Sách » Thể loại khác » Tư liệu võ thuật

Võ thuật truyền thống Trung Hoa (Phần cuối)

9) Bạch Hạc Quyền, giả tưởng và thực tại

Chúng ta từng đọc qua chuyện môn Bạch Hạc Quyền và sư tổ Ngũ Mai sư bá. Và một thời sách võ có chép lại truyền thuyết này. Nên trong giới võ thuật ai đều tin chuyện Ngũ Mai sư bá luyện Bạch Hạc Quyền tại tỉnh Vân Nam.

Sự thật Ngũ Mai sư bá chỉ là một nhân vật tiểu thuyết. Quyển "Càn Long tuần hạnh Giang Nam ký", xuất bản cuối thế kỷ thứ 19 tại Thượng Hải, lần đầu tiên kể chuyện Ngũ Mai đánh thắng Lôi Lão Hổ trên lôi đài. Sau đó, trong "Lã Mai Nương" của Tề Phong Quân, nhân vật Ngũ Mai làm chưởng môn Bạch Hạc.

Trên thực tế, chúng tôi chỉ tìm ra hai môn Bạch Hạc. Hai môn này đều thịnh hành tại miền Nam Trung Quốc.

Môn thứ nhất gốc từ tỉnh Phúc Kiến, huyện Vĩnh Xuân, nên có tên Vĩnh Xuân Bạch Hạc Quyền, được sáng lập bởi Phương Thất Nương vào thế kỷ thứ 17. Phương Thất Nương và chồng, Tăng Tứ, có hai mươi tám học trò được gọi là "Nhị thập bát anh tuấn", nổi bật nhất trong đám là Trịnh Lễ (1654- ?).

Trịnh Lễ là người sau đó phát triển mạnh môn phái, ông có rất nhiều học trò toàn tỉnh Phúc Kiến. Trong môn đồ thế hệ sau, có nhiều người đỗ Võ trang nguyên hay Võ Tú tài. Môn Bạch Hạc là một trong những đại môn phái của Phúc Kiến.

Về sau năm chi phái khác được khai sáng, đó là Phi Hạc (con hạc bay), Minh Hạc (con hạc hót), Tông Hạc (con hạc rung thân), Thực Hạc (con hạc ăn) và Túc Hạc (con hạc ngủ).

Vĩnh Xuân Bạch Hạc Quyền có đặc điểm của các môn phái tỉnh Phúc Kiến. Môn sinh tiến lên đường chính diện để tấn công địch thủ, giữ đường đó để phòng thủ (tung tý ngọ môn biến hóa). Vì chuyên cận chiến nên tìm cách niêm tay địch, theo dính cho tới lúc tìm được sơ hở (vô kiều đả xuất kiều, lâm kiều bất ly kiều), niêm được thì phá tay địch rồi tấn công (hữu kiều tựu phá kiều).

Nguyên tắc "thôn thổ phù trầm" là nền tảng của môn phái: vì đánh cận chiến nên phải dùng cột xương sống trồi lên sụp xuống, hợp với hít thở để phát lực.

Và lúc ra đòn thì miệng hét (dĩ thanh trợ lực), đây là một trong những đặc điểm của các môn phái vùng Quảng Đông, Phúc Kiến...

Một trong những bài quyền của môn phái có tên là Tam chiến quyền, tên này được tìm thấy trong hầu hết các môn phái tỉnh Phúc Kiến. Võ thuật đảo Okinawa, vì ảnh hưởng bởi võ của tỉnh Phúc Kiến, nên có bài Sanchin, Sanchin là phát âm tiếng Nhật của hai chữ Tam chiến.

Xin nói thêm về đặc điểm riêng của mấy chi phái thành lập sau này:

- Phi Hạc chuyên về bộ pháp, rất linh động như hạc bay, và ưa dùng đòn chân.

- Minh Hạc vừa đánh vừa phát tiếng, mủi hít miệng hô, như chim hót.

- Tông Hạc phát lực dùng hết thân mình, nên thân rung chuyển.

- Thực Hạc chuyên dùng chân và chỉ, đặc biệt mấy ngón tay chúm lại, như mỏ con chim đang ăn, để tấn công.

Môn Bạch Hạc khác, được nhà sư Tinh Long truyền tại tỉnh Quảng Đông vào đầu thế kỷ thứ 19, chia thành 4 chi phái:

-Bạch Hạc Quyền,

-Hiệp Gia,

-Sư Tử Hống

-Lạt Ma Quyền.

Một trong những học trò của Tinh Long là Vương Ẩn Lâm, tên thật là Phi Long, nổi danh tỉnh Quảng Đông, thuộc "Thập hổ Quảng Đông ", cùng thời với Thiết Kiều Tam, Hoàng Kỳ Anh (cha của Hoàng Phi Hồng, danh sư môn Hồng Gia).

Những môn nầy có đặc điểm của môn võ tỉnh Quảng Đông. Tất cả đều sử dụng bộ pháp rộng, đánh dài (trường kiều đại mã), và chuyên dùng eo để trợ lực, hai cánh tay phát động như hai cây roi.

10) Hình Ý Quyền, nguồn gốc và chi phái

Nguồn gốc:

Hình Ý Quyền là một trong ba môn võ hiện được xếp trong Nội Gia mà truyền thuyết cho xuất phát từ núi Võ Đang. Sự thật môn Hình Ý Quyền, lúc đầu mang tên Lục Hợp Quyền, bắt nguồn từ Cơ Tế Khả, biệt danh Long Phong (1602-1683), người tỉnh Sơn Tây. Tài liệu có ghi lại là Cơ Tế Khả có viếng chùa Thiếu Lâm. Hiện nay tại chùa vẩn còn lưu truyền bài Tâm ý bả, với đòn thế rất giống môn Hình Ý hiện đại.

Cơ Tế Khả có hai học trò Tào Kế Võ và Trịnh lão sư.

Tào Kế Võ là một vị tướng dưới triều Hoàng đế Khang Hy (1662-1772), và dạy cho hai anh em Đới Long Bang (khoảng 1713-1802) và Đới Lăng Bang, người tỉnh Sơn Tây.

Còn Trịnh Lão sư dạy cho Mã Học Lễ (khoảng 1715-1790), người tỉnh Hà Nam.

Từ hai nhân vật Đới Long Bang và Mã Học Lễ, môn phái chia thành ba chi nhánh.

Từ Mã Học Lễ bắt nguồn chi phái Hà Nam, lấy tên Tâm Ý Lục Hợp Quyền. Ông chỉ truyền dạy cho người đạo Hồi. Lự Khao Cao (1873-1963) là người đầu tiên dạy ngoài giới Hồi giáo.

Đới Long Bang dạy hai con trai là Văn Lương và Văn Huân, và Lý Lạc Năng (khoảng 1808- 1890), biệt danh Năng Nhiên.

Đới Văn Lương và Đới Văn Huân chỉ dạy trong gia đình, và cho con trai. Cho tới Đới Khôi (1874-1951), vì không có con trai nên mới chịu truyền ra ngoài dòng tộc. Nhờ vậy chi phái Sơn Tây, mang danh là Tâm Ý Quyền, mới được phổ biến sau này.

Lý Lạc Năng sau khi học với Đới Long Bang, trở về Hà Bắc và thâu học trò tại đây. Từ đó bắt nguồn chi phái Hà Bắc, với tên là Hình Ý Quyền. Chi nhánh nầy được nhiều người theo học và được biết hơn hai chi phái kia. Vào cuối thế kỷ thứ 19, Lý Tồn Nghĩa (1847-1921) và Lưu Vỹ Tường thành lập với hai võ sư Thái Cực Quyền và Bát Quái Chưởng, môn Nội Gia Quyền. Từ đây bắt đầu sự lầm lẫn với môn Nội Gia xưa ghi lại bởi Hoàng Tông Hy (1610-1695), và người ta đều nghỉ là Nội Gia bao gồm ba môn Hình Ý Quyền, Thái Cực Quyền và Bát Quái Chưởng !

Đặc điểm:

Chiến đấu pháp của Hình Ý Quyền có thể tóm gọn trong hai câu: "Mạn công trực thủ, hậu phát tiên chí" (tấn công nhanh trên đường thẳng, đi sau tới trước), "Thiếp thân kháo đả, dĩ đoản chế trường" (Đến sát thân địch vừa hất vừa đánh, dùng đòn ngắn thắng đòn dài). Vì môn đồ Hình Ý Quyền chuyên đánh trên đường thẳng, nhập vào trung môn (chánh diện), nên không cho địch thủ có cơ hội phát triển đòn công và tuy ra đòn sau nhưng đòn lại tới trước. Khi tới sát địch thì hất hay đánh. Chi phái Hà Nam chuyên về hất. Nhưng lúc địch thủ nhanh hơn, thì môn sinh Hình Ý Quyền chạy tấn công bên hông.

Kình lực được phát huy qua sự phối hợp giữa bộ tiến, eo xoay, cột xương sống trôi lên sụp xuống và đòn tay đánh tới.

Tuy là môn phái miền Bắc Trung Quốc nhưng sử dụng nhiều đòn tay hơn đòn đá. Đòn đá lại không quá bụng. Đòn thế lúc phát thì có kình.

Chi phái Hà Bắc đòn thế ngắn gọn, đơn giản dựa trên 17 thế căn bản là Ngũ Hành quyền và Thập nhị Hình quyền. Những bài quyền có Ngũ hành liên hoàn quyền, Thập nhị hình quyền, Tạp thức trùy, Tứ bả quyền, Thập nhị hồng trùy...

Chi phái Sơn Tây giống chi nhánh Hà Bắc hơn. Chương trình huấn luyện bao gồm Ngũ hành quyền, Thập đại hình, Giao tế tứ bả, Ngũ thãng hạp thế...

Chi nhánh Hà Nam thì khác hẳn hai hệ phái trên, đòn thế rộng hơn, mạnh bạo hơn, căn bản chỉ có Thập đại Hình Quyền. Quyền thuật có những bài Thập đại hình, Tứ bả trùy...

11) Thái Cực Quyền, sơ lược các chi phái và đặc điểm

Hiện nay có 5 chi phái Thái Cực Quyền. Trong đó môn của dòng họ Trần là gốc của tất cả các chi phái khác.

Môn Thái Cực Quyền được truyền dạy bởi Trần Vương Đình (1600-1680), người làng Trần Gia Câu, tỉnh Hà Nam. Những môn võ chính ông đã học qua là môn do đại tướng Thích Kế Quang (1528-1588) dạy trong quân đội, và môn Thiếu Lâm Quyền dạy tại chùa Thiếu Lâm ở tỉnh Hà Nam. Môn ông dạy sau đó có tên là Trần thị Thái Cực Quyền (Thái Cực Quyền của gia đình họ Trần) để phân biệt với các chi nhánh thành lập sau.

Môn này chỉ truyền trong gia đình Trần cho tới mấy đời sau, Trần Thanh Bình (1795-1868) di cư và dạy tại Triệu Bảo Trấn, chi phái lưu truyền tại đây có tên là Triệu Bảo Thái Cực Quyền.

Cùng một thời, một nô bộc của gia đình họ Trần, Dương Lộ Thiền (1799-1872) học với Trần Trường Hưng (1771-1853), rồi dạy môn Thái Cực tại Bắc Kinh. Môn của ông, Dương thị Thái Cực Quyền, thịnh hành nhất và được làm tiêu chuẩn cho sự sáng tạo bài 24 thức Giản hóa Thái Cực Quyền sau này.

Vũ Vũ Tường (1812-1880) một học trò của Dương Lộ Thiền, tới Triệu Bảo trấn luyện với Trần Thanh Bình, sau trở về Bắc Kinh sáng lập hệ phái Vũ thị Thái Cực Quyền.

Một đệ tử khác của Dương Lộ Thiền, Toàn Hữu (1834-1902), người Mãn Châu, sau cải tên là Ngô Toàn Hữu, là sáng tổ của môn Ngô thị Thái Cực Quyền.

Cuối cùng, Tôn Lục Đường (1861-1932), một danh thủ hai môn Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng, đệ tử đời thứ hai của Vũ thị Thái Cực Quyền, tổng hợp ba môn võ để lập chi phái Tôn thị Thái Cực Quyền.

Trên lý thuyết, 5 môn Thái Cực Quyền đều có đặc tính cương nhu, nhưng trong thực tế, chỉ có Trần thị Thái Cực Quyền còn giữ sự luân phiên của Cương và Nhu, của Nhanh và Chậm.

Thái Cực Quyền của họ Trần còn truyền lại hai bài quyền, đệ nhất lộ và đệ nhị lộ. Bài thứ nhất chứa đựng nhiều động tác, như quay tơ, xen lẫn với vài động tác phát kình. Những động tác nhu có tính cách hàm chứa kình lực hay là thế thủ hóa giải thế công của địch, còn động tác nhanh là để phóng kình lực tấn công địch thủ. Bài thứ nhì, còn tên là Pháo chùy, có nhiều đòn thế phát kình hơn, và đánh với tốc độ nhanh hơn bài thứ nhất.

Môn Thôi thủ là phần tập quan trọng của môn phái, vì chủ luyện niêm thủ thính kình. Niêm thủ là hai tay dính hai tay địch cốt tìm hiểu kình lực đối phương, và tìm sơ hở để thủ thắng. Nói một cách tượng trưng, luyện bài quyền là cốt để biết mình, còn tập Thôi thủ là biết địch thủ. Vì theo Tôn Tử, "Biết người biết ta, trăm trận không nguy" (tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi).

Phần binh khí bao gồm đơn kiếm, song kiếm, đơn đao, song đao, đại đao, thương, can (trường côn), song giản...

Năm môn kia chỉ còn đệ nhất lộ. Phần thôi thủ không khác nhau lắm. Còn binh khí chỉ trong bài kiếm là ta có thấy nguồn gốc xưa, những bài võ khí khác đều là chế biến của các danh sư đời sau nhằm bổ túc môn phái họ.

12) Triệt Quyền Đạo, nguồn gốc và đặc điểm

Năm 1972, phim "Đường sơn đại huynh" đã phát hiện Lý Tiểu Long cho giới hâm mộ phim quyền cước. Và khán giả hân hoan được biết ông vừa là một tài tử có trình độ võ thuật vừa là sáng tổ môn Triệt Quyền Đạo (Jeet Kune Do). Xin trở lại nguồn gốc.

Lý Tiểu Long (1940-1973), tên thật là Lý Chấn Phan, học với Diệp Vấn - Vịnh Xuân Quyền. Sau anh có dịp tham khảo những môn Thất Tinh Đường Lang Quyền, Thái Lý Phật, Thái Cực Quyền, Tae Kwon Do, Quyền Anh...

Diệp Chuẩn có kể vì cha ông từ chối truyền lại những phần cuối của môn Vịnh Xuân cho Lý, nên anh mới có ý định sáng lập ra môn Jeet Kune Do. Tên của môn phái có từ 1967.

Jeet Kune Do, theo Hán-Việt, là Triệt Quyền Đạo. Như tên cho ta biết, môn này chú trọng đặc biệt tới nguyên lý “triệt”. Nguyên lý nêu được áp dụng trong những môn võ Trung Hoa hình thành dưới triều đại nhà Minh (1368-1644).

Trong thực dụng, triệt là chặn đòn địch trước khi đòn được phát triển tới mức tối đa, tức không cho địch phát huy kình lực. Như vậy, ta chỉ cần một chút lực là kềm chế được một địch thủ mạnh hơn ta. Có hai trường hợp:

- Lúc thủ thì thế đỡ tiếp xúc với đòn địch khi đòn vừa mới phát ra,

- Lúc dùng công phá đòn công của địch thì nhanh hơn địch dùng một đòn đấm đánh vẹt đòn địch ra ngoài trung tâm tuyến, hay một cú đạp chặn địch không tới gần ta được.

Đặc điểm khác của Triệt Quyền Đạo, thoát thai từ đặc điểm trước, là niêm thủ. Niêm thủ là hai tay dính liền với hai tay địch hầu tạo sơ hở để ta tấn công vào, đúng theo sở trường của hai môn Vịnh Xuân và Thất Tinh Đường Lang Quyền. Nhằm mục đích ấy thủ pháp thường dùng trong Triệt Quyền Đạo là Lập thủ của Vịnh Xuân và Thiêu thủ của Thất Tinh Đường Lang. Và phương pháp "nhất phục nhị" làm chính: ta dùng một tay chế ngự hai tay địch, tay ta còn lại tấn công đối thủ. Phương pháp này thịnh hành trong nhiều môn phái Trung Hoa, không riêng trong Vịnh Xuân Quyền.

Đặc điểm quan trọng của Triệt Quyền Đạo là không bị gò bó trong khuôn khổ của phương pháp nhất định. Thường ta đều có phản ứng nhất định theo phương pháp của phái ta đã học. Triệt Quyền Đạo dạy ta phải thay đổi phương pháp tùy theo trường hợp. Vịnh Xuân Quyền có châm ngôn: "Dĩ vô pháp thắng hữu pháp". Và Lý Tiểu Long có viết: "Dĩ vô pháp vi hữu pháp, dĩ vô hạn vi hữu hạn".

Trên thực tế, anh đã chọn lọc thế từ những môn mà anh đã có dịp tham khảo qua và phối hợp với Vịnh Xuân. Lúc đầu, anh dạy bài Vịnh Xuân Tiểu Niệm Đầu làm căn bản cho môn Triệt Quyền Đạo. Nhưng sau đó bài không được dạy nữa và toàn môn phái chỉ là thế của nhiều môn phái khác pha trộn vào phương pháp Niêm thủ của Vịnh Xuân.

Những thế thường dùng trong môn phái của Lý Tiểu Long là:

- Nhật tự xung quyền (đòn đấm thẳng),

- Băng trùy hay Quải trùy (đòn đánh bật lưng nấm tay),

- thế Jab của Quyền Anh,

- thế uppercut của Quyền Anh,

- đòn đấm móc của Quyền Anh,

- đòn đá thẳng,

- đòn đạp,

- thế đá vòng...

Phần binh khí còn truyền lại là Song tiết côn hay Côn nhị khúc (Nunchaku Okinawa), song đoản côn Philipines.

Ông chỉ có một số đệ tử tại Mỹ, những người đó là: Lee Dan (sinh năm 1930), Lee James, Glover Jessie, Hart Ed, Hartsell Larry, Kimura Taky, Wong Ted, Inosanto Dan (sinh năm 1936)...

Hiện tại, Inosanto Dan là truyền nhân hoạt động mạnh nhất. Ông đã thêm vào môn Triệt Quyền Đạo nhiều kỹ thuật Kali và Eskrima của Philipines.

Môn Triệt Quyền Đạo thịnh hành tại Mỹ Châu và Âu Châu.

Hết

Nguyễn Quí Jacques và Dufresne Thomas