những lần khám tiếp theo, luôn yêu cầu bệnh nhân hoàn thành lịch thực phẩm 3 ngày tiếp theo và nhớ mang đến thảo luận trong. kỳ khám tới. Luôn xem xét danh mục các vấn đề của bệnh nhân và giúp giải quyết vấn đề. Để bệnh nhân tiếp xúc với một tư van nếu cần, nhưng nhớ duy trì quan hệ tốt. Bệnh nhân thường cần sự ủng hộ của bạn nhiều hơn là các kỹ nǎng chuyên biệt. Họ cần tìm được cả hai từ bạn.

Các chế độ ǎn kiêng kỳ cục và tự nhịn đói

Các chế độ ǎn kiêng kỳ cục cần được loại bỏ vì phần nhiều không cân bằng và không an toàn. Trong khi các chế độ ǎn kiêng kỳ cục có thể làm giảm cân nhanh thì cân nặng lại nhanh chóng phục hồi khi ngừng tiết chế. Nhìn chung lời khuyên tiết chế sẽ hiệu quả hơn nếu bao gồm tất cả các khía cạnh ǎn uống, bao gồm ǎn uống theo thói quen, ǎn để át một nhu cầu cảm xúc chọn các thức ǎn nghèo (nǎng lượng) và lối sống tĩnh tại.

Nhịn đói là chuyện tranh cãi. Nó được dùng bời 1 số người béo phì và kết quả chung là giảm cân nhanh có ý nghĩa. Nhưng cũng như với các chiến lược giảm cân nhanh khác, trọng lượng cũng nhanh lấy lại. Các nguy cơ của nhin đói sau ít ngày bao gồm loạn nhịp tim và đột tử. Nhịn đói dài hạn do đó cần được loại bỏ.

Bởi vì có các nguy cơ gắn liền với nhịn đói, các kiểu ǎn chay cải tiến, tiết kiệm protein bắt đầu trở nên phổ biến. Những kiểu này, nhìn chung an toàn nếu được dùng đúng cách bởi những cá thể được sàng lọc và theo dõi kỹ càng. Bệnh nhân phải ǎn các chất bổ sung gồm protein động vật có giá trị sinh học cao, kali, clorua natri, magnesi, calci, phospho và một lượng các vitamin và muối khoáng hàng ngày theo khuyến cáo. Bệnh nhân được khuyến khích uống 1,5 lít nước hàng ngày và tiêu thụ 400 đến 800 calo mỗi ngày. Theo dõi sinh lý và tâm lý chặt chẽ là cần thiết. Các cá thể theo kiểu nhịn đói này phải đặt dưới sự giám sát y học, nhịn đói chỉ được dùng trong sự kết hợp với điều trị dài hạn, thí dụ "ǎn kiêng" nhịn đói có thể kết hợp với 1 chương trình hành vi và / hoặc 1 chương trình cộng đồng. Không nên khuyên một người nhịn đói mà không lên kế hoạch thay đổi các thói quen ǎn uống.

Một kiểu nhịn đói thường có ích làm thay đổi chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân như "chỉ ǎn trái cây" trong 1 ngày mỗi tuần. Việc này cung cấp 1 khoảng nghỉ trong sự đơn điệu của chế độ giảm cân và giúp xén tỉa trọng lượng gia tǎng. Hoàn toàn nhịn đói dù chỉ một ngày cũng cần phải tránh.

Luyện tập

Người ta đã viết nhiều về ích lợi của luyện tập như một sự phối hợp với chế độ ǎn, nhưng ích lợi của một mình sự luyện tập lên giảm cân còn chưa rõ ràng. Vấn đề ở chỗ luyện tập đáng kể là cần thiết để đốt lượng calo đủ làm giảm trọng lượng đo được. Thí dụ một người phải đi bộ ít nhất 35 dặm để mất 0,5 kg mỡ, do đó giảm cân nặng thời hạn ngắn không thể nhờ vào luyện tập một mình. Luyện tập là rất quan trọng để xử lý việc kiểm soát cân nặng dài hạn và cải thiện sức khỏe. Một số công trình cũng gợi ý rằng luyện tập là 1 yếu tố quan trọng để đề phòng béo phì.

Nhiều dạng luyện tập không được khuyến cáo cho các bệnh nhân béo phì mức trung bình và nặng, do đó bệnh nhân béo phì cần được đánh giá về mặt y học trước khi bắt đầu chương trình luyện tập. Các bài tập mang trọng lượng gắng sức trên các khớp chịu tải thường bị cấm. Duy trì khối cơ thông qua đi bộ hoặc thể dục nhịp điệu dưới nước là có ích.

Các bệnh nhân sẽ có được kết quả tốt nhất nếu luyện tập đi kèm với giảm khẩu phần. Trong khi các bệnh nhân theo chế độ calo rất thấp (400-800 calo) thường khó luyện tập, các bệnh nhân có chế độ ǎn kiêng vừa phải hơn có thể theo một chương trình luyện tập khiêm tốn. Nhiều người béo thường có lối sống rất tĩnh tại cần: (a) chọn một hoạt động mà họ ưa thích (b) đặt ra các mục đích hiện thực và đạt được. Việc đặt các mục tiêu trung gian cần được khuyến khích, nó giúp bệnh nhân đạt thắng lợi nhanh. Thí dụ một bệnh nhân không luyện tập trong quá khứ có thể chọn đi bộ (nó dễ, không tốn kém và phù hợp với nhiều người) làm dạng luyện tập và chọn đi bộ quanh khu nhà mỗi ngày 1 lần trong 2 tuần. Nếu bệnh nhân chọn theo cách này, việc tiếp tục chế độ luyện tập thường là thích hợp hơn.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mất 6 đến 8 tuần để phát triển một thói quen. Động viên và khen ngợi là quan trọng trong việc tạo ra một thói quen. Vậy thì hãy thu xếp các cuộc khám lại định kỳ đều đặn cho bệnh nhân của bạn để củng cố hành vi mới và giúp họ xác định các mục đích mới. Bạn càng cần nhận biết bệnh nhân của bạn sẽ dễ thành công hơn khi tập một mình hay tập theo nhóm. Nhiều người thấy rằng tập trong một chương trình được cấu trúc là có ích.

Các chương trình điều trị theo nhóm

Trong khi người ta khó định nghĩa và đo "sự thành công", các chương trình điều trị theo như những người theo dõi cân nặng" (Weight Watchers) rõ ràng đã cung cấp 1 giải pháp có hiệu quả cho nhiều người. Có một số nhóm như thế, tuy có khác nhau cả về triết lý lẫn giải pháp tiết chế. Mỗi nhóm có vẻ thích hợp đặc biệt cho một số cá thể. Weight Watchers (WW) có lẽ là nhóm rộng rãi nhất cổ vũ các thành viên xác định mục đích hiện thực và giúp họ đạt được nó. Chế độ ǎn ít mỡ, nhiều protein cho phép các thành viên có nhiều biến thể. Nó tập trung ít hơn vào số cao tiêu thụ và nhiều hơn vào một số đặc biệt của các phần của mỗi nhóm thực phẩm được tiêu thụ. Các thành viên được khuyến khích tham gia các cuộc gặp gỡ hàng tuần và cân ở mỗi buổi gặp gỡ đó. Các chiến lược về nấu nướng, xử sự với gia đình và ǎn tại nhà hàng được thảo luận. Các thành viên trả lệ phí ban đầu và lệ phí cho mỗi buổi gặp gỡ.

TOPS (Vứt bỏ cân thừa một cách hợp lý) là 1 nhóm khác đã được quốc tế biết đến. Nhóm này đòi hỏi nộp lệ phí và khuyên tất cả thành viên tìm sự giúp đỡ từ thầy thuốc của họ. Cả WW và TOPS đều khuyến cáo là các thực phẩm có thể là đạt.

Những người phàm ǎn vô danh (OA) cũng là 1 nhóm được hình thành tốt. OA không thu hội phí, nó được chia ra vào cuối buổi gặp gỡ để quyên góp tự nguyện. Yêu cầu duy nhất đối với hội viên là mong muốn nghiêm túc chấm dứt thói ǎn uống không cưỡng lại được. OA không liên kết với nhưng cũng dựa trên những nguyên lý giống "những người nghiện rượu vô danh". Mục đích của OA ngả về phía giúp các cá thể trong thay đổi hành vi ǎn uống gây nghiện hơn là theo dõi giảm cân.

Điều trị tâm lý và hành vi

Có sự chấp nhận rộng rãi là giảm cân cǎn bản, dài hạn chỉ có thể thành công từ các thay đổi phong cách sống gồm cả các thói quen ǎn uống và luyện tập. Vì mục đích là thay đổi các thói quen cả đời, điều trị tâm lý và/hoặc hành vi là có ích. Điều trị tâm lý hay dùng nhất cho các bệnh nhân là những người thích ǎn không cưỡng lại được đã bị béo phì từ hơn 6 tháng hoặc những người đang lúc khó khǎn trong việc giải quyết những thay đổi về kích thước cơ thể và hình ảnh cơ thể. Các thí dụ về chiến lược hành vì có ích trong kiểu tư vấn này gồm:

- Loại bỏ sự thôi thúc phải ǎn hết mỗi thứ được dọn ra (hội chứng đĩa sạch)

- ǎn chậm hơn

- Tạm nghỉ giữa bữa

- Chỉ ǎn ở bàn ǎn dù đó là bữa ǎn hoặc chỉ là bữa quà vặt

- Không làm việc gì khác trong khi ǎn (thí dụ đọc hoặc xem ti vi)

- Mua các đồ tạp hóa sau bữa ǎn, không mua lúc đói

- Cân mỗi tuần một lần

- Tự theo dõi liên tục

Như đã chú thích ở phần đầu chương này, khởi đầu giảm cân nặng là tương đối đơn giản, duy trì giảm cân là khó hơn. Điều trị hành vi làm tǎng rõ rệt các chiến lược giảm cân, đặc biệt là tiết chế và luyện tập. Nó có thể kiềm chế có hiệu quả cho vấn đề rút khỏi điều trị và cần được xem như một bổ sung tuyệt hảo cho các chiến lược giảm cân khác.

Nghiên cứu đã chứng minh rằng giảm cân sẽ thành công nhất khi người vợ (hoặc chồng) tham gia tích cực vào điều trị. Điều này phần lớn là đúng, tất nhiên khi mà mối quan hệ hiện hữu là bền vững và ủng hộ. Tuy nhiên thiện chí là chưa đủ. Người béo sẽ thâm nhập vào các thói quen ǎn uống, các hoạt động và những thay đổi hình ảnh cơ thể, những điều đó đe dọa quan hệ vợ chồng, do đó chú ý đến cảm giác và các mối quan hệ là quan trọng. Sự nhập cuộc của các thành viên gia đình ủng hộ và củng cố cho bệnh nhân trong chương trình giảm cân là quyết định cho sự thắng lợi của bệnh nhân.

Đánh giá và tác động qua lại liên tục với vợ (chồng) và các con là có tính sống còn.

Béo phì ở trẻ em

Thông thường béo phì ở tuổi trẻ con phản ánh một vấn đề quan trọng của hệ thống gia đình làm nền tảng. Do đó gặp gỡ các thành viên gia đình là tất yếu trong việc quản lý trẻ em và vị thành niên bị béo phì. Hãy tìm xem các thành viên gia đình có nhận thức béo phì trẻ con là 1 vấn đề hay không và họ có quan tâm đến hay không và có khả nǎng làm vài việc về nó. Sau đó, đánh giá mẫu hình ǎn uống của gia đình: ai chịu trách nhiệm các bữa ǎn, có tổ chức ǎn vặt giữa các bữa không, đứa trẻ sử dụng thời gian như thế nào, các nguồn ǎn không thích hợp xuất hiện từ đâu. Hãy sử dụng các kiến thức của bạn về động học gia đình (xem chương 3) để giúp lập kế hoạch các chiến lược quản lý hành vị và mời tham gia một tư vấn chuyên nghiệp.

mức độ cộng đồng, một người thầy thuốc gia đình có thể giúp các trường học lên chương trình phòng và điều trị béo phì ở trẻ em. Trẻ em ǎn từ 1/3 đến 2/3 các bữa ǎn của chúng tại trường, do đó trường phải có các chương trình chuyên biệt dành cho trẻ em cần giảm cân nặng.

những nơi có chương trình này, bạn cần khuyến khích các bệnh nhân béo phì đǎng ký và nhận sự hướng dẫn và các bữa ǎn có kế hoạch.

Điều trị bằng thuốc

Các thuốc chống béo ít hoặc không có vai trò trong điều trị các bệnh nhân béo phì. Trong khi sự nghiên cứu chỉ ra rằng những thuốc này có thể làm giảm cân nhanh, thì nó cũng chỉ ra rằng trọng lượng nhanh chóng lay lại mỗi khi ngừng thuốc. Các dẫn chất của Amphetamin đã được chính thức dùng như thuốc chống béo thì nay không còn được xác nhận cho mục đích này nữa, có nhiều tác dụng phụ và bị lạm dụng. Gần đây hơn việc dùng thuốc kéo dài đã tỏ ra là duy trì được giảm cân vừa phải (5). Tuy nhiên, nhìn chung các nguy cơ của thuốc giảm béo vượt qua cái lợi của nó. Rất hiếm khi một thứ thuốc có thể dùng như một phần của kế hoạch quản lý toàn bộ nhằm thay đổi các thói quen ǎn uống.

Mỗi khi bệnh nhân yêu cầu thuốc giám cân nặng, bạn cần nhấn mạnh là những thuốc này vừa nguy hiểm vừa không hiệu quả (xét về lâu dài). Vạch ra các nguyên lý sinh lý học như về điểm mốc và các mẫu hình thu nhập thực phẩm làm nền tảng cho béo phì và những cái đó phải được phá vỡ bằng thay đổi hành vi. Phải biết các phương thức lựa chọn hiện hữu để xây dựng 1 chương trình quản lý và giúp đỡ cho mọi bệnh nhân muốn làm gầy.

Can thiệp phẫu thuật

Đối với đa số bệnh nhân, phẫu thuật có thể làm giảm cân đáng kể khi mà các biện pháp khác nhau đã thất bại. Phẫu thuật chỉ được áp dụng khi mà các phương pháp bảo tồn đã thất bại và khi cái thuận lợi trội hơn các nguy cơ. Các bệnh nhân cần được sàng lọc và theo dõi cẩn thận. Nối tắt (Bypass) hỗng hồi tràng làm giảm cân một phần vì giảm lượng thu nhập thức ǎn và một phần do giảm hấp thu. Các bệnh nhân béo phì thường giảm cân có ý nghĩa sau mổ, nhưng sau hai nǎm có xu hướng lấy lại cân nặng vì có quá trình thích nghi của ruột. Các biến chứng tức thì gồm 1-2% tử vong (thông thường do tắc mạch, viêm phổi, dính vết thương, và nhiễm trùng), ỉa chảy triền miên nhiều tháng hoặc nhiều nǎm, mất nước và điện giải, tạo sỏi và thiếu hụt dinh dưỡng. Vì những lý do này việc chọn lọc bệnh nhân cẩn thận là rất quan trọng. Những bệnh nhân không có khả nǎng theo dõi tiếp, những bệnh nhân có khó khǎn tâm thần nghiêm trọng, không được chỉ định làm phẫu thuật nối tắt hỗng hồi tràng.

Nối tắt dạ dày, một phẫu thuật quen dùng khác, có ít biến chứng dạ dày hơn so với nối tắt hỗng hồi tràng.

Giảm kích thước của bình chứa chức nǎng dạ dày bằng phẫu thuật phần lớn dạ dày bị bỏ qua và cảm giác no bụng xuất hiện sau 1 bữa ǎn nhỏ, làm cho lượng thu nhập thức ǎn giảm và do đó giảm thể trọng. Phẫu thuật này là khó khǎn về mặt kỹ thuật cho người béo phì ốm yếu và có thề gây ra những tác động làm giảm chất lượng sống, như là ỉa chảy khi ǎn vào (hội chứng tháo nhanh).

Một kỹ thuật tương tự dễ thực hiện hơn đó là tạo hình dạ dày (gastroplasty) hay chia phần dạ dày (gastric partition) trong đó 1 máy khâu tự động được dùng. Như trong các điều trị phẫu thuật khác của bệnh béo phì, phần lớn giảm cân xuất hiện trong vòng 2 đến 6 tuần đầu. Cả nối tắt và tạo hình dạ dày đều có thể gây ra buồn nôn và nôn trầm trọng và kéo dài, sỏi thận và rụng tóc. Với tất cả những kỹ thuật này mục đích của điều trị là tạo ra một điều kiện tạm thời buộc bệnh nhân phải ngừng thói ǎn uống quá đà. Trong vòng 3 tháng đầu sau phẫu thuật, điều quân trọng cho bệnh nhân là phát triển được một quan niệm mới về ǎn uống. Do vậy tư vấn trước và sau mổ là cốt yếu.

Gần đây, kỹ thuật nội soi đặt bóng trong dạ dày đã phát triển. Các quả bóng này lấp đầy 1 phần dạ dày cũng có tác dụng như các quy trình phẫu thuật dạ dày kể trên. Kỹ thuật này hiện nay đang được thực nghiệm, bóng xẹp và tắc môn vị là những biến chứng hay gặp nhất

KếT LUậN

Quản lý có hiệu quả bệnh béo phì bởi người thầy thuốc gia đình minh hoạ nhiều nguyên lý của y học gia đình. Việc này đòi hỏi một nền tảng rộng rãi về kiến thức bao trùm sinh lý học, động thái gia đình, tam lý học và sử dụng các nguồn lực cộng đồng. Sự đánh giá cá thể và kế hoạch điều trị là cần thiết, điều này dùng đến các thành viên khác của ê kíp sức khỏe như các nhà tư vấn và thầy thuốc điều trị. Điều trị hiệu quả đòi hỏi sự theo dõi thường xuyên với mối quan hệ thầy thuốc bệnh nhân thường đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của bệnh nhân.

TàI LIệU THAM KHảO:

1. National Institutes of Health Consensus Development Conference Statement: Health implications of obesity. Amn Intern Med l03: l073-l077, 1985.

2. Nash JD: Eating behavior and body weight: physiological influences. Am J Health Promotion 2: 5-13, 1987.

3. Stuart RB, Davis B: Lim Chance in a Fat World; Behaviroal Control of Obeslty. Champaign, IL, Research Press, 1972.

4. Bjorntorp P: Regional patterns of fat distribution. Ann Intern Med l03: 994-995, 1985.

5. Weintraub M, ét al.: Long-term weight control: The National Heart, Lung and Blood Institute funded multimodal intervention study. Clin Pharmacol Ther 51 (5): 581-646, 1992.