Sách » Y Học - Sức Khỏe » Y học gia đình

Chương 15: Chǎm sóc trẻ em khỏe mạnh

Chương 15: chǎm sóc trẻ em khỏe mạnh

LeeA. Beautty và F. Lewis Sigmon, Fr

Chǎm sóc trẻ em khỏe mạnh là một trong những lĩnh vực đầy thách thức nhưng cũng đáng được làm nhất của thực hành Y tế gia đình. các phòng khám riêng nó chiếm một phần lớn công việc. Cha mẹ và những người chǎm sóc đứa trẻ thường đánh giá nǎng lực toàn diện của một bác sĩ qua cảm nhận của họ về khả nǎng bảo đảm chǎm sóc trẻ em tốt. Y học dự phòng và việc giáo dục sức khỏe cho trẻ em từ lúc mới sinh tới 16 tuổi là con đường mà bác sĩ gia đình có thể có ảnh hưởng tốt tới sức khỏe của thế hệ tương lai.

Chǎm sóc sức khỏe cho trẻ em khỏe mạnh có thể chia làm 4 lĩnh vực: (a) xác định yếu tố nguy cơ; (b) tiêm chủng; (c) sàng lọc; (d) giáo dục. Chương này bàn luận về chǎm sóc tốt trẻ em từ lúc mới sinh tới 16 tuổi.

Chǎm sóc trẻ em khỏe mạnh được thực hành trong bối cảnh của sự tiếp cận hệ thống y tế gia đình đã được bàn tới trong chương 3.

XáC ĐịNH YếU Tố NGUY CƠ

Xác định yếu tố nguy cơ ở trẻ em khỏe mạnh là một quá trình bao gồm thu thập tiền sử, khám thục thể và các số liệu cận lâm sàng nhằm xếp nhũ nhi, trẻ em hoặc vị thành niên vào nhóm có nguy cơ cao khiến bạn phải cải biên chương trình quản lý. Lịch sử gia đình, xã hội, quá khứ hay kiểm tra hệ thống có thể xác định yếu tố nguy cơ nhằm gợi ý cho bạn quản lý sức khỏe với một trọng tâm riêng. Sự phỏng vấn, khám sàng lọc và các test cận lâm sàng có thể làm thay đổi những chǎm sóc thường qui cho từng đứa trẻ.Ví dụ một đứa trẻ có tính trạng di truyền hoặc bệnh hồng cầu liềm trong gia đình sẽ cần phải được thử test sàng lọc tim Hemoglobin S đồng hợp tử. Kết quả dương tính đòi hỏi phải theo dõi sát các triệu chứng, dấu hiệu và các xét nghiệm về bệnh thiếu máu tan máu. Ví dụ khác là một trẻ gái vị thành niên có hoạt động tình dục cần được sàng lọc về các bệnh lây qua đường sinh dục và dị sản cổ tử cung vào những khoảng thời gian thích hợp và phải được tư vấn về vấn đề quản lý sinh nở.

Yếu tố nguy cơ có thể được phát hiện đầu tiên từ tiền sử bệnh. Thông tin tâm lý xã hội phải được tìm kiếm vì yếu lố nguy cơ có thể nổi lên hoặc biến đổi theo tình trạng sống chật chội, đói nghèo, rắc rối gia đình, nơi ở, nguồn lực cộng đồng, lối sống của cha mẹ (như hút thuốc thụ động) v.v ...

Thǎm bệnh định kỳ một trẻ khỏe mạnh giúp bạn có cơ hội cập nhật các yếu tố nguy cơ nếu chúng trả lời các câu hỏi như: Có gì đổi khác từ lần cuối cùng tôi gặp cháu (hoặc con của anh, chị)? trường cháu học ra sao?... nhà? Danh sách về các vấn đề nên bao gồm các yếu tố nguy cơ và các nhắc nhở để tiến hành những test sàng lọc cần thiết hoặc giáo dục trẻ trong những lần thǎm khám tiếp theo.

TạO MIễN DịCH

Tạo miễn dịch đã làm giảm đáng kể tỉ lệ mắc bệnh và tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm. Bảng 15.1 nêu ra những khuyến nghị về tiêm chủng cho trẻ em của Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ. Bộ Y tế Mỹ cũng có khuyến nghị tương tự với một vài thay đổi nhỏ, đặc biệt là xung quanh vấn đề khì nào thì tiêm mũi MMR nhắc lại. Có những chống chỉ định tương đối và tuyệt đối, đối với một số loại tiêm chủng và thêm lịch lựa chọn cho những trẻ tiêm chủng không đủ theo như khuyến nghị (1). Vac-xin kết hợp Haemophilus b (HbCVs) hiện có, hơi khác với lịch thường qui đã khuyến nghị như được nêu trong bảng 15.2 (2). Tiêm chủng Vac-xin chống viêm gan B được khuyến nghị vào tháng thứ 2, 4 và thứ 6 bởi Bộ Y tế, còn Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ lại khuyến nghị tiêm chủng vào khi mới đẻ, tháng thứ 1 đến 2 và tháng thứ 16 đến 18 như lịch tiêm chủng thường qui cho trẻ em.

Bảng 15.1. Lịch tiêm chủng khuyến nghị cho trẻ em khỏe mạnh

Tuổi

Tiêm chủng

Ghi chú

Lúc mới sinh

HBV

 

2 tháng

DTP, HbCV, OPV, HBV

Có thể bắt đầu DTP và OPV từ sớm vào kgoảng 4 tuần

4 tháng

DTP, HbCV, HBV

 

6 tháng

DTP, HbCV, HBV

Liều OPVthứ 3 được khuyến nghị ở các nước có dịch bại liệt

15 tháng

MMR, HbCV

 

18 tháng

DTP, OPV

 

4-6 tuổi

DTP, OPV

Thường tiêm chủng trước khi tới trường; không tiêm chủng ho gà sau tuổi thứ 7; đôi khi tiêm MMR nhắc lại vào dịp này

11-12 tuổi

MMR

Khuyến nghị tiêm chủng MMR nhắc lại còn chưa được chuẩn hóa

14-16 tuổi

Td

Nhắc lại mỗi 10 nǎm trong suốt cuộc đời

DTP: Vacxin ho gà và vacxin dạng độc tố bạch hầu và uốn ván; HbCV: Haemophilus b _ vacxin liên hợp; OPV: Vacxin bại liệt uống chứa virut bại liệt suy yếu type 1,2 và 3; MMR: Vacxin phòng chống sởi, quai bị và rubella (Vacxin phối hợp); Td: Dạng độc tố uốn ván (nguyên liều) cho người lớn và dạng độc tố bạch hầu (liều giảm) cho người lớn; HBV: Vacxin viêm gan virut B.

Bảng 15.2. Lịch tiêm vacxin với vacxin Haemophilus phổ cập

Vacxin

Tuổi cho liều đầu (tháng)

Loại liều đầu

Nhắc lại

HbOC (Lederle-praxis)

2-6

3 liều cách nhau 2 tháng

15 tháng

 

7-11

2 liều cách nhau 2 tháng

15 tháng

 

12-14

1 liều

15 tháng

 

15-29

1 liều

Không

PRP-OMP

2-6

2 liều cách nhau 2 tháng

12 tháng

Merck Sharp and Dohme

7-11

2 liều cách nhau 2 tháng

15 tháng

 

12-14

1 liều

15 tháng

 

15-59

1 liều

Không

PRP-D (Connaught)

15-59

1 liều

Không

Các vac-xin có nguy cơ gây nên những phản ứng bất lợi, tuy ít nhưng rõ rệt. Các phản ứng này có thể là từ sốt nhẹ và kích ứng tới sốc phản vệ và chết.

Vac-xin phòng ho gà đã gây tiếng xấu về những phản ứng không lợi (viêm não nhiễm độc) Trên thực tế, phản ứng trầm trọng hầu như hiếm và thường bị chẩn đoán nhầm. Như vậy, những lợi ích của vac-xin ho gà vượt xa những nguy cơ do nó gây ra trong đa số các trường hợp. Khi tư vấn cho bệnh nhân về những tiềm nǎng tác dụng bất lợi, nên nhớ rằng các phản ứng với vac-xin dạng độc tố (DTP và HbCV) xảy ra trong vòng 48 giờ, trong khi phản ứng với các vac-xin sống xảy ra muộn hơn. Đặc biệt, cần báo trước cho bố mẹ đứa trẻ được tiêm chủng MMR rằng con họ có thể bị phát ban nhẹ, đau khớp và sốt nhẹ vào 8 đến 12 ngày sau.

Sử dụng virus sống để tiêm chủng (ví dụ sởi / quai bị / rubêôn (rubella) và vac-xin uống chống bại liệt) khi đang mang thai hoặc ở người có tổn hại miễn dịch sẽ làm tǎng nguy cơ gây bệnh lâm sàng. Trước khi lãnh trách nhiệm tiêm chủng cho một người nào đó trong diện trên, người cung cấp dịch vụ Y tế cần nắm rõ những thông tin liên quan đến vac-xin hiện hành, phải tự nguyện và có khả nǎng chuyển tải những thông tin đó một cách đầy đủ, dễ hiểu cho người chǎm sóc đứa trẻ. Lý tưởng nhất là có kèm tài liệu cho họ đem về nhà.

CHẩN ĐOáN SàNG LọC

Sàng lọc là quá trình phát hiện bệnh khi bệnh chưa có biểu hiện gì. Vì bệnh nhân không có triệu chứng, sự tìm kiếm được tiến hành bằng khám thực thể hoặc test cận lâm sàng. Vai trò của tiền sử trong bối cảnh này là quan trọng, nhằm xác định các yếu tố nguy cơ (ví dụ tiền sử gia đình về bệnh thiếu máu cơ tim). Như vậy các biện pháp sàng lọc có thể được sử dụng chọn lọc hơn.

Khám thực thể sàng lọc

Khám sàng lọc nhanh thường được tiến hành ở mỗi lần thǎm khám một trẻ khỏe mạnh. Không phải tất cả các phần của cuộc khám đều có giá trị như nhau ở một trẻ không có triệu chứng. Vì vậy phải chú ý đặc biệt đến những khía cạnh có nghĩa nhất cho những số liệu lâm sàng hữu dụng. Đoạn sau đây là hệt kê một phần những vấn đề có thể có những triệu chứng khó thấy, hoặc không thấy, nhưng lại có thể phát hiện được thông qua việc khám tỉ mỉ kỹ lưỡng.

SINH TRƯởNG Và PHáT TRIểN

Sinh trưởng kém được nhận ra bởi mô hình sinh trưởng sai lệch có thể là đặc điểm biểu hiện của một số các rối loạn như bệnh nội tiết, tim hoặc thận. Chiều cao, cân nặng, vòng đầu phải được đo trong mọi lần khám thường qui tại phòng trong hai nǎm đầu tiên (vòng đầu được hoàn chỉnh khoảng 90% khi đạt 2 tuổi).

Thứ nữa, chiều cao, cân nặng phải được đo thường xuyên đối với mọi trẻ khỏe mạnh trong suốt thời kỳ vị thành niên. Béo phì có thể được ghi nhận bằng cách vẽ đường cong sinh trưởng. Tỷ lệ mắc bệnh tǎng theo chứng béo phì kéo dài đã được ghi nhận, khiến việc phát hiện, dự phòng béo phì ở tuổi thơ ấu trở nên quan trọng.

Phát triển cơ thể được theo dõi bằng các mốc quan trọng tương ứng với lứa tuổi về các kỹ nǎng tri thức, vận động và xã hội (xem phần tham khảo thêm). Phương pháp chung nhất để đánh giá phát triển là DDST: test sàng lọc về phát triển Denver. DDST xác định những trẻ phát triển chậm bất thường để có thể thực hiện các nghiên cứu đánh giá và can thiệp thích hợp. Các danh mục đánh giá của DDST có thể lồng ghép với test sàng lọc khác, các ghi nhớ về tiêm chủng và giáo dục để hình thành nên một lịch trình quản lý sức khỏe.

SàNG LọC VÊ TIM MạCH

Tǎng huyết áp trẻ em chiếm 1,4 đến 11% tuỳ thuộc lứa tuổi, chủng tộc và tỷ lệ béo phì trong quần thể. Có một kiểu gia đình rõ rệt thường đi đôi với béo phì. Việc sàng lọc huyết áp được đa số các chuyên gia cho là thích đáng vì họ đã thấy có tương quan cao giữa tǎng huyết áp ở tuổi trẻ em và tuổi trưởng thành. Sàng lọc nên tiến hành định kỳ bắt đầu từ nǎm 3 tuổi. Đo huyết áp phải dùng bǎng tay đúng cỡ (2/3 chiều dài cánh tay). Dùng bǎng tay của máy đo huyết áp quá cỡ sẽ cho con số sai thấp và bǎng tay cỡ nhỏ quá sẽ cho con số sai cao. Nên nhớ rằng con số huyết áp bình thường phụ thuộc vào tuổi. Tǎng huyết áp phải được khẳng định ít nhất qua 3 lần đo riêng biệt trước khi bắt đầu điều trị.

Bệnh tim bẩm sinh chiếm 1% và chiếm một nửa số tử vong do các tật bẩm sinh. Đa số trường hợp có thể phát hiện được trong 6 tháng đầu tiên. Nghe tim và bắt mạch (kể cả mạch đùi) nên được tiến hành ở giai đoạn sơ sinh và lặp lại ít nhất hai lần trong 6 tháng đầu tiên.

SàNG LọC Hệ CƠ Xương

Tỷ lệ bệnh khớp háng bẩm sinh là l-2%o, rất thường gặp ở nữ, con so, đẻ ngôi mông, nhũ nhi có dị dạng tư thế bẩm sinh khác, chậm sinh trưởng, thiểu ối và ở những gia đình có tiền sử về rối loạn chức phận. Không phải lúc nào cũng có thể đặt chẩn đoán trong giai đoạn sơ sinh, hoặc vì khi khám không phát hiện được bất thường nào, hoặc vì sai khớp xảy ra muộn hơn. Trẻ sơ sinh có thể được khám sàng lọc tại phòng sơ sinh hoặc trong 3 tháng đầu tiên bằng thủ thuật Ortolani. Dấu hiệu "cổ điển" của sai khớp trở nên phổ biến hơn sau 6 tuần tuổi và cần được tìm kiếm cho tới khi trẻ biết đi bình thường. Quan trọng nhất trong các dấu hiệu đó là sự hạn chế dạng chân, (độ dạng bình thường là trên 75). Khi đứa trẻ đang tập đi một dáng đi bất thường có thể là bằng chứng của sai khớp. Do những khó khǎn trong việc phát hiện sai khớp háng bẩm sinh ở trẻ sơ sinh bằng phép khám lâm sàng, xét nghiệm siêu âm có thể trở thành test sàng lọc phụ trợ.

Vẹo cột sống

Tỷ lệ vẹo cột sống thay đổi từ 2-10% vì những tiêu chí chưa chuẩn hóa dùng để xác định độ cong cột sống. Vẹo lớn (lớn hơn hay bằng 20) có tỷ lệ thấp hơn nhiều (ở một nghiên cứu 0,5% trẻ gái, với tỷ lệ 1/8 chiếm ưu thế nữ). Bệnh xuất hiện ở tuổi trung bình ở trẻ gái là 12 và 13 tuổi, ở trẻ trai là 13-14 tuổi và tuổi

này dao động đáng kể. Kinh nghiệm tốt nhất là sự tiến triển nhanh nhất xuất hiện vào lúc tốc độ đỉnh của thời kỳ sinh trưởng vượt bậc ở trẻ đang lớn. Sàng lọc vẹo cột sống ở trẻ gái nên tiến hành ở lứa tuổi từ 10 đến 14 tuổi và ở trẻ trai từ 1 2-16 tuổi. Sàng lọc lâm sàng có thể xác định đại đa số trường hợp vẹo lớn, nhưng dương tính giả khá phổ biến. Test này được tiến hành bằng cách khám lưng ở tư thế đứng và cúi xuống như hình 15.1. Sự bất đối xứng hai vai, xương bả vai hay háng là có ý nghĩa chẩn đoán.

Hình 15.1: Sàng lọc vẹo cột sống

Với trẻ đứng (A) tìm sự lệch vai hoặc hông. Đo khoảng cách môi bên giữa bờ dưới mỗi xương bả vai và gai chậu sau trên như ở trên hình, khi có khác biệt lớn hơn 2 cm là phát hiện dương tính. (B): Cho trẻ cúi xuống với cánh tay duỗi, các ngón tay đan vào nhau và hướng theo đường giữa. (C): Quan sát từ phía sau tìm bất đối xứng của ngực và lồng ngực. Phát hiện dương tính cần được danh giá bằng chụp X quang.

Một bướu bất đối xứng ở vùng cạnh xương sống lưng hoặc ngực thấy được ở tư thế cúi là một phát hiện quan trọng. Mức độ vẹo khi đó được xác định qua chụp X-quang cột sống.

Trẻ em bị vẹo cội sống phải được chuyên gia chỉnh hình có kỹ nǎng chǎm sóc bệnh này theo dõi. Vẹo ít hơn 20 được theo dõi toàn diện, vì vẹo ít hơn 10 sẽ tiến triển tới mức độ có thể điều trị được. Vẹo trên 20 được theo dõi sát hơn. Hơn nửa số đó thường đòi hỏi phải điều trị. Vẹo trên 30 thường đòi hỏi phải bó, vẹo từ 20 tới 30 tuy tiến triển nhanh cũng vẫn phải bó. Bó bột ngǎn chặn tiến triển trong đa số các trường hợp và vì thế nó ngǎn chặn sự cần thiết làm cứng khớp đốt sống.

SàNG LọC THíNH LựC

Điếc bẩm sinh nặng chiếm 0,5 tới 1 %o. Tỷ lệ thiếu hụt thính giác ở một mức độ nào đó ở trẻ em trong độ tuổi đến trường là 3-5%. Đại đa số bị mất thính giác dẫn truyền tạm thời do tràn dịch tai giữa. Test sàng lọc phát hiện bệnh tai giữa gây tranh luận nhiều hơn bởi tính tạm thời của bệnh trong đa số ca và vì tỷ lệ mắc bệnh không chắc chắn trong trường hợp bệnh tồn tại.

Mặt khác điếc bẩm sinh, đòi hỏi chẩn đoán sớm để đạt được kết quả điều trị tối ưu, bởi sự phát triển của ngôn ngữ đạt được 80% vào tuổi thứ ba. Nhóm nguy cơ cao bao gồm trẻ là thành viên trong các gia đình bị mắc các bệnh khác như có tiền sử mức bilirubin trên 20mg/dl, hội chứng rubêon bẩm sinh, trẻ có viêm màng não, trẻ em có được dùng aminoglicozid, các bất thường tai, mũi, họng phối hợp và trẻ đẻ thiếu cân (1500g hoặc ít hơn). Các biện pháp sàng lọc tại phòng khám được thực hiện với máy gây ồn, tìm đáp ứng tương đương với lứa tuổi, 4 tháng: mắt mở rộng, xoay người nhẹ, thái độ nghe; 6 tháng: quay 45; 8 tháng- nhận biết nguồn âm ở phía trên hay dưới. Tiền sử cần được thu thập từ cha mẹ trong vòng 2 nǎm đầu tiên chú trọng tới sự phát âm của trẻ, đáp ứng tiếng động, và phát triển tiếng nói. Việc thử định hướng nguồn âm được tiến hành vào tháng tuổi thứ 6 đến 12 của trẻ. Hãy chuyển sớm tất cả các ca nghi vấn đến bác sĩ thính học và các ca nguy cơ cao nên được hướng dẫn tới khám. Thính giác có thể được đánh giá ở trẻ rất nhỏ bằng sử dụng test gây điện thế thân não.

SàNG LọC THị GIáC

Sàng lọc thị giác nhằm tìm 5 dị tật sau: đục thủy tinh thể, u nhãn cầu, tật khúc xạ. lác và giảm thị lực. Mỗi tật trên có một giai đoạn phát hiện tới hạn để nhằm can thiệp thành công. Vì thế, để sàng lọc chính xác và đúng thời điểm bạn cần phải thành thạo một loạt kỹ thuật chẩn đoán thường qui bao gồm khám phản xạ mầu đỏ hai bên, soi đáy mắt. thử phản xạ ánh sáng giác mạc, test che và không che, và đo thị lực. Khám mắt cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 4 tháng tuổi chủ yếu là nhằm tìm kiếm đục thủy tinh thể bẩm sinh và u nhãn cầu, như u nguyên bào võng mạc. Khi tiến hành thử phản xạ mầu

Hình 15.2: Sàng lọc lác ở trẻ em sử dụng phản xạ ánh sáng giác mạc. Trong phòng tối, cấm đèn flash nhỏ hoặc đèn soi tai ở đường giữa mặt trước của cằm bạn, quan sát khúc xạ ánh sáng trong mắt trẻ khi hai mắt nhìn thẳng vào đèn. Khúc xạ ánh sáng phải nằm ở cùng một vị trí trên giác mạc của mỗi mắt. Sự khác biệt giữa điểm giữa đồng tử của một bên và bờ ngoài của đồng tử của một mắt ki a. (A) cho thấy khoảng 7? lệch (lác). Sự khác biệt giữa điểm giữa đồng từ của một bên và bên ngoài của lòng đen mát kia. (B) chỉ ra gần 15? lệch nhìn. Bất cứ khác biệt nào tìm được và có thể phát hiện được ngoài 6 tháng tuổi cần được chỉ dẫn tới khám bác sĩ nhãn khoa.

 

Hình 15.3. Sàng lọc trẻ em từ 1 đến 10 tuổi để phát hiện lác: Test che. Để trẻ tập trung nhìn vào một vật ở khoảng cách (A). Che một mắt, quan sát mắt kia. Nếu mắt kia chuyển chỗ để nhìn lên vật khi mắt thứ nhất bị che, nghĩa là có lác. (B) Tiếp theo, rời cái che mắt đi, quan sát xem mắt vừa bị che có rời chuyển chỗ để nhìn lên vật không. Điều đó cho thấy có lác tiềm tàng (chỉ xẩy ra khi mắt không nhìn tập trung vào vật). Khi kết quả Test dương tính cần chuyển khám chuyên khoa ngay.

đỏ, cần tìm hình ảnh mầu đỏ đồng thời và đồng nhất. Bất đối xứng của phản xạ mầu đỏ chỉ ra hoặc là có vấn đề về dẫn truyền ánh sáng qua mắt hoặc là tật võng mạc, vì thế cần được hướng dẫn tới khám bác sĩ nhãn khoa. Độ di động nhãn cầu được đánh giá bàng cách quan sát khả nǎng đưa mắt theo của trẻ khi theo dõi một đối tượng thú vị. Hãy tiến hành soi đáy mắt cho trẻ 3 tuổi và trẻ lớn hơn.

Lác là sự xắp xếp không thẳng hàng của hai mắt khiến chỉ một mắt nhìn thấy vật đang quan sát tại một thời điểm. Lác gặp ở 2% trẻ em và có thiên hướng gia đình rõ. Lác thể hiện khi nhìn bằng cả hai mắt (hai mắt mở) gọi là lác biểu hiện hoặc "tropia". Mắt lệch chỉ xuất hiện khi nhìn bằng hai mắt bị gián đoạn gọi là lác tiềm tàng hoặc "phoria". Trẻ em mắc một trong hai tật lác đã bỏ không nhìn bằng mắt có tật một cách không có ý thức. Điều đó có thể tìm ra sớm (lý tưởng là trước 3 tuổi) để đạt hiệu quả qua điều trị tối đa, bởi vì sự phát triển của vỏ não thị giác phụ thuộc vào việc có được sử dụng tích cực hay không.

Điều trị lác điển hình bao gồm che bớt mắt không có tật (bắt hình ảnh nhìn thấy của mắt có tật được sử dụng ở vỏ não thị giác), hoặc phẫu thuật để điều chỉnh mất cân bằng cơ. Không phát hiện được lác trước 6 tuổi có thể dẫn tới tật giảm thị lực của một mắt mà sẽ không thể điều chỉnh được bằng kính.

Phản xạ ánh sáng giác mạc (hình 15.2) phát hiện lác biểu hiện (tropia). Bạn cần bắt đầu test thường qui này vào tháng 6. Hiện tượng giả lác, khi hai. mắt có vẻ như đưa vào trong một cách giả tạo do khe mi mắt thuộc nếp quạt .rộng, có thể phân biệt bởi tật lác thật sự bằng test này. Test che và không che (hình 15.3) dùng để phát hiện cả 2 loại lác "tropia và phoria". Bạn nên bắt đầu sử dụng xét nghiệm này cho trẻ từ 6 tới 12 tháng tuổi.

Tật khúc xạ, nhất là bất đối xứng có thể gây dẫn đến giảm thị lực. Vì vậy phải bắt đầu test thử thị lực càng sớm càng tốt. Khi sàng lọc ở trẻ nhỏ, hãy bảo chúng tập trung nhìn thẳng vào một đối tượng hấp dẫn. Nếu khi che mất một mắt mà luôn gây đáp ứng không thoải mái, có thể lặp lại được, còn khi che mắt kia không gây ra hiện tượng này thì đó có thể là một biểu thị định tính về giảm thị lực của bên mắt mà khi bị che trẻ không có phản ứng đối kháng. Các quân bài có tranh màu chói dùng cho trẻ từ 3 tới 4 tháng tuổi, bảng chuẩn Snellen hoặc chi tiết hơn nữa là bộ test Tismus dùng để sàng lọc trẻ em lớn hơn 5 hoặc 6 tuổi. Cấn hội chẩn cho những trẻ có thị lực dưới 20/40 hoặc trẻ có khác biệt cỡ 2 hàng hoặc lớn hơn giữa thị lực của hai mắt.

Cũng như vậy, bạn cần hội chẩn cho những trẻ mà bạn hoặc cha mẹ chúng nghĩ rằng có bất đối xứng đáng kể về thị lực, kể cả khi thiếu những phát hiện khách quan.

PHòNG CHốNG SÂU RǍNG

Sâu rǎng là một nhiễm khuẩn rǎng phổ biến ở trẻ em. Tỉ lệ mắc bệnh giảm đi nhờ các biện pháp phòng ngừa đơn giản. Sâu rǎng ở trẻ bú sữa bình, một điều kiện cho sâu rǎng lan rộng, có thể phòng ngừa bằng cách không cho bé đi ngủ mà vẫn bú bình và bằng cách cai bình sớm, thông thường khoảng quanh 1 tuổi. Thầy thuốc có vai trò quan trọng trong phòng bệnh nha khoa bởi vì trẻ nhỏ ít đi khám nha sĩ. Vì vậy, chǎm sóc trẻ khỏe mạnh phải bao gồm cả khám rǎng trẻ và chỉ dẫn về tầm quan trọng của đánh rǎng đều đặn (khi trẻ lớn hơn). Trẻ nhỏ thường không tự đánh rǎng một cách hiệu quả được, vì vậy cha mẹ chúng cần chịu khó đánh rǎng cho chúng một số lần hoặc tất cả các lần hàng ngày.

Bổ sung florua cũng chứng tỏ đã ngǎn chặn có ý nghĩa đối với sâu rǎng. Tất cả trẻ bú sữa mẹ cần được bổ sung florua giọt, vì florua không đi qua sữa mẹ với lượng thích hợp. Trẻ nuôi bình cần nhận florua bổ sung nếu nguồn nước uống không có florua. Lượng florua bổ sung đường uống được kê sau khi cai sữa mẹ phụ thuộc vào lượng florua tự nhiên hoặc bổ sung có trong nước uống và tổng lượng nước uống vào trong ngày từ nguồn nước này của từng trẻ. Cơ quan y tế địa phương cung cấp thông tin về hàm lượng florua trong nước ở địa phương. Sử dụng số liệu này, có thể xác định liều lượng florua cần cho từng trường hợp để chống sâu rǎng tối đa và giảm tối thiểu chứng nhiễm flo (Bảng 15.3)

Bảng 15.3. Lịch bổ sung florua cho trẻ em

Ghi chú: Bổ sung florua phải dựa trên nồng độ florua có trong nước uống và lượng nước có florua uống vào trong ngày. Nước đóng chai hoặc đóng hộp (ví dụ đồ ǎn, uống chế sẵn) thông thường không có florua. Lượng florua dao động tùy thuộc vùng địa lý và được phổ biến bởi cơ quan y tế địa phương, nếu không phải thử nước để định lượng. Bảng sau dựa trên một phần triệu (ppm) hoặc 1mg florua trong một lít của nước có florua.

Tuổi (nǎm)

Ước tính lượng nước có florua uống vào (ml)

Khuyến nghị bổ sung florua/ngày (ml)

0 - 2 Không hoặc rất ít (bú mẹ) 0,25mg
 

> 250ml

không

2 - 3

Ê 250ml

0,50mg

 

250 - 500ml

0,25mg

 

> 500ml

không

3 - 16

< 350ml

1,00mg

 

250 - 500ml

0,75mg

 

500 - 750ml

0,50mg

 

750 - 1000ml

0,25mg

 

> 100

không

Ghi chú: Nếu bệnh nhân dùng nước tốt hay có nguồn florua tự nhiên thì lượng florua uống vào như sau:

Tuổi

Nồng độ floride trong nước địa phương (ppm)

 

Ê 0,3

0,3 - 0,7

? 0,7

 

0 - 3

0,25

không

không

 

3 - 5

0,50

0,25

không

 

5 - 14

1,00

0,50

không

 

Sản phẩm florua

Sản phẩm

Tên thương mại

Hàm lượng florua

Chất lỏng

Luride giọt

0,125mg/giọt

 

Poly - Vi - Flor (hay đa sinh tố/fluorua kết hợp)

0,25mg/ml

Viên nhai

Luride lozi - viên

0,25; 0,5 hoặc 1,0mg/viên

 

Poly - Vi - Folr (hay đa sinh tố/fluorua kết hợp)

1,0mg/viên

Việc tránh dùng tetracycline trong lúc có thai và thời kỳ thơ ấu cho dưới 8 tuổi là rất quan trọng, nhằm phòng ngừa xỉn rǎng vĩnh viễn của trẻ. Trẻ em cần bắt đầu được khám thường kỳ ở nha sĩ trước 2 tuổi.

Sàng lọc cận lâm sàng

Sàng lọc cận lâm sàng không cần thiết phải tiến hành ở mỗi lần khám một trẻ khỏe mạnh. Phân tích nước tiểu và hematocrit được tiến hành quá thường xuyên làm tốn tiền vô ích. Các thǎm dò thường quy khác thường dẫn đến những thông tin không có ý nghĩa và đôi khi kéo theo một chuỗi những test xa hơn để phủ nhận những kết quả bất thường ban đầu. Mặt khác một số test cận lâm sàng có thể trở thành thường qui. Những vấn đề được coi trọng nhất sẽ được bàn luận dưới đây.

SAI LệCH CHUYểN H? BẩM SINH

Tỷ lệ mắc suy giáp bẩm sinh vào khoảng 1/4000 đến 5000. Chậm phát triển tâm thần trầm trọng là kết quả không tránh khỏi của việc không điều trị thay thế kịp thời ở giai đoạn sớm của cuộc đời đứa trẻ. Sàng lọc giáp trạng được tiến hành ở cả 50 bang trước khi trẻ sơ sinh rời viện. Tương tự như vậy tần số phenylketonuria (PKU), với lợi ích được ghi nhận rõ ràng của việc phát hiện sớm và điều trị đã đưa đến nhu cầu được sàng lọc mọi trẻ sơ sinh đủ tháng trước khi ra viện. Trẻ xuất viện trước 24 giờ cần được làm test vào một tuần buổi. Hiện nay một vài bang tiến hành sàng lọc trẻ mới đẻ về hồng cầu liềm và bệnh galactose huyết. Kết quả các test này có thể tới tay bác sĩ trong vòng 2 tới 3 tuần.

Không theo dõi được kết quả thử nghiệm là lý do dẫn đến việc bỏ sót những ca bị suy giáp hoặc PKU lọt khỏi việc phát hiện sớm và quản lý thích hợp. Những lý do khác nữa là mẫu xét nghiệm không thích hợp, do kỹ thuật lấy mẫu không đúng hoặc do sai sót thí nghiệm. Tuy vậy, kết quả bình thường hầu hết là chắc chắn, nhưng không thể tin cậy tuyệt đối để loại bỏ chẩn đoán ở 1 trẻ có bệnh cảnh tương ứng với một trong các rối loạn đó.

THIếU SắT

Tỷ lệ trẻ bị thiếu sắt cao nhất là từ 6 đến 24 tháng tuổi dao động từ 1 đến 24% phụ thuộc vào quần thể được nghiên cứu. Trẻ đủ tháng chỉ bú mẹ sẽ đủ sắt tới tháng thứ 6, nhưng sau đó trẻ có thể bị thiếu sắt nếu không được cung cấp thức ǎn có chứa sắt. Trẻ đẻ non không thể nhận đủ sắt từ sữa mẹ đề đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng của chúng. Vì vậy, Hội đồng dinh dưỡng của Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ khuyến nghị bổ sung sắt cho trẻ bú mẹ, bắt đầu không muộn hơn 4 tháng tuổi đối với trẻ em đẻ đủ tháng và không muộn hơn hai tháng tuổi đối với trẻ đẻ non và tiếp tục ít nhất suốt nǎm đầu tiên.

Không có test cận lâm sàng đơn giản với độ chính xác cao để xác định sự tích sắt trong mô. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng trẻ bị thiếu sắt mà không có thiếu máu (giảm ferritin huyết thanh với hemoglobin bình thường) được điều trị bằng sắt đã chứng tỏ có tiến bộ qua các test cho điểm về phát triển. Hàm ý của quan sát này cho đến nay vẫn chưa được biết đến một cách đầy đủ, nhưng nó gợi ý một loạt các rối loạn chuyển hóa rất tế nhị có thể là hậu quả của thiếu sắt (3). Trẻ mới đẻ có thể được sàng lọc, cũng như mọi trẻ sinh đủ tháng khác từ 9 đến 12 tháng tuổi và toàn bộ tre đẻ nhẹ cân từ 6 đến 9 tháng tuổi. Để sàng lọc thiếu máu, hãy sử dụng mức hemoglobin nhỏ hơn 11,5 g/dl như giá trị mốc và theo dõi đáp ứng với một trị liệu thay thế sắt.

NGộ ĐộC CHì

Chì là một sản phẩm phụ đâu cũng gặp của xã hội công nghiệp. Chì gây tác dụng độc hại qua sự can thiệp vào dẫn truyền thần kinh, tổng hợp hemoglobin và chuyển hóa vitamin D. Trẻ nhỏ và trẻ em đặc biệt nhạy cảm với độc tính này vì ba nguyên nhân sau: (a) nhiều hoạt động từ tay đến miệng (ǎn phải sơn chì và bụi chì), (b) tính dễ thương tổn của hệ thần kinh đang phát triển và (c) tỷ lệ hấp thụ chì cao so với trẻ em lớn hơn và người trưởng thành. Mặc dù các nguồn chì lớn (sơn có chì và xǎng pha chì đã cấm từ giữa những nam 70, nhưng còn tồn tại ước tình hàng triệu tấn chì trên mặt đất ở vùng thành thị và khoảng 4 triệu nhà có trẻ em sinh sống có sơn pha chì bong ra. Hàn chì các đường ống của đa số nhà và trường học, và chì có trong thành phần của nhiều vật liệu được ưa chuộng như gốm, sứ. Vì vậy không có ở lĩnh vực kinh tế xã hội hay địa lý nào tránh được nguy cơ ngộ độc chì.

Từ nǎm 1 985, các nhà nghiên cứu đã tìm ra thǎng bằng chứng hấp dẫn cho thấy có hiện tượng sa sút tế nhị nhưng rõ rệt trong học tập ở trẻ em khí có một lượng chì trong máu đã từng được cho là an toàn. Vào tháng 10-1991 Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) thông báo rằng các tác dụng bất lợi này xuất hiện khi mức chì trong máu thấp khoảng lomg/dl, nhỏ hơn một nửa ngưỡng đặt ra 6 nǎm về trước. Hiện nay CDC đề nghị sàng lọc toàn bộ trẻ em bằng cách, dùng máu mao mạch làm test để thử nồng độ chì thì tốt hơn là xét nghiệm protoporphytin hồng cầu như đã được khuyến nghị trước đó vì kém nhạy hơn. Khì test sàng lọc phổ biến khác còn quá đắt không cho phép thực hiện toàn quốc và có vẻ như còn trong tương lai, thì CDC đã công bố các hướng dẫn mới để xác định, theo dõi và điều trị trẻ em có nguy cơ cao nhất và để loại trừ các nguy cơ tiếp xúc với chì đáng lo ngại nhất.

LAO

Tỷ lệ test tuberculin dương tính ở trẻ mới đến trường là gần 0,2%. Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật và Hội Phổi của Mỹ khuyến nghị ngừng thử thường qui trong quần thể nếu ở đó tỷ lệ hoạt tính của tuberculin <1%. Điều đó dựa trên thực tế là hầu hết các ca lao đang hoạt động đã được phát hiện qua thử nghiệm những người có tiếp xúc với các ca mới và qua sàng lọc những người có nguy cơ cao đã biết. Sàng lọc định kỳ cần được tiếp tục trong các nhóm có nguy cơ cao, như những người có tiếp xúc với một trường hợp bị bệnh hoặc người ở vùng có dịch (Mexico và Đông Nam á), và những người sống trong cộng đồng hoặc tập đoàn mà ở đó tỷ lệ bệnh cao hơn trong quần thể chung (có thể kể cả trẻ em nội thành). Sàng lọc như vậy cần được bắt đầu từ 12 đến 15 tháng tuổi và nhắc lại hàng nǎm hoặc hai nǎm 1 lần cho tới khi trẻ tới trường. Mọi phản ứng dương tính qua kỹ thuật đa điểm (ví dụ Tinh test) cần phải được khẳng định qua test PPD trong da.

Một quan điểm khác được Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ ủng hộ (AAP) chỉ ra rằng tỷ lệ lao đang tǎng ở nước này. AAP khuyến nghị một lựa chọn thoả đáng thay cho làm test thường qui là làm test cho trẻ em có nguy cơ thấp: (a) từ 12 đến 15 tháng tuổi (trước hay vào thời điểm tiềm MMR), (b) trước tuổi đến trường (4 đến 6 tuổi) và (c) tuổi vị thành niên (14 đến 16 tuổi). Bất cứ trẻ nào có lao tiến triển đều nên được thử về nhiễm HIV.

ĐáI MáU, PROTEIN NIệU Và GLUCOSE NIệU

Việc thử nước tiểu thường qui bằng que nhúng cho trẻ em tuổi đến trường sẽ cho thấy những tỷ lệ gần đúng sau: 10% có proteinuria, 4% hematuria; 0,4% glucos niệu.

Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ rằng đại đa số các ca protein niệu và đái máu là có tính tạm thời và tái đi tái lại, do các đáp ứng lành tính khi trẻ hoạt động hoặc do tư thế đứng (5). Đa số các ca glucosuria là do có ngưỡng thận thấp chứ không phải một tình trạng tǎng đường máu thực sự. Như vậy xét nghiệm nước tiểu thương qui là không cần thiết.

TǍNG LIPIt MáU

Bệnh tim mạch xơ vữa là nguyên nhân hàng đầu gây chết tại Mỹ. Những yếu tố nguy cơ có thể được ngǎn ngừa hoặc làm giảm thiểu bao gồm tǎng huyết áp, hút thuốc lá, béo phì, lối sống tĩnh tại, và tǎng cholesterol máu. Các nghiên cứu dài hạn chưa thể đưa ra kết luận về liên quan giữa mức cholesterol cao ở tuổi thiếu niên với các bệnh động mạch vành. Tuy nhiên những bằng chứng tích luỹ được chỉ ra rằng xơ vữa động mạch bắt đầu từ tuổi trẻ em và các bất thường về lipoprotein ở trẻ có chiều hướng tương quan với hậu quả tǎng lipoprotein ở người lớn. Vì thế, một số chuyên gia đã đề xuất việc sàng lọc cholesterol phổ cập ở trẻ em sau 2 tuổi (khi chế độ ǎn chất béo giảm từ 50% tổng số cao trong ngày còn 30% như ở người lớn).

Tuy nhiên việc sàng lọc cholesterol phổ cập ở trẻ em còn đang được tranh cãi, bởi vì thiếu sự chuẩn hóa và chính xác trong phương pháp sàng lọc cholesterol. Vì cần phải có một số định lượng để xác định mức tǎng thường xuyên, vì sự thiếu thống nhất về trị số Cholesterol có thể dự báo bệnh trong lương lai, vì phí tổn ghê ghớm của chương trình sàng lọc quốc gia và vì thông tin không đầy đủ về tính an toàn và tính hiệu quả của điều trị tǎng mỡ máu cho trẻ em. Tháng giêng 1989, Hội đồng dinh dưỡng của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa kỳ khuyến nghị sàng lọc cholesterol lúc không đói cho trẻ em lớn hơn 2 tuổi với liền sử gia đình có tǎng lipit máu hoặc nhồi máu cơ tim sớm (<50 tuổi ở nam và <60 tuổi ở nữ). Nếu mức cholesterol vượt quá 175mg/dl, nên tiến hành thử định kỳ tỷ lệ thành phần lipoprolein lúc đói. Nếu tǎng thường xuyên, trẻ đó cần được chỉ dẫn một chế độ ǎn kiêng lâu dài và nên tham vấn một nhà dinh dưỡng có kinh nghiệm. Thêm những tranh luận khác, những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng chỉ bằng sàng lọc cho những tre có "nguy cơ cao" như trên, thì có tới 50% trẻ em có cholesterol cao không được phát hiện ra.

BệNH LÂY TRUYềN QUA ĐƯờNG TìNH DụC (STD)

Hơn một triệu ca mắc bệnh lậu được thông báo mỗi nǎm. Bệnh nhiễm Chlamydia được ước lượng ít nhất là hơn 2 lần. ở trẻ gái vị thành niên không mang thai , có hoạt động tình dục không có triệu chứng gì thì tỷ lệ nhiễm chlamydia và lậu được thông báo theo thứ tự là 14% và 6%, (6,7). Trạng thái người mang mầm bệnh không triệu chứng có thể kéo dài tới 12 tháng với bệnh lậu kéo dài nhiều nǎm hơn đối với Chlamydia. Việc phát hiện thì đơn giản và tương đối rẻ bằng cách xét nghiệm kháng thể huỳnh quang trực tiếp đối với Chlamydia và môi trường nuôi cấy với lậu cầu.

Tất cả trẻ vị thành niên có hoạt động tình dục cần được cân nhắc để sàng lọc và nhớ rằng nguy cơ sẽ tǎng theo số bạn tình. Cần lấy mẫu cấy từ ống cổ tử cung ở con gái và niệu đạo trước của con trai. Trường hợp mắc lậu mà không được sàng lọc Chlamydia, thì chế độ kháng sinh nên đùng phải có hiệu quả đối với cả 2 tác nhân trên vì tỷ lệ đồng nhiễm ở nữ ít nhất là 25% và ở nam là 15%. Trong nǎm 1987, số ca giang mai được thông báo tǎng 25% ở Hoa Kỳ, là mức cao nhất từ 1 950. Việc giảm số ca giang mai trong nam giới có tình dục cùng giới hay khác giới lại được thay bằng việc tǎng cao số ca trong nữ giới và trong nam giới da đen gốc Tây Ban Nha có tình dục khác giới. Nhiễm HIV, bao gồm cả ALDS lây qua đường tình dục (kể cả quan hệ cùng giới lẫn khác giới), lây qua nhau thai và các kim nhiễm bẩn khi sử dụng ma tuý bất hợp pháp. Trẻ em và trẻ vị thành niên được coi là tỷ lệ mắc AIDS ít nhưng đang tǎng lên ở Hoa Kỳ. Các yếu tố nguy cơ với trẻ vị thành niên cũng giống như với người lớn khi tuổi thiếu niên tiến gần tới thành niên. Như vậy, giáo dục tránh yếu tố nguy cơ để ngǎn ngừa virut này (ví dụ như tình dục an toàn) cần phải được khởi xướng bởi các chuyên gia y tế.

GIáO DụC KHI THǍM KHáM TRẻ KHỏE MạNH

Tuổi nhũ nhi và thơ ấu

Một cách lý tưởng, việc giáo dục chǎm sóc trẻ em nên bắt đầu từ lần khám thai của cha mẹ chúng và tiếp tục trong những ngày nằm viện của trẻ sơ sinh. Chủ đề thường nảy sinh nhất trong giai đoạn nhũ nhi là các "Chǎm sóc thường qui, như kích thích trẻ, cho ǎn, ngủ, khóc, chǎm sóc da và thói quen đi vệ sinh. Có hàng loạt sách nói về sự phát triển bình thường và hướng dẫn tiên đoán về phát triển, rất có lợi cho cả bác sĩ và cha mẹ chúng (8-11).

Cha mẹ sẽ đồng tình một cách tự nhiên rằng sự kích thích là rất quan trọng đối với trẻ linh lợi và ham tìm tòi. Là bác sĩ của họ, cần đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp ý tưởng và khích lệ. Ví dụ về cách kích thích trẻ gồm có: Nói chuyện (và sau đó là đọc truyện), tạo ra thế giới muôn màu sắc xung quanh, thay đổi vị trí giường theo chu kỳ, xếp lại đồ chơi trong cũi, treo những vật động đậy hấp dẫn phía trên giường, hát múa với trẻ, cũng như thường xuyên đi rong hoặc các hoạt động ở bên ngoài nhà.

Kiểu ngủ thay đổi tuỳ từng trẻ, với thời gian ngủ nói chung giảm dần tính từ khi mới đẻ cho tới những nǎm trước khi lới trường. Nên khuyến khích cha mẹ hay người chǎm sóc đặt trẻ nhỏ ở tư thế ngửa, điều đó có liên quan tới làm giảm hội chứng trẻ chết đột ngột (SIDS). Để phòng sâu rǎng, không bao giờ để trẻ em đi ngủ với một chai sữa hay nước quả. Những tuần đầu tiên, trẻ nên ngủ cùng với cha mẹ chúng. Nơi ngủ sau giai đoạn sơ sinh (giường đối diện giường cha mẹ, phòng đối diện với phòng cha mẹ) còn đang tranh cãi vì các lý lẽ thiên về cả 2 cách sắp xếp.

Mọi nhũ nhi đều khóc, đó là cách đầu tiên để giao tiếp. Khóc có thể là dấu hiệu của đói, tã ướt, sốt, mồ hôi nhiều, cáu,đau hoặc mong muốn được vuốt ve. Gọi một đứa trẻ là đứa trẻ hư" hoặc người chǎm sóc chúng là "bố mẹ tồi" do đứa trẻ hay khóc là không thích hợp. Chu kỳ trong ngày của khóc và quấy thường vào buổi chiều hay chập tối là phổ biến. Đôi khỉ

Bảng 15.4 Tai nạn nghiêm trọng và cách tránh

Ngẫu nhiên hoặc nguy cơ

Hướng dẫn cách đề phòng

Tai nạn xe máy (người đi)

Sử dụng ghế và thắt lưng an toàn (cho độ tuổi tương ứng)

Tai nạn xe máy (người lái xe)

Giáo dục lái xe, sử dụng thắt lưng an toàn, tránh lái xe khi dùng thuốc hay rượu

Tai nạn xe máy (người đi bộ

hoặc những người khác)

Quan sát kỹ đường phố, học luật giao thông, đeo mũ bảo hộ, tránh xe mọi địa hình, đường phố không phải chỗ dể chơi.

Ngạt thở

Khoảng cách gióng cũi không quá 7,3 cm, không đeo vòng cổ cho nhũ nhi và trẻ chập chững biết đi, tránh đồ chơi nhỏ có thể lọt vào miệng, tránh thức ǎn dễ gây sặc nghẹn (ngô rang, hạt đậu, bánh mỳ kẹp xúc xích), để túi nhựa hay bóng ngoài tầm với , tháo cửa các tủ lạnh bỏ không dùng.

Bị ngạt nước

Giám sát chặt chẽ ở nơi có nước, khóa hàng rào bể bơi hay chỗ gần nước, tránh thùng chứa cao, hẹp, thùng mở nạp 5-gallon (ngạt nước ở trẻ em mới biết đi) mang áo cấp cứu khi đi tàu thuyền.

Ngã

Không để cho trẻ ở các mặt cao, khi không có người trông, tránh người đi lại, giám sát kỹ nơi chơi tập, tránh lưới nhào lộn

Ngộ độc

Bảo quản an toàn các chất độc, có sẵn sirô ipeca để dùng khi cấp cứu và có số điện của trung tâm kiểm tra chất độc dưới tay, tránh các hộp đựng thuốc có hại cho trẻ.

Bỏng

Lắp máy phát hiện khói và dụng cụ dập cháy ở nhà, thực hành kế hoạch sơ tán khẩn cấp thường xuyên, tránh xa các đường dây cao thế và không sử dụng quá tải các ổ cắm điện, không nên hút thuốc, để bình đun nước nóng ở 48? C hoặc thấp hơn.

cha mẹ trẻ sẽ yên lòng khi được cho biết rằng trung bình một trẻ 6 tuần khóc 2 tới 3 tiếng trong một ngày và khóc có thể chỉ là cách để trẻ tập thể dục. Khóc và quấy xuất hiện vào giờ ngủ dậy của trẻ thường được coi như là "cơn đau quặn". Nguyên nhân của hội chứng này không được rõ, những rắc rối gia đình hay stress, quan niệm sai lầm của cha mẹ về cách khóc của trẻ, tǎng nhạy cảm với sự chướng bụng tự nhiên, trào ngược thực quản và kém dung nạp sữa bò đã bị gán cho cái mà chắc chắn là một quá trình đa yếu tố. Giữ một trẻ đang khóc ở gần, bế trẻ thường xuyên khi trẻ không khóc vuốt ve trẻ, đặt nhẹ nhàng tay ấm lên bụng, nựng trẻ thường xuyên khi cho ǎn, giải thoát chấn động trong gia đình, đi dạo, đi chơi đu, đu đưa trẻ trên nôi và thử can thiệp chế độ ǎn (tránh công thức sữa bò ở trẻ nuôi bộ hoặc thử chế độ ǎn không sữa mẹ ở trẻ bú mẹ) là toàn bộ kỹ thuật đáng được thử ở trẻ bị đau quặn. Thấu cảm, hỗ trợ sâu sắc phối hợp với thời gian trôi qua đôi khi đủ cho tự hạn chế quá trình này. Đau quặn thường chấm dứt hoặc cải thiện vào tầm 4 tháng tuổi.

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí