Sách » Y Học - Sức Khỏe » Y học gia đình

Chương 25: Đau bụng và đau chậu hông

William A. Hensen và Mary N. Hall

Đau bụng là một trong số 15 triệu chứng gặp hàng đầu trong chǎm sóc sức khỏe ban đầu. Chẩn đoán đau bụng thường khó khǎn và là một trong các thách thức lớn đối với y học lâm sàng. Đau bụng dưới ở phụ nữ (nghĩa là đau chậu hông) là một thách thức về chẩn đoán đặc biệt quan trọng và khó khǎn. Nguyên nhân gây đau bụng rất khác nhau, từ những nguyên nhân cần giải quyết tức thời để đề phòng hậu quả tai hại, đến các nguyên nhân mà cả chẩn đoán lẫn điều trị đều không có gì là cấp cứu. Lần thǎm bệnh đầu tiên có thể chưa chẩn đoán được nguyên nhân đau bụng, nhưng phải xác định ngay vấn đề cần giải quyết ở mức độ khẩn cấp nào.

Trong lần đầu thǎm khám cho một bệnh nhân đau bụng, thầy thuốc gia đình phải quyết định tạm thời xắp xếp vấn đề của bệnh nhân vào một trong bốn loại sau:

- Đau bụng do cǎn bệnh cấp tính, đe dọa đến tính mạng và cần can thiệp ngay.

- Đau bụng do cǎn bệnh bán cấp, nhưng tiến triển và nghiêm trọng, cần xác minh kịp thời

- Đau bụng do cǎn bệnh mãn tính đáng được tìm hiểu kỹ tuỳ lúc tiện lợi cho cả bệnh nhân lẫn thầy thuốc.

- Đau bụng do cǎn bệnh tự khỏi, không cần tìm hiểu thêm.

Chương này sẽ minh họa và sau đó thảo luận chi tiết từng vấn đề nói trên.

ĐÁNH GIÁ BỆNH NHÂN

Trường hợp cấp tính đe dọa tính mệnh bệnh nhân

Trường hợp 1.1

Ông M.R. 32 tuổi, nhân viên bán bảo hiểm, đau bụng kéo dài đã 6 giờ. Mới đầu ông thấy hơi khó chịu ở vùng giữa bụng, tiếp theo là chán ǎn và đôi khi buồn nôn. Cảm giác buồn nôn tǎng lên và ông thấy bị sốt nhẹ. Trong vòng 5 giờ sau khi phát bệnh đau càng tǎng thêm và chuyển sang phần tư bụng dưới bên phải. Khám thực thể cho thấy: gõ đục rõ rệt, có phản xạ bảo vệ ở phần tư bên phải bụng dưới với nhạy cảm đau tại chỗ và phản ứng thành bụng ở điểm Mc Burney.

Trường hợp 1.2

Cô L.S. 15 tuổi, được theo dõi bệnh từ lúc còn nhỏ. Cô đến khám với bệnh sử hơi đau bụng dưới cả hai bên đã 1 tuấn sau kỳ hành kinh ra thật nhiều máu. Trong tuần qua các triệu chứng này nặng thêm và khi cử động thì càng đau. Cô có cảm giác buồn nôn đã hai ngày kèm theo sốt nhẹ và cô đã nôn một lần vào sáng nay. Cô cũng thấy có dịch xuất tiết âm đạo màu vàng. Khám thực thể cho thấy thân nhiệt là 100,4? F, mạch 94. Cô đau vùng bụng dưới cả hai bên với phản xạ bảo vệ tối thiểu và không có phản ứng thành bụng. Khám trong thấy có dịch xuất tiết cổ tử cung màu vàng, đau nhẹ khi di chuyển cổ tử cung. Phần phụ cả hai bên đau nhẹ và không thấy khối u.

Trường hợp bán cấp nhưng tiến triển và nặng

Trường hợp 2.1

Bà L.R. 60 tuổi có bệnh sử tiểu đường đã 20 nǎm, đến khám vì đau bụng đã 4 tháng. Mới đầu là đau thượng vị. Bà đã tự chữa bằng thuốc kháng toan trong một tuần và hình như bớt đau. Tuy nhiên vài tuần sau bà hay có cảm giác chướng bụng sau bữa ǎn, và cảm giác đầy bụng này kéo dài nhiều giờ mới hết. Cảm giác đó còn đôi khi kèm theo khó chịu trong bụng. Thêm nữa bà cho biết cân nặng bị giảm 5 pound và khi đại tiện thấy phân bị giảm kích thước. Khám bụng thấy tiếng gõ bình thường, không có khối u và xét nghiệm phân không thấy có máu.

Trường hợp mãn tính nhưng quan trọng

Trường hợp 3.1

Bà E.G. đến khám với bệnh sử đau bụng từng cơn đã 2 tháng. Đau có tính chất rát bỏng khu trú ở vùng nửa trên bụng và có vẻ đau nhiều hơn trước các bữa ǎn và lúc đêm khuya. Sau khi ǎn thì bớt đau hơn mặc dù có một số thức ǎn như bắp cải, hành, gia vị làm đau tǎng. Đã mười nǎm nay bà được chẩn đoán là bị bệnh loét tiêu hoá và đã uống thuốc kháng toan trong 6 tháng. Từ đó bà ta bị vài đợt đau tương tự và khỏi trong vòng một hoặc hai tháng sau khi uống thuốc kháng toan. Mới đây bà được bổ nhiệm thay thế người giám định viên bỏ việc bất ngờ, điều này đã gây một stress bất thường. Bà còn có cô con gái 14 tuổi hay lý sự và đang "giao du với đám xấu", gây nên mối bất hòa trong gia đình. Trong tiền sử bà không bị đại tiện phân đen hoặc nôn.

Trường hợp 3.2

Bà J.S. 34 tuổi, có chổng, bệnh sử đau chậu hông đã 4 đến 5 nǎm.Chứng đau ở đường giữa bụng dưới này xảy ra 1 tuần trước các kỳ kinh và hầu như làm bà bất lực phải bỏ công việc hàng ngày là nghề y tá. Bà kể là đau ở vùng thắt lưng và trực tràng. Khi giao hợp sâu cũng bị đau. Bà nói là bị đau kinh nhẹ đến trung bình kể từ khi có kinh lần đầu. Trong tiền sử bà không bị bệnh phụ khoa và đã không thực hiện biện pháp tránh thai trong hai nǎm qua.

Trường hợp tự khỏi không cần khám xét thêm

Trường hợp 4. 1

Anh A.G., 23 tuổi, sinh viên y khoa, có bệnh sử đau bụng từng cơn đã 4 nǎm. Các cơn đau cứng bụng kéo dài hàng giờ tới hàng tuần cách nhau từ vài tuần tới vài tháng không có triệu chứng gì. Các stress do súc cảm và một số thức ǎn (theo tiền sử: bữa ǎn có gia vị, bắp cải, ớt xanh) gây nên cơn đau, đôi khi có cả ỉa chảy tiếp theo hoặc đi kèm, nhưng không ra máu hoặc nhày. Sức khỏe chung là tốt. Khám thực thể bình thường.

BỆNH SỬ LÂM SÀNG

Có bảy khía cạnh khác nhau cần khai thác trong bệnh sử của một bệnh nhân bị đau bụng: tính chất, số lần, vị trí và hướng lan truyền, thời lượng và thời điểm đau, giảm và tǎng, khởi phát, và các dấu hiệu cùng triệu chứng đi kèm.

Mỗi khía cạnh nói trên đều quan trọng và cốt yếu trong việc xác định nguyên nhân gây đau bụng. Cần quan tâm đặc biệt đến khu trú vị trí đau vì nó trực liếp giúp ta biết tập trung vào phần còn lại nào trong bệnh sử và khám xét.

Đau thượng vị thường xuất phát từ một trong những cơ quan do ruột trước của phôi thai sinh ra, tức là thực quản, dạ dày, tá tràng, gan, túi mật, tuỵ tạng và lách. Tuy nhiên viêm phổi và nhồi máu thành dưới cơ tim cũng gây đau thượng vị. Khi các cơ quan này mới bị bệnh thì có thể chỉ làm cho hơi khó chịu ở vùng thượng vị. Nhưng khi bệnh tiến triển thì sẽ xuất hiện những triệu chứng điển hình của bệnh đó. Ví dụ, một bệnh nhân viêm tụy mới đầu chỉ kêu hơi đau vùng thượng vị. Nhưng về sau chính bệnh nhân đó sẽ kể về những cơn đau kinh điển như sau: đau thượng vị dữ dội, không thuyên giảm, xuyên thẳng ra sau lưng. Đau gan và túi mật thường khu trú ở phần tư bụng trên bên phải, còn đau lách thì ở bên trái.

Đau quanh rốn thường xuất phát từ những cơ quan do ruột giữa ở phôi thai sinh ra, đó là hỗng tràng, hồi tràng, ruột thừa và đại tràng lên. Viêm, thiếu máu, co thắt, hay dãn bất thường ở các cơ quan này đều gây đau quanh rốn.

Đau dưới rốn (đau bụng dưới) thường xuất phát: (a) Từ các cơ quan do ruột cuối ở phôi thai sinh ra như đại tràng xuống, đại tràng xích ma và trực tràng ; hoặc (b) từ các cơ quan sinh dục-tiết niệu nằm trên đường giữa bụng như, bàng quang, tử cung, và tuyến tiền hệt. Nam giới và nữ giới đau bụng dưới thì rất khác nhau về phương diện chẩn đoán. Vì nhiễm khuẩn đường tiết niệu ít gặp ở nam giới hơn, lại vì tinh hoàn và mào tinh hoàn đều nằm ngoài ổ bụng, nên về phương diện giải phẫu thì nguyên nhân đau bụng dưới ở nam giới cũng giới hạn hơn, chỉ có bệnh học tuyến tiền liệt là cần quan tâm đặc biệt. nữ giới các nguyên nhân phức tạp hơn vì các cơ quan sinh sản đều nằm trong ổ bụng và bệnh lý, đặc biệt là nhiễm khuẩn, của đường sinh dục-tiết niệu thì phổ biến hơn nhiều.

Đau ở bên có thể do nhiều nguyên nhân.Viêm khu trú cả ở da lẫn phúc mạc đều gây ra đau ở điểm bị kích thích. Đau do kích thích phúc mạc thành bụng sau thì kém khu trú một bên hơn là do kích thích phúc mạc thành bụng trước. Sự phân biệt này rất rõ nét trong bệnh viêm ruột thừa cấp tính. Ruột thừa viêm kích thích phúc mạc thành bụng trước gây đau ở phần tư bụng dưới bên phải như mô tả kinh điển. Nhưng ruột thừa ở sau manh tràng bị viêm, kích thích phúc mạc thành bụng sau, sẽ gây đau bụng không rõ rệt phía bên phải. Đau các cơ quan đôi (chẵn -ND) là đau ở bên; các cơ quan đôi chính gồm thận, niệu quản, vòi Fallôp (ống dẫn trứng - ND) và tuyến sinh dục (buồng trứng - ND).

Đau toàn bụng xuất phát từ viêm lan tỏa của dạ dày-ruột, phúc mạc, hoặc thành bụng. Kích thích phúc mạc lan tỏa do cả nhiễm khuẩn lẫn do có máu trong ổ phúc mạc đều gây ra đau toàn bụng. Viêm dạ dày-ruột do virút tác động đến toàn bộ đường tiêu hoá cũng gây đau như vậy. Có thể bị nhầm lẫn đau toàn bụng với đau khu trú trong trường hợp hỏi bệnh khó khǎn. Ví dụ, khi hỏi một cháu bé "cháu đau ở đâu?", cháu có thể trả lời "khắp cả". Hỏi thêm câu sau "hãy chỉ xem cháu đau nhất chỗ nào?" hoặc "Cháu đau ở trên rốn hay dưới rốn hơn ?" thì sẽ có thể khu trú được vùng đau một cách chính xác hơn.

Cần phải đặt các câu hỏi sàng lọc bao trùm các cơ quan hô hấp, tim, dạ dày-ruột, sinh dục-tiết niệu và cơ-xương để đặt ra một chẩn đoán chính xác. Nên hỏi về tiền sử tình dục đầy đủ (chứ không phán đoán) để xác định các yếu tố nguy cơ về thai nghén (chửa trong hoặc ngoài tử cung), về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, về sử dụng phương tiện tránh thai (ví dụ, dùng dụng cụ đặt trong tử cung thì phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh viêm chậu hông. Trong khi đó thì các phương pháp dùng màng ngǎn lại có tác dụng bảo vệ). Để có được thông tin chính xác nhất, ta nên hỏi người bệnh về phần này của bệnh sử khi không có mặt cha mẹ bệnh nhân, chồng hay bạn bè hoặc người khác trong gia đình. Nếu bạn tạo được thói quen gặp gỡ trẻ ở tuổi trước vị thành niên không có sự hiện diện của cha mẹ hoặc người nhà thì bệnh nhân và gia đình sẽ quen với việc này trước khi bạn tỏ vẻ cần tìm hiểu tiền sử tình dục của bệnh nhân.

Phải đánh giá cẩn thận tiền sử tâm lý. Cũng nên khai thác cả mặt tâm lý tình dục, vì đau bụng là một triệu chứng hay gặp ở những bệnh nhân có các vấn đề tình dục, chấn thương hoặc lạm dụng tình dục. Các bệnh nhân tâm thần (xem chương 38) cũng thường hay đến khám vì đau bụng hoặc một tình trạng nguy cấp nào đó về tiêu hoá.

Cuối cùng, điều chủ yếu là thông qua hỏi bệnh mà đánh giá tình trạng cấp cứu của bệnh nhân. Bảng 25.1 liệt kê các triệu chứng "cờ đỏ" trong bệnh sử được coi là tình trạng đe dọa đến tính mệnh của bệnh nhân.

Bảng 25.1. Các triệu chứng và dấu hiệu "cờ đỏ" trung cấp cứu bụng

Các triệu chứng

Các dấu hiệu

Nôn ra máu

Chảy máu trực tràng hay đại tiện phân đen

Bụng chướng dần

Nôn không cầm tiến triển

Mệt lả

Choáng váng khi đứng

Đau khởi phát cấp tính

Đau cường độ tǎng dần trong vài giờ

Sốt

Hạ huyết áp tư thế đứng

Phản ứng thành bụng

Nhạy cảm đau nghiêm trọng

Tǎng bạch cầu và tǎng bạch cầu hạt

Giảm lượng nước tiểu

Các cơ chế có khả nǎng gây tử vong là mất máu, nhiễm khuẩn huyết nặng và giảm khối lượng tuần hoàn trầm trọng. Các bệnh nhân có nguy cơ đặc biệt dễ mắc bệnh hiểm nghèo là những người có bệnh mãn tính (như tiểu đường), các người bị suy giảm miễn dịch, người quá trẻ hoặc quá già.

KHÁM THỰC TH

Khám thực thể là bước tiếp theo của hai việc tìm hiểu nguyên nhân và đánh giá mức độ cấp cứu trong trường hợp đau bụng. Các dấu hiệu sinh tồn và tình trạng toàn thân của bệnh nhân là đặc biệt quan trọng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của cǎn bệnh. Sốt thường là dấu hiệu của nhiễm khuẩn, nhưng chú ý là người già bị nhiễm khuẩn máu lại có thể bị hạ thân nhiệt. Mạch nhanh tuy không đặc hiệu, nhưng có thể là dấu hiệu quan trọng của giảm thể tích tuần hoàn hoặc nhiễm khuẩn máu. Hạ huyết áp khi nằm chỉ xảy ra ở bệnh nhân giảm thể tích máu nặng hay nhiễm khuẩn máu. Hạ huyết áp tư thế đứng là dấu hiệu nhạy bén hơn về giảm thể tích máu, mạch tǎng nhanh liên tục khi đứng là dấu hiệu còn nhạy bén hơn nữa. Nhịp thở nhanh có thể là do nhiễm khuẩn máu, nhiễm toan. hoặc viêm phổi. Khi bệnh nhân kêu đau bụng thì bao giờ cũng phải khám tim, phổi và da. Khi thầy thuốc đánh giá tổng thể là bệnh nhân có "tình trạng nhiêm độc" hay là "một trẻ ốm" thì đó là một nhận xét quan trọng và có lẽ là nghiêm trọng rồi.

Khi bắt đầu khám bụng hãy bảo bệnh nhân chỉ vào vùng bị đau. Bệnh nhân thường trỏ bằng ngón tay nếu đau khu trú do tổn thương thành bụng hoặc do kích thích phúc mạc tại chỗ. Còn đau tạng thì bệnh nhân thường xòe bàn tay để chỉ.

Khám bụng đầy đủ bao gồm: nhìn, nghe, sờ, và sờ ấn. Sờ ấn là đặc biệt quan trọng với hai dấu hiệu cốt yếu được phát hiện là nhạy cảm đau tại chỗ và phản ứng thành bụng. Bao giờ cũng phải bắt đầu bằng những động tác sờ ấn khéo léo nhẹ nhàng, rồi dần dần ấn sâu hơn. Nhạy cảm đau tại chỗ, cũng giống như vị trí đau đã nói tới trong phần hỏi bệnh, cho biết cơ quan nào bị bệnh.

Đôi khi khám thực thể sẽ định rõ được điểm đau của bệnh nhân chính xác hơn là khi hỏi bệnh. Ví dụ, một bệnh nhân bị bệnh túi mật có thể chỉ cảm thấy khó chịu ở vùng thượng vị, nhưng khi khám mới thấy có nhạy cảm đau ở phần tư bụng trên phải và dấu hiệu Murphy dương tính. Nhạy cảm đau tại chỗ có thể đưa tới một chẩn đoán đặc hiệu, ví dụ nhạy cảm đau ở góc sườn cột sống thường làm nghĩ tới viêm bể thận-thận. trường hợp khác nhạy cảm đau có ích nhưng không đặc hiệu (ví dụ nhạy cảm đau thượng vị có thể do nhiều nguyên nhân).

Phản ứng thành bụng và phản xạ bảo vệ không tự chủ là dấu hiệu của kích thích phúc mạc. Một số nguyên nhân gây nguy hiểm tới tính mạng bệnh nhân liên quan tới dấu hiệu này, do đó cần xem tất cả bệnh nhân có phản ứng thành bụng là cấp cứu. Kích thích phúc mạc có thể khu trú như trong bệnh viêm ruột thừa chưa vỡ hoặc toàn thể như trường hợp viêm phúc mạc nhiễm khuẩn. Máu ở trong ổ phúc mạc cũng gây kích thích, nên khi chẩn đoán các bệnh nhân có phản ứng thành bụng phải nghĩ tới chảy máu ví dụ vỡ chửa ngoài tử cung.

Thǎm âm đạo và trực tràng khi khám cho bệnh nhân đau bụng cũng quan trọng (nên nhớ phải bắt đầu việc thǎm khám này một cách tế nhị, đặc biệt đối với bệnh nhân trẻ chưa có kinh nghiệm từ trước). Bằng hai thao tác thǎm khám này có thể phát hiện các khối u bất thường và nhạy cảm đau tại chỗ (ví dụ nhạy cảm đau ở tử cung và cổ tử cung trong bệnh viêm chậu hông), cũng như phát hiện chảy máu hoặc dịch xuất tiết âm đạo hay trực tràng. Thǎm trực tràng còn cho phép xét nghiệm tìm máu trong phân.

ĐÁNH GIÁ XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG

Xét nghiệm nước tiểu, đếm tế bào máu toàn phần và thử nước tiểu để chẩn đoán thai nghén đều có thể làm được ngay trong phòng khám của các thầy thuốc gia đình, nhằm giúp đỡ những bước đầu tiên trong công việc với bệnh nhân đau bụng. Xét nghiệm nước tiểu là một kiểm tra tuyệt vời đối với các bệnh như viêm bàng quang, viêm thận-bể thận và sỏi thận. ở những phụ nữ béo phì, đang có kinh, hoặc có dịch xuất tiết âm đạo thì có thể đặt ống thông lấy nước tiểu để xét nghiệm có kết quả tốt. Có thể cho cấy nước tiểu và dịch xuất tiết cổ tử cung ngay trong lần khám đầu tiên, nhưng kết quả thì chưa có ngay được.

Đếm tế bào máu toàn phần là hữu ích trong chẩn đoán chảy máu và nhiễm khuẩn. Mất máu mãn tính thường làm giảm nồng độ hêmôglôbin. Tuy nhiên nồng độ hêmôglôbin có thể bình thường một cách giả tạo khi mất máu cấp tính. Đếm bạch huyết cầu và làm công thức bạch cầu cũng thường có ích cho chẩn đoán. Ví dụ, tǎng bạch cầu máu vừa phải và tǎng bạch cầu hạt hướng chẩn đoán vào viêm ruột thừa hơn là vào viêm đường tiêu hoá do virus. Tuy nhiên nên ghi nhớ rằng tǎng bạch cầu máu tự nó là rất không đặc hiệu. Các stress sinh lý không nhiễm khuẩn cũng có thể gây ra phản ứng tǎng sinh bạch cầu. Cũng vậy nhiễm khuẩn nặng trong ổ bụng đôi khi không kèm theo bất thường nào về đếm bạch cầu; do đó thầy thuốc phải thận trọng không nên chỉ dựa vào thông tin đơn thuần này.

Đối với tất cả phụ nữ đang tuổi sinh đẻ thì khi bị đau bụng phải nghĩ tới chửa vòi trứng và các biến chứng khác của thai nghén. Hãy nghĩ tới xét nghiệm nước tiểu chẩn đoán thai nghén cho bất kỳ bệnh nhân nào mà chẩn đoán không rõ ràng sau khi hỏi bệnh và khám thực thể, dù bệnh nhân đó có thừa nhận khả nǎng có hay không có thai . Hãy thận trọng khi chụp X-quang cho bệnh nhân nghi có thai.

các bệnh nhân đau bụng phải sử dụng kỹ thuật chụp hình một cách thận trọng và khi thật cần thiết. Chỉ chụp phim X-quang không chuẩn bị để tìm các dấu hiệu đặc thù khi có nghi vấn, như liềm hơi dưới cơ hoành hoặc sỏi ở niệu quản, chứ không chụp để làm test kiểm tra chung. Đau bụng dữ dội đơn thuần không cần chỉ định chụp X-quang. Hãy nhớ là chụp hình siêu âm có thể phát hiện được nhiều cấu trúc không thấy được trên phim X-quang không chuẩn bị mà lại có lợi là an toàn cho người có thai.

Hỏi bệnh, khám thực thể và các xét nghiệm nói chi tiết ở trên được xem là gần đầy đủ để cho thầy thuốc có thể có một quyết định đầu tiên, cốt yếu: đó là hoặc cho bệnh nhân về nhà, hoặc giữ bệnh nhân lại để theo dõi.

TRIỂN KHAI CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Khi bạn thu thập các thông tin bằng hỏi bệnh, khám thực thể và làm các xét nghiệm, thì bạn phải triển khai và chọn lọc các chẩn đoán phân biệt. Vì có nhiều khả nǎng, nên bạn phải thường xuyên xem xét lại và đánh giá lại các chẩn đoán có thể chọn. Bảng 25.2. liệt kê các nguyên nhân gây đau bụng.

Bảng 25.2. Một số nguyên nhân quan trọng gây đau bụng

Nguyên nhân tiêu hóa

 

Gan: chấn thương, áp xe, ứ máu thụ động do viêm gan*

Mật: viêm túi mật cấp*, viêm đường mật ngược dòng, cơn đau bụng mật

Dạ dày: bệnh loét*, tắc, vỡ thứ phát do chấn thương làm dập

Hỗng hoặc hồi tràng: viêm dạ dày-ruột do virus*, bệnh do gardia*, tắc, bệnh Crohn, nhồi máu, lồng ruột.

Đại tràng: hội chứng kích thích ruột*, tắc, viêm túi thừa*, u carxinom, viêm loét kết tràng, soắn, nhiễm khuẩn, viêm ruột thừa*.

Mạc treo tràng: viêm hạch bạch huyết, huyết khối hạch mạc treo.

Tụy tạng: viêm tụy cấp hoặc mãn tính, u tân tạo.

Nguyên nhân cơ xương

 

Cột sống: viêm rễ thần kinh do viêm khớp, gãy cột sống, viêm xương-tủy

: thoát vị*, tụ máu, cơ cǎng quá mức*, áp xe vết thương

Nguyên nhân ở ngực

 

Tim: nhồi máu cơ tim (đặc biệt ở thành dưới tim), cơn đau thắt ngực, viêm ngoại tâm mạc.

Phổi: viêm phổi, viêm màng phổi, nghẽn mạch phổi.

Nguyên nhân tâm thần

 

Trầm cảm, hoang tưởng, lo âu, sợ học, loạn chức nǎng tình dục, các bệnh tâm thể khác (xem chương 38)

Nguyên nhân thần kinh

 

Bệnh tabét, bệnh zona, chứng hỏa thống

Nguyên nhân mạch máu

 

Động mạch chủ: phình mạch, vỡ mạch

Lách: nhồi máu, vỡ thứ phát do chấn thương

Nguyên nhân đường tiết niệu

 

Thận: u thận, viêm thận-bể thận*, áp xe quanh thận

Niệu quản: sỏi*

Bàng quang: nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới*, dãn do tắc đường ra*, vỡ thứ phát do chấn thương

Nguyên nhân ngoài da

 

Bệnh zona, viêm mô tế bào, chấn thương

Nguyên nhân sinh dục

 

Nam giới: viêm tuyến tiền liệt, dập hoặc xoắn tinh hoàn

Nữ giới:

Buồng trứng: u nang*, soắn, u

Vò Fallốp: chửa ngoài tử cung, áp xe vòi-buồng trứng, bệnh viêm chậu hông*

Tử cung: bệnh viêm chậu hông*, soắn u xơ, đau bụng kinh*, đau giữa hai kỳ kinh.

Các nguyên nhân khác

 

Urê máu cao, rối loạn chuyển hóa porphirin, nhiễm độc chì, nhện đen cắn.

*Nguyên nhân thường gặp ở cơ sở chǎm sóc ban đầu.

Trong lúc triển khai chẩn đoán phân biệt, hãy cố gắng xác định cơ quan nào có thể có bệnh. Thường thì khám thực thể đã tách riêng được một vùng đau rõ rệt và trong vùng đó chỉ có một hoặc hai cơ quan. Tuy nhiên hãy nhớ rằng lớp cơ thành bụng và các xương sườn cũng có thể gây đau bụng. Cũng có nhận xét rằng đối với các tạng thì thường đâu lan, nhưng đau phản ứng thành bụng rất ít lan.

Hơn nữa, hãy xem lại cẩn thận phần bệnh sử vì có thể ta đang quan sát một tình trạng tiến triển.Ví dụ đau chói đột ngột ở chậu hông rồi chuyển thành đau lan rộng hơn thì có thể là do vỡ chửa ngoài tử cung hoặc u nang buồng trứng. Mặt khác, viêm ruột thừa bị vỡ thì bệnh nhân lại nói là đau có đỡ hơn trong một thời gian. Hãy nhớ rằng đau mãn tính thường gây ra bởi các nguyên nhân khác với nguyên nhân gây đau cấp tính. Bảng 25.3 liệt kê các nguyên nhân gây đau bụng mãn tính.

Bảng 25.3. Các nguyên nhân gây đau bụng mãn tính hoặc tái phát

Tương đối hay gặp

Tương đối hiếm gặp

Bệnh loét

Hội chứng kích thích ruột

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái phát bệnh viêm chậu hông tái phát

Sỏi mật (trước khi cắt túi mật)

U nang buồng trứng

Lạc nội mạc tử cung

Sẹo dính*

Bệnh Crohn

Vêm loét kết tràng

Viêm tụy tạng mãn tính

Viêm gan mãn tính hoặc tái phát

Hội chứng hấp thu kém

Viêm túi thừa

Bệnh ký sinh trùng

Bệnh rối loạn chuyển hóa porphirin

Thiếu máu hồng cầu hình liềm

Sỏi thận hoặc sỏi niệu quản

*Vẫn còn tranh cãi liệu dính có gây đau không. Các tác giả tin rằng đó là nguyên nhân gây đau, nhưng cần thận trọng khi dùng chẩn đoán này.

Từ những điều bạn biết được về vị trí giải phẫu, thời gian diễn biến của bệnh, nguyên nhân có thể, lại biết tuổi và tiền sử của bệnh nhân thì bạn sẽ hình thành được chẩn đoán phân biệt. Phải luôn luôn tìm kiếm cẩn thận các vấn đề ngoại khoa (ví dụ, chưa ngoài tử cung, viêm ruột thừa, ung thư đại tràng), vì các trường hợp này không hay thể hiện như mô tả kinh điển, và do đó dễ bị bỏ qua trừ khi được đặc biệt chú ý.

Đối với những bệnh nhân có vấn đề lâm sàng nghi vấn là cấp tính và/hoặc bệnh nguy hiểm đến tính mệnh, thì phải hội chẩn với các nhà chuyên khoa thích hợp càng sớm càng tốt. Tùy theo bản chất chính xác của bệnh mà hội chẩn hoặc gửi tới nhà chuyên khoa ngoại chung, phụ khoa, tiết niệu hay tiêu hoá. Các chuyên gia này, mỗi người sẽ đóng góp các kỹ nǎng biện pháp riêng và các hiểu biết thuộc lĩnh vực của mình. Những điều này có thể cần đến trong việc chữa trị cho bệnh nhân. Tham vấn sớm tạo thuận lợi cho sự phối hợp và thúc đảy việc chǎm sóc bệnh nhân cũng như việc quan sát các dấu hiệu và triệu chứng trong lúc chúng đang diễn biến.

Trường hợp 1.1

Viêm ruột thừa cấp

Viêm ruột thừa cấp thường bắt đầu do chất phân làm tắc nghẽn ruột hoặc thành ruột bị viêm sưng. Tắc nghẽn và viêm làm cho ruột thừa bị cǎng dãn ra. Vì ruột thừa xuất phát từ ruột giữa ở phôi thai, nên khi bị cǎng dãn sẽ gây đau quanh rốn kém khu trú. Chán ǎn, nôn, sốt nhẹ và tǎng bạch cầu với công thức chuyển dịch sang trái là các triệu chứng điển hình. Khám thực thể ở giai đoạn này chưa thấy phản ứng thành bụng; nhưng bệnh nhân có nhạy cảm đau khu trú quanh rốn hoặc ở phần tư bụng dưới phải.

Thảo luận các trường hợp

Khi viêm tiến triển tới lớp thanh mạc ở bề mặt ruột thừa, thì kích thích phúc mạc tại chỗ xảy ra. Kết quả khám thực thể phụ thuộc vào vị trí giải phẫu của ruột thừa. Ruột thừa viêm ở trước manh tràng gây ra đau ở phần tư bụng dưới phải với phản ứng thành bụng như mô tả kinh điển. Nếu ruột thừa ở sau manh tràng thì khi bị viêm có thể không gây ra phản ứng thành bụng, nhưng lại có thể gây ra dấu hiệu cơ thắt lưng dương tính (đau khi ruỗi đùi do ruột thừa viêm nằm trên cơ thắt lưng kích thích vào cơ này), hoặc gây ra nhạy cảm đau lúc thǎm trực tràng sâu. giai đoạn này ǎn mất ngon và nôn là triệu chứng phổ biến nhất.

Nếu không được điều trị, ruột thừa viêm có thể bị vỡ và gây nhiễm khuẩn ổ bụng. Ruột thừa vỡ có thể tạm thời làm bệnh nhân giảm đau vì ruột không còn cǎng dãn nữa. Nhưng bệnh nhân sẽ đau lại nhanh khi nhiễm khuẩn và viêm phúc mạc bắt đầu. Nếu mạc nối lớn đến bao quanh ổ viêm thì các dấu hiệu phúc mạc địa phương vẫn tồn tại. Nếu ổ nhiễm khuẩn không được nhanh chóng bao bọc lại thì sẽ xảy ra viêm phúc mạc toàn thể với phản ứng thành bụng ở mọi điểm. Lúc này bệnh nhân thể hiện rõ tình trạng nhiễm độc toàn thân và với chẩn đoán là trường hợp cấp cứu bụng thì yêu cầu nhập viện ngay đã hiển nhiên.

Trường hợp 1.2

Bệnh viêm chậu hông

Bệnh viêm chậu hông là để chỉ nhiễm khuẩn ngược dòng của tử cung, các vòi Fallốp, và các dây chằng rộng. Chẩn đoán bệnh viêm chậu hông cấp tính có thể khó khǎn và phải phân biệt với các nguyên nhân khác cũng gây đau chậu hông cấp tính, như chửa ngoài tử cung, viêm ruột thừa cấp, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, biến chứng của u nang buồng trứng. Bệnh viêm chậu hông cấp hầu như là bệnh riêng của phụ nữ trong tuổi hoạt động tình dục. Các yếu tố nguy cơ chính là: tuổi từ 15 đến 25, có tiền sử bệnh viêm chậu hông, sử dụng dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung, có nhiều bạn tình, hoặc có một bạn tình có triệu chứng viêm niệu đạo. những người uống thuốc ngừa thai cũng như dùng màng ngǎn tránh thai thì nguy cơ mắc bệnh viêm chậu hông thấp hơn.

Bệnh viêm chậu hông cấp có triệu chứng điển hình là đau bụng không rõ rệt trên đường giữa bụng do viêm nội mạc tử cung gây ra hoặc đau bụng dưới hai bên và đau chậu hông do viêm vòi trứng gây ra. Bệnh viêm chậu hông cấp do lậu cầu thì cấp tính rõ rệt hơn là do Chlamydia, mặc dù cả hai đều thường kết hợp với rong kinh nặng bất thường. Bệnh nhân cũng có thể bị đau bụng toàn thể do viêm phúc mạc hoặc đau phần tư bụng trên phải do viêm quanh gan. Đau có thể đi kèm buồn nôn, nôn, hoặc chảy máu hay xuất tiết dịch âm đạo bất thường.

Khi khám thực thể có thể nhận thấy sốt và những thay đổi về tư thế. Khi khám bụng hãy tìm những dấu hiệu phúc mạc. Khám trong thường thấy có dịch xuất tiết cổ tử cung mủ nhày và viêm cổ tử cung. Nhạy cảm đau khi di động cổ tử cung (dấu hiệu Chandelier) cũng hay thấy nhưng không đặc hiệu cho bệnh viêm chậu hông. Khám bằng hai tay (thǎm âm đạo đồng thời ấn trên bụng-ND) thường thấy nhạy cảm đau ở đáy tử cung do viêm nội mạc tử cung và nhạy cảm đau phần phụ do viêm vòi trứng thường gặp nhưng không phải bao giờ cũng viêm cả hai bên. Khám một bệnh nhân mà thấy khối u phần phụ thì phải làm thêm siêu âm. Nhiều phụ nữ bị bệnh viêm chậu hông cấp khi đếm tế bào máu thấy tǎng bạch cầu hoặc tǎng tốc độ lắng hồng cầu, nhưng khi không có những thay đổi này thì cũng không thể loại trừ

khả nǎng bị bệnh viêm chậu hông cấp. Hòa bệnh phẩm trong nước muối rồi soi dưới kính hiển vi mà thấy có các tế bào viêm thì càng củng cố thêm chẩn đoán. Phết dịch xuất tiết cổ tử cung trên lam kính rồi nhuộm Gram thì có thể thấy các song cầu Gram(-) nội bào, điều này cho phép nghĩ tới nhiễm lậu cầu, tuy chưa đủ lý do để chẩn đoán. Một khi đã chẩn đoán là bệnh viêm chậu hông cấp thì phải điều trị ngay không đợi kết quả cấy vi khuẩn. Các vi sinh vật gây bệnh hay gặp nhất là Neisseria gonomheae và Chlamydia trachomatis, nhưng điều trị vẫn cần bao trùm cả những vi khuẩn yếm khí, các tác nhân gây bệnh đường ruột Gram(-) và cả Mycoplasma sinh dục. Ngay tù đầu phải loại trừ khả nǎng có thai, và sau đó phải quyết định xem có hay không nên cho bệnh nhân nhập viện. Nếu bệnh nhân không sốt và có thể uống thuốc và các chất dịch thì chữa ngoại trú là thích hợp. Sách hướng dẫn của Trung Tâm Kiểm Tra Bệnh khuyên nên điều trị bằng Ceftriaxone 250mg tiêm bắp thịt (liều duy nhất) tiếp theo bằng Doxycycline 100mg/ngày trong 14 ngày. Chỉ định nhập viện dành cho các trường hợp: không đồng ý chữa ngoại trú có thai, viêm phúc mạc, nghi vấn áp xe chậu hông, sốt cao hơn 38? C, hoặc không đáp ứng điều trị ngoại trú trong vòng 72 giờ. Bệnh nhân của các trường hợp vừa nói trên và các bệnh nhân có các bệnh tiềm ẩn khác, rất dễ bị nhiễm khuẩn máu và có khi tử vong. Nếu nhập viện thì điều trị họ bằng Cefoxitin và Doxycycline hay clindamcyin và Gentamycin.

Điều chủ yếu là phải giáo dục bệnh nhân đề phòng các bệnh lây truyền qua đường tình dục và cách ngừa thai. Cũng bắt buộc phải điều trị cả chồng hoặc bạn tình, và phải bảo bệnh nhân quay lại khi các triệu chứng không đỡ trong một vài ngày. Nếu đỡ thì trở lại sau 1 đến 2 tuần để cấy vi khuẩn lại.

Trường hợp này chứng minh tầm quan trọng của việc thiết lập mối quan hệ tin cẩn, không ngờ vực với người bệnh nhân trẻ bị đau chậu hông. Không khí tin tưởng sẽ làm thầy thuốc thu được các thông tin về hoạt động tình dục, cách ngừa thai, bệnh phụ khoa trong tiền sử, cũng như tiền sử lạm dụng tình dục của bệnh nhân. Điều này có thể là nặng nề đối với bệnh nhân trẻ đặc biệt là nếu chị ta mới khám chậu hông lần đầu tiên. Chẩn đoán và chǎm sóc bệnh viêm chậu hông kịp thời là rất quan trọng nhằm tránh các biến chứng lâu dài như đau chậu hông mãn tính và vô sinh.

Trường hợp 2.1

Carxinôm đại tràng

Ung thư đại tràng phần thầm lặng trong giai đoạn đầu và đến lúc đau bụng nhiều thì bệnh đã tiến triển. Đau có chiều hướng tǎng lên khi lòng ruột bị thắt hẹp làm cho phân khó đi qua. Tắc ruột không hoàn toàn tǎng dần thể hiện bằng chướng bụng và cảm giác khó chịu. Các triệu chứng khác là sút cân, mệt mỏi do thiếu máu và nhìn thấy máu trong phân. Phòng và phát hiện bệnh sớm là hi vọng tốt nhất hiện nay để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do bệnh này. Có chứng cớ cho rằng thay đổi yếu tố nguy cơ bằng cách ǎn chế độ ít mỡ, nhiều chất xơ có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư đại - trực tràng. Trong số các biện pháp kiểm tra thường quy để phát hiện Carxinôm đại tràng có nội soi đại tràng xích-ma và xét nghiệm tìm máu trong phân. Đây là yêu cầu do Hội Ung Thư Mỹ đưa ra nhưng chưa được chấp nhận phổ biến.

Đề phòng và phát hiện sớm thì có thể chữa bằng phẫu thuật được. Rủi thay, khi ung thư đã có triệu chứng rồi mới phát hiện thì tỷ lệ sống sót là nhỏ. Chǎm sóc liên tục và toàn diện, đặc biệt là với những bệnh nhân không triệu chứng hoặc có triệu chứng tối thiểu, là biện pháp tốt nhất để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của bệnh ung thư đại tràng.

Trường hợp 3. 1

Bệnh loét (dạ dày-tá tràng)

Chảy máu cấp do loét dạ dày có thể gây mất máu đe dọa đến tính mạng. Tuy nhiên tình trạng này cũng không hay gặp vào lúc đến khám. Thường gặp hơn nhiều là các bệnh nhân đến khám với một nhóm triệu chứng thường được gọi là khó tiêu hoặc nhiều toan. Các triệu chứng này bao gồm:

- Cảm giác khó chịu nóng rát hoặc đau lâm râm vùng thượng vị, giảm nhẹ khi ǎn hay dùng thuốc kháng toan.

- Các triệu chứng tǎng lên khi đói bụng hoặc khi dùng các chất kích thích đường tiêu hóa như aspirin, rượu, càphê.

- Đau thường mạnh nhất vào chiều tối hoặc lúc đêm khuya.

Các triệu chứng thường hay mờ nhạt lúc khởi phát rồi tǎng dần trong vài tuần hay vài tháng.

Các triệu chứng khó tiêu đặc biệt này thường đưa đến chẩn đoán "bệnh tiêu hoá". Bệnh tiêu hóa phổ biến với tỷ lệ dân số bị loét tá tràng là 6-15%. Loét là bệnh dễ tái phát: Có 60% loét tá tràng đã khỏi lại tái phát sau 1 nǎm và 80 đến 90% tái phát sau 2 nǎm. Nhiều yếu tố bên ngoài như dùng thuốc, rượu, thuốc lá, các stress và chế độ ǎn có thể ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc bệnh và độ trầm trọng của bệnh.

Chẩn đoán bệnh tiêu hoá thường không cần các xét nghiệm. Đa số bệnh nhân loại này đến sớm thì khi chụp X-quang sẽ không thấy hình ảnh loét rõ rệt trên phim. Thay vào đó họ thường bị viêm dạ dày, viêm thực quản, hay viêm tá tràng. Những trường hợp như thế có thể chẩn đoán bằng nội soi dạ dày-ruột; nhưng hãy cứ điều trị họ theo đoán nhận qua hỏi bệnh là tốt hơn. Hãy điều trị họ bằng thuốc kháng toan, thuốc chẹn-H2 hoặc cả hai và đánh giá lại sau 2-4 tuần lễ. Nếu các triệu chứng hết thì chỉ cần giảm dần liều thuốc trong vài tuần hay vài tháng là đủ. Nếu các triệu chứng không hết thì cần đánh giá lại bằng X-quang hay nội soi. Tuy nhiên khi khởi đầu công việc hãy lấy ba mẫu phân để tìm máu và cũng kiểm tra tìm trạng thiếu máu…

Cách chǎm sóc thích hợp cǎn bệnh mãn tính phổ biến này phải có hiệu quả trên nhiều mặt. Thay đổi chế độ ǎn cho thích hợp là quan trọng kể cả kiêng rượu và thuốc lá. Cần cảnh báo bệnh nhân về sử dụng thuốc như aspirin và thuốc kháng viêm không phải steroid. Thầy thuốc phải giải thích cho bệnh nhân về vai trò của stress đối với cǎn bệnh này và bày cho họ cách tránh các stress hoặc một chiến lược thay đổi cách sống. Các chế độ phòng bệnh như dùng thuốc chẹn-H2 lâu dài cũng làm giảm tái phát. Cuối cùng cần phát hiện và điều trị sớm tái phát để ngǎn ngừa các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

Trong số bệnh nhân có triệu chứng loét đến khám ở khu vực chǎm sóc sức khỏe ban đầu thì đa số bị viêm dạ dày, viêm thực quản, viêm tá tràng hơn là loét thực sự. Cho tới khi mà điều trị còn làm bệnh nhân đỡ thì chẩn đoán chính xác cũng không quan trọng, do đó nhiều thầy thuốc gia đình điều trị những bệnh nhân này chỉ dựa vào hỏi bệnh và khám thực thể (kể cả lấy mẫu phân để xét nghiệm máu ẩn) và có lẽ làm thêm xét nghiệm hêmôglôbin huyết thanh hoặc hêmatôcrit. Chỉ những bệnh nhân không đáp ứng điều trị trong vòng 4 tuần mới cần làm nội soi hoặc X-quang dạ dày-tá tràng.

Trường hợp 3.2

Lạc nội mạc tử cung

Lạc nội mạc tử cung là sự phát triển lạc chỗ của lớp nội mạc ra bên ngoài tử cung. Mặc dù là bệnh mãn tính, không tiến triển, nhưng nó là nguyên nhân quan trọng gây đau mãn tính và vô sinh. Lạc nội mạc tử cung hay xảy ra nhất vào tuổi từ 30 đến 40, nhưng cũng có thể xuất hiện vào bất kỳ tuổi nào sau kỳ kinh đầu tiên và trước lúc mãn kinh. ước tính có từ 5 đến 15% số phụ nữ ở tuổi sinh đẻ và từ 30 đến 5% số phụ nữ phải phẫu thuật chữa vô sinh mắc bệnh này. Bệnh thể hiện bằng đau chậu hông mãn tính xảy ra trước và trong mỗi kỳ hành kinh. Các triệu chứng khác bao gồm: đau khi giao hợp, đau khi đại tiện, và vô sinh. Giữa mức độ đau và tình trạng bệnh mối tương quan không đáng kể.

Khám thực thể có thể thấy tử cung bị cố định, hạch đau nằm dọc theo dây chằng tử cung-cùng hoặc buồng trứng có nang dãn rộng. Chẩn đoán sẽ được khẳng định bằng nhìn trực tiếp thông qua nội soi ổ bụng. Quyết định điều trị phụ thuộc vào mức độ đau của bệnh nhân, ý muốn sinh đẻ tình trạng bệnh và kết quả lần điều trị trước. Hướng điều trị bao gồm theo rõi (bệnh nhẹ không kèm đau hoặc vô sinh) liệu pháp ức chế nội tiết (bệnh vừa phải), phẫu thuật bảo tồn (nếu còn muốn sinh đẻ), hoặc cắt tử cung toàn phần và cắt vòi buồng trứng cả hai bên.

Đánh giá đau chậu hông mãn tính hầu như là một thách thức đối với thầy thuốc. Điều quan trọng đầu tiên là phải lập cẩn thận một bệnh sử về y tế, xã hội, tình dục và khám thực thể chu đáo. Đối với phụ nữ đau chậu hông kéo dài ít nhất 6 tháng ở cùng một vị trí, thì tốt nhất là nội soi ổ bụng. Trong số các phụ nữ này sẽ thấy 1/3 là bình thường, 1/3 bị lạc nội mạc tử cung và 1/3 còn lại có dính. Mối tương quan giữa những tình trạng khác nhau nói trên với mức độ đau và đáp ứng với điều trị còn chưa rõ rệt. Nhiều nghiên cứu nói tới tiền sử tâm lý-tình dục (ví dụ, cưỡng dâm, loạn luân, bị lạm dụng tình dục lúc còn nhỏ) có ở từ 20 đến 48% số phụ nữ đau chậu hông mãn tính.

phụ nữ, đau chậu hông mãn tính thường không xác định được nguyên nhân thực thể và nếu có thì điều trị thường không giải quyết được đau. Để làm giảm đau từ lúc bắt đầu điều trị phải có một biện pháp toàn bộ, bao gồm sự quan lâm đến các yếu tố tâm lý và tình dục cũng như đánh giá thực thể một cách cẩn thận. Biện pháp này tỏ ra có hiệu quả hơn là biện pháp truyền thống chỉ dùng thuốc. Các bệnh nhân có tiền sử chấn thương tâm lý tình dục lớn phải được gửi điều trị thích hợp.

Trường hợp 4

Hội chứng ruột dễ bị kích thích

Hội chứng ruột dễ bị kích thích hợp bệnh mãn tính, lành điển hình định chẩn đoán cũng như điều trị không hề có yếu tố nào là cấp cứu. Hội chứng ruột dễ bị kích thích phổ biền với tỷ lệ dân số chung bị mắc vào khoảng 32% (1). Bệnh bao gồm một nhóm các rối loạn không đồng nhất, thể hiện bởi các triệu chứng thực quản, dạ dày, hoặc đại tràng. Có nhiều tên gọi đồng nghĩa như đại tràng co thắt, hoặc đại tràng dễ bị kích thích. Các triệu chứng điển hình là: (a) đau bụng, cả đau co cứng và đau chướng bụng, thường đỡ khi đại tiện và (b) có các thời kỳ tǎng nhu động ruột bất thường, đôi khi xen kẽ bởi các thời kỳ táo bón và đại tiện có chất nhầy ra theo phân. Khi khám bụng có thể sờ thấy đại tràng xuống, đau khi ấn, hoặc chẳng tìm thấy điều gì bất thường. người trẻ tuổi bệnh cảnh lâm sàng này không có vẻ gì là của một bệnh nghiêm trọng do đó chẩn đoán bệnh có thể theo suy đoán và bất đầu xây dựng một kế hoạch điều trị thích hợp. Chỉ khi bệnh nhân không đáp ứng với điều trị, hoặc có các triệu chứng mới khác xuất hiện thì mới cần làm xét nghiệm hay thủ thuật đặc biệt như nội soi đại tràng xích-ma. Thông thường thì quyết định làm các xét nghiệm này không phải do thầy thuốc muốn để loại trừ các chẩn đoán khác, mà do bệnh nhân yêu cầu để biết chắc chắn không có bệnh gì nghiêm trọng.

Chǎm sóc hội chứng ruột dễ bị kích thích bao gồm việc giáo dục bệnh nhân tự điều trị các triệu chứng và tìm ra các yếu tố nào làm cho bệnh của mình nặng thêm hay đỡ hơn. Điều trị triệu chứng bao gồm thay đổi chế độ ǎn mà hiệu quả rất khác nhau ở từng bệnh nhân, và sử dụng cẩn thận thuốc chống co thắt trong các đợt bị nặng. Stress đóng vai trò quan trọng làm bùng phát hội chứng ruột dễ bị kích thích. Phải tìm ra và giải quyết các yếu tố tâm lý làm cho các triệu chứng nặng thêm như tranh chấp việc làm, mâu thuẫn gia đình. Dần dần các triệu chứng tái phát lại có thể là dấu hiệu của các điều tệ hại hơn như trầm cảm, lo buồn không cách giải quyết, rối loạn trong gia đình. Những điều này còn quan trọng đáng để tâm tới hơn là các triệu chứng ở bụng. Thường bệnh nhân đáp ứng tốt với biện pháp liên tục và toàn diện nói trên dùng để chǎm sóc y tế cho họ. Tuy nhiên bệnh nhân ít khi khỏi hoàn toàn, mà các triệu chứng chỉ giảm dần dần và bệnh nhân sẽ biết xử lý thích hợp và hiệu quả đối với các triệu chứng mỗi khi chúng xuất hiện.

KẾT LUẬN

Đau bụng là một triệu chứng thường gặp trong khám bệnh hàng ngày. Cũng như phần lớn các vấn đề y tế khác, bước đầu tiên và quan trọng nhất để thiết lập một kế hoạch chẩn đoán và điều trị là phải điều tra bệnh sử toàn diện và khám thực thể. Trong đánh giá ban đầu cũng cần đến một số xét nghiệm cận lâm sàng. Thầy thuốc phải cảnh giác trước những dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ các bệnh cấp tính/nguy hiểm đến tính mệnh. Bệnh nhân có bệnh khẩn cấp tính thì điều trị kịp thời và ít phí tổn. Đối với bệnh nhân có bệnh mãn tính và tái phát thì phải tuân theo nguyên tắc chǎm sóc liên tục và toàn diện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Mcleod ME: iritable bowel syndrome NC Med J 47: 245, 1986.

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn