Sách » Thể loại khác » Tư liệu võ thuật

Lược khảo võ thuật Trung Hoa (Phần cuối)

CHƯƠNG MƯỜI:PHỤ LỤC

A. KHẢO CỨU VỀ CHÙA THIẾU LÂM

1. Ðịa điểm của chùa Thiếu Lâm

Sơn môn Thiếu Lâm TựChùa Thiếu lâm tại núi Tung Sơn, huyện Ðăng Phong, tỉnh Hà Nam. Núi này có nhiều tên khác nhau. Sách Thượng thư gọi là Ngoại phương. Sách Kinh thi thì gọi là Tùng sơn. Sách Nhĩ nhã thì gọi là Trung nhạc. Sách Sử ký thì gọi là Thái thất. Sách Hán thư thì gọi là Tông sơn. Sách Sơn hải kinh thì gọi là Bán thạch sơn.

Hai núi Thái thất và Thiếu thất đều được gọi chung là Tung sơn, bởi vì đều có thạch thất (nhà bằng đá) mà mang tên ấy. Theo sách Tây chinh ký cửa Ðới Diên Chi thì : "Phía đông núi gọi là Thái thất, phía tây gọi là Thiếu thất. Cách nhau 70 dặm. Cả hai gọi chung là Tung sơn. Ở dưới núi có nhà bằng đá. Vì vậy nên mang tên là "Thất".

Thiếu thất còn có một tên nữa là Quí thất. Trong Sơn hải kinh có chú thích : "Núi còn có tên là Phụ mạch sơn. Ngày xưa thành Phụ mạch ở phía Nam núi này. Vì vậy mang tên ấy". Lại xem sách Quận quốc chi, lại có tên là Tung thiếu. Thơ của Hán Thoái Chi có câu : "Tam nguyệt Tung thiếu bộ" (ba tháng đi trong núi Tung thiếu). Sách Dư địa chi  lại chép : "Ðời vua Tuyên Tông nước Kim đã từng đóng binh trên núi này, gọi núi này là Ngự thác". Sách Nguyên hoà chí có ghi : "Núi Thiếu thất cao 16 dặm, chu vi 30 dặm, có tất cả 36 ngọn núi cao". Người đời Ðường cũng đã từng ví núi Thiếu thất như hoa sen. Ðến nay, xa gần đều gọi núi Thiếu thất là chín đỉnh hoa sen (cửu đỉnh liên hoa). Ngũ nhũ phong là một ngọn núi riêng rẽ ngoài 36 ngọn này. Ðời Minh, Hứa Tuyên có bài thơ "Lên núi Ngũ nhũ phong" miêu tả cảnh đẹp của núi này, làm cho người đọc phải chú ý :

Trước núi Thiếu thất có Ngũ nhũ phong,
Vén áo mà bước lên núi cao ngàn thước,
Biết có ai theo mình hay không ?
Nhìn xuống xa xa, nước sông Hoàng hà cuồn cuộn chảy...

Ngũ nhũ phong sở dĩ mang tên này bởi vì hình thể mà ra. Ðời Minh, Vương Thế Bân ghi lại trong bài đi chơi núi Ngũ nhũ chùa Thiếu lâm có viết : "Núi Ngũ nhũ giống hình chim phượng triển hai cánh". Vương Sĩ Tính, trong bài ký đi chơi Tung sơn, cũng chép : "Ngũ nhũ phong giống như con phượng đang bay".

Chùa Thiếu lâm xây trên sườn núi Ngũ nhũ, hình thế của chùa này đã được hai nhà văn đời Minh miêu tả rồi. Chu Thúc, trong bài ký đi chơi Tung sơn có ghi : "Chùa tại sườn núi Ngũ nhũ, núi Thiếu thất ở phía Nam, thấp thoáng như cái bình phong".

Cao Tường Phụng, trong bài ký đi chơi núi Tung cao cũng ghi : "Chùa ở phía Bắc núi Thiếu thất, ngoài 36 ngọn núi, có ngọn núi tên Ngũ nhũ phong, từ núi Thiếu thất có một dãy núi như một cánh tay vòng quanh chùa Thiếu lâm".

II. SÁNG TẠO CHÙA THIẾU LÂM

Chùa Thiếu lâm được xây đời vua Hiến văn nhà Hậu Ngụy, cho nhà sư Thiên trúc là Bạt Ðà tu. Lịch sử xây cất chùa đều có ghi chép trong các sách "Ngụy thư Thích Lão chí", "Bùi Thôi bia", "Cảnh đức truyền đăng lục", "Thái bình hoàn vũ ký".

Sách Ngụy thư Thích Lão chí chép :

"Nhà sư ở Tây vực tên là Bạt Ðà, vốn có đạo đức, rất được vua Cao Tổ kính trọng, tin theo. Vua hạ chiếu lập chùa Thiếu lâm ở phía Bắc núi Thiếu thất để ngài ở."

Bài bia ở chùa Thiếu lâm của Bùi Thôi đời Ðường, chép : "Chùa Thiếu lâm được xây đời vua Hiếu Văn nhà Hậu Ngụy". Lại chép : "Sa môn tên là Bạt Ðà, người ở Thiên trúc. Vốn là người gác bỏ chuyện trần tục, đạo hạnh cao, rất giỏi về Phật pháp. Ngài từ Tây vực đến, vào kinh đô, vua Hiếu Văn mời vào ở trong cung điện, đối đãi rất cung kính. Trong niên hiệu Thái Hoà, vua hạ chiếu cho quan Hữu tư lập chùa để ngài ở tu."

Sách Truyền Ðăng lục chép :

"Bạt Ðà, người Thiên trúc còn gọi là Phật Ðà, giỏi Phật pháp, thông suốt kinh điển. Vua Hiếu Văn rất kính trọng nghe lời ông mà dời kinh đô về dùng Y lạc, lại xây Tĩnh viện để ông ở. Bạt Ðà thích nơi yên tĩnh, xin vào ở nơi rừng núi. Thường đến vùng Tung nhạc để tránh sự vãng lai của người đời. Chẳng bao lâu, vui sai xây chùa Thiếu lâm trên núi Thiếu thất."

Sách Thái bình hoàn vũ chép :

"Chùa Thiếu lâm ở huyện Hầu thị được xây vào năm 19 đời vua Hiếu Văn nhà Ngụy. Nhà sư ở Tây vực hiệu là Bạt Ðà có đạo nghiệp, rất được vua Cao Tổ kính trọng, sai lập chùa Thiếu lâm trên sườn núi Thiếu thất để ngài ở tu, lại cung cấp thức ăn, áo mặc.

 

III. NGUYÊN DO LÀM CHÙA THIẾU LÂM NỔI TIẾNG VỀ VÕ THUẬT

 

Chùa Thiếu lâm nổi tiếng về võ bắt đầu từ cuối đời Tùy, các nhà sư chùa nầy chống nhau với giặc và đầu đời Ðường, giúp vua Thái Tông đánh Vương Thái Sung. Hai chuyện này đều chép trong bài bia chùa Thiếu lâm của Bùi Thôi.. Chùa Thiếu lâm đánh giặc được ghi chép rất tường tận trong bài bia của họ Bùi :

"Cuối niên hiệu Ðại Nghiệp, đất nước loạn lạc, giặc cướp phá chùa, bất kể là tăng hay tục đều bị giết hại. Chùa bị bọn cướp núi xâm phạm, các thầy chùa chống lại. Giặc bèn nổi lửa đốt các tháp và chùa, làm cho chùa bị thiêu rụi."

Về sau vua Ðường Thái Tông đánh nhau với Vương Thế Sung có gởi thơ đến chùa kể tội họ Vương, trình bày chính nghĩa của nhà vua và kêu gọi sự giúp đỡ của các nhà sư trong chùa Thiếu lâm. Vì vậy mà có các nhà sư như Chí Tháo, Huệ Tích, Ðàm Tông dẫn thầy chùa theo quân Ðường đánh Thế Sung, bắt được cháu của Sung là Nhân Tắc.

Vua Thái Tông hết sức ngợi khen các nhà sư ban chiếu tuyên dương, lại cấp đất cất chùa.

Cố Thiếu Liên nhà Ðường có bài Ký Tân tạo chùa Thiếu lâm trên núi Tung nhạc có ghi :

"Chùa Thiếu lâm nổi danh vào niên hiệu Thừa quang, lại nổi danh vào niên hiệu Ðại Tượng."

Nay xét những nguyên nhân đã làm cho các nhà sư chùa Thiếu lâm giúp vua Ðường Thái Tông đánh Vương Thế Sung :

1. Quân lính của Vương Thế Sung có ý dòm ngó chùa Thiếu lâm.

2. Ðất đai của nhà chùa bị lính của họ Vương chiếm đóng.

Vì thế, các nhà sư mới theo nhà Ðường đánh họ Vương. Sau khi đã dẹp được loạn Vương Thế Sung, nhà sư Ðàm Tông được phong chức Ðại tướng quân.

Trình Xung Ðẩu, trong quyển Thiếu lâm côn pháp thiền tông và Ðỗ Mục trong Du Tung sơn ký đều ghi : "Lúc ấy, các nhà sư có công là 13 người, chỉ có Ðàm Tông được phong Ðại tướng quân, còn 12 người không muốn làm quan được nhà vua cho 40 khoảng đất".

Sách Thiếu lâm côn pháp thiền tông có chép :

"Ðầu đời Ðường, bọn Ðàm Tông khởi binh đánh giặc, bắt được cháu Thế Sung là Nhân Tắc, theo về với nhà Ðường. Vua Thái Tông ban khen là nghĩa liệt, phong Ðàm Tông làm Ðại tướng, các nhà sư đều ban cho ruộng đất, cấp chiếu khen thưởng, ủy lạo..."

 

__________________________________

 

Chú thích về Vương Thế Sung

Người đời Tùy, cha vốn là dân Hồ ở Tây Vực. Vua Dụng Ðế nhà Tùy đi chơi ở phương Nam, lúc ấy Thế Sung làm Ðông đô Lưu thú. Ðến khi các nơi nổi loạn, Thế Sung lập Việt vương (tên là Ðồng) làm vua. Ðánh nhau với Lý Mật, thắng nhiều trận. Sau bỏ Việt vương, tự lập làm vua, xưng là Trịnh đế. Sau đánh nhau với vua Ðường Thái Tông, thua, đầu hàng. Bị kẻ thù giết ở kinh đô Trường an. Sách Tùy thư, tên Vương Thế Sung chép là Vương Sung.

B. NGUỒN GỐC CỦA HÌNH Ý NGŨ HÀNH LIÊN HOÀN QUYỀN

Môn Hình ý quyền tương truyền do Nhạc Vũ Mục đời Tống sáng chế. Khảo cứu trong sử sách, còn thấy chép lại điều ấy. Nhưng quyền pháp này không biết biểu diễn như thế nào và được truyền dạy cho ai, địa phương nào thịnh hành môn quyền thuật này.

Nhạc Vũ Mục sống trong lúc giặc Kim xâm lăng Trung Quốc. Tinh trung đại tiết của người rạng rỡ trong sử sách. Những môn còn sót lại của người cũng làm cho đời đời thán phục. Người đời sùng bái nhân cách của Nhạc Thiếu Bảo (1), học tập môn quyền này thật nhiều. Tiếc cho Vũ Mục bị tên gian thần Tần Cối hãm hại, chết oan trong ngục. Hình ý quyền bị tuyệt tích trong thiên hạ.

Túng sử có kẻ biết môn này cũng giấu tiếng, im hơi, không dám biểu lộ. Võ nghệ của người truyền dạy, tuy lúc bấy giờ vắng bóng trên đất nước, nhưng cũng còn tiếp nối đến hậu thế. Hiển lộ và ẩn bóng vốn có lúc chăng ?

Ðời sau có Cơ Long Phong, người ở Bồ Châu tỉnh Sơn Tây, giỏi quyền thuật, lại càng giỏi về phép đánh thương. Vào cuối đời Minh, đầu nhà Thanh, họ Cơ đến phỏng đạo ở núi Chung Nam, gặp được bậc dị nhân trao cho Ngũ quyền kinh của Nhạc Vũ Mục ; ở trong có  chép về Ngũ hành và các hình vẽ liên hoàn : Long, hổ, ưng, hùng (gấu), xà, cáp (bồ câu), yén, kê, diêu (tên một loài chim), mã, hầu, qui, đều căn cứ vào hình thể mà lấy cái ý. Ðó là do lai mệnh danh của môn Hình ý quyền. Long Phong từ đấy sớm chiều luyện tập, lần hồi tự thông hiểu, sau đại ngộ mà trung hưng môn võ này.

Sau đó ít lâu, có người ở huyện Thái Cốc tỉnh Sơn Tây là Ðới Long Bang đến xin làm môn hạ họ Cơ, giữ lễ đệ tử, học rất tiến bộ, công phu cũng tinh thuần độc đáo. Lúc đó, những người ở xa gần cũng phụ họa theo. Cũng có kẻ học môn này nhưng không ai hiểu được chỗ ảo diệu của Hình ý quyền.

Về sau, có bậc tiền bối ở Hà Nam là Mã Học Lễ biết rằng Hình ý quyền rất sâu xa, sợ không học được những sở đắc của môn này, bèn giả làm một người đi thuê nghèo khổ, đến làm công cho nhà Cơ Long Phụng tron 3 năm, lén trông hết những yếu nghĩa bí truyền của môn này. Sau dần dần mới trình bày lai lịch. Long Phong khecủa ông, đem tất cả những sở trường của Hình ý quyền dạy cho họ Mã.

Như vậy, kẻ học được chân truyền, đạt đến chỗ ảo diệu của Hình ý quyền chỉ có Ðới Long Bang và Mã Học Lễ mà thôi.

Họ Mã về Hà Nam, đem điều học được dạy học trò. Ðương thời, người học đến đầy cửa, nhưng những người được coi là giỏi nhất chỉ có Mã Tam Nguyên ở Hà Nam, Trương Chí Thành ở Nam Dương mà thôi. Về sau, Trương Chí Thành dạy cho Lý Chính ở Lỗ Sơn, Lý Chính dạy lại Trương Tụ cũng ở Lỗ Sơn. Trương Tụ dạy cho Giả Tráng Ðồ, Tráng Ðồ dạy cho An Ðại Khánh ở Trường an. Ðại Khánh lại dạy Bảo Hiển Ðình. Ðó là nguồn gốc Hình ý quyền thuộc chi phái ở Hà Nam vậy.

Còn chi nhánh Hình ý quyền của Ðới Long Bang truyền ở Sơn Tây rất rộng. Ngày nay, môn phái này thịnh hành ở vùng Tam Tấn. Vì khảo cứu chưa rõ nên không thể ghi lai lịch của chi phái này.

Về sau ở Thâm Châu thuộc  Trực Lệ có Lợi Lạc Năng (còn có tên là Phi Vũ), tự là Năng Nhiên vốn thích quyền thuật, thường đi buôn ở Thái Cốc, nghe tiếng Ðới Long Bang giỏi về Hình ý quyền, bèn đến yết kiến, được chỉ điểm, mới lấy lễ thầy trò mà thờ Ðới Long Bang.

Lúc ấy, Lợi Lạc Năng đã 37 tuổi. Từ khi học với Long Bang, sớm chiều luyện tập, đến năm 47 tuổi, học mới đại thành. Ðó là chi nhánh Hình ý quyền ở Bắc phái. Phái này cũng đã phát huy nhiều cho môn Hình ý vậy.

Sau khi trở về quê, họ Lợi dạy học trò. Người ở Thâm Châu là Quách Vân Thâm, Lưu Kỳ Lan, ở Uyển bình là Tống Thế Vinh, ở Ðại hưng là Bạch Tây Viên, ở Thái Cốc là Xa Nghị Trai, ở Hà gian là Lưu Hiểu Lan, ở Tân an là Thọ Nhiễu Trai đều là học trò giỏi, được tiếng tăm lớn, là những người giỏi võ trong nước. Quách Vân Thâm dạy cho Hứa Chiếm Ngao, Lợi Khuê Nguyên, Tiền Quan Lượng, Lợi Tồn Nghĩa, Trương Chiếm Khôi...

Các vị kia đều có học trò nối nghề cả, nhưng không được rõ, nên không nêu tên.

Ðến Lợi Tồn Nghĩa lại truyền cho Hách Ân Quang, Thượng Vân Tường, Hoàng Bá Niên, Khương Ngọc Hòa... Những học trò giỏi không dưới mấy trăm người.

Trương Chiếm Khôi dạy cho Hàn Mộ Hiệp, Vương Tuấn Thuần, Lưu Cẩm Khanh... Học trò giỏi cũng đến vài trăm người.

Lợi Khuê Nguyên dây cho Tôn Lộc Ðường, Hàn Kỳ Anh là những học trò giỏi.

Học trò của Lộc Ðường có Trần Vy Minh, Lý Nhuận Như, Cách Vân Ðình, đều nổi tiếng trong Quốc Thuật.

Ðó là nguồn gốc, chi phái của môn Hình ý quyền kể một cách khái lược vậy.

C. TIỂU SỬ VÀI DANH TÀI VÕ THUẬT TRUNG HOA

I. Tiểu sử Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi)

Nhạc Phi tự là Bằng Cử, người ở Thang Âm, Tương Châu (nay là huyện Thang Âm, tỉnh Hà Nam). Nhà đời đời theo nghiệp nông. Phụ thân tên là Hòa, từng nhịn ăn để giúp người đói.

Nhạc Phi sinh năm thứ 2, niên hiệu Sùng Ninh nhà Tống (1183) vào ngày rằm tháng 2 âm lịch. Sinh chưa đầy tháng thi gặp thủy tai, mẹ ông là Diêu phu nhân, ẳm ông ngồi trong cái chum lớn, lướt trên sóng to, tấp vào bờ nên khỏi chết.

Thuở nhỏ, ông chuộng điều khí tiết, thâm trầm, cẩn thận, ít nói, nhà nghèo gắng gọc. Rất thích đọc Xuân thu tả thị truyện và Tôn Ngô binh pháp. Lại có sức khỏe, có thể dương cung nặng 300 cân, nõ nặng 8 thạch. Học bắn với thầy là Chu Ðồng, có thể bắn cả tay trái và tay phải. Chu Ðồng mất, mỗi khi đến ngày rằm và mồng một, ông đến tế mộ thầy.

Năm 16 tuổi, ông cưới vợ, họ Lý. Năm 20 tuổi ứng lời mộ quân của quan trấn thủ Tuyên định là Lưu Hiệp, tùng chinh. Gặp khi phụ thân mất, ông trở về Thang âm.

Năm 22 tuổi, theo tùng quân bình định. Trong thời Tỉnh Khang, ông 24 tuổi, giặc Kim công hãm Biện kinh, bắt hai vua Huy, Khâm đem về Bắc. Nhà Bắc Tống mất.

Khang Vương (tức là Tống Can Tông) qua sông, chạy về phương Nam. Nhạc Phi yết kiến Khang vương ở Tương châu, được bổ làm Thừa tín lang, rồi đổi làm Bỉnh nghĩa lang, thuộc quyền chỉ huy của Lưu thú Tông Trạch (lúc ấy Tông Trạch làm Lưu thú ở Biện kinh). Tông Trạch rất lấy làm lạ về tài của ông, nói với họ Nhạc rằng :

Ngươi trí dũng, tài nghệ, những lương tướng ngày xưa cũng không hơn được. Nhưng thích dã chiến, không phải là kế vẹn toàn.

Bèn dạy ông về trận đồ.

Nhạc Phi thưa :

Bày trận trước rồi sau mới đánh là lối thường của phép dùng binh. Cái huyền diệu của sự vận dụng là do tấm lòng nảy sinh ra thôi.

Trạch cho là phải.

Khang Vương lên ngôi vua ở Nam Kinh cải nguyên là Kiến Viêm. Nhạc Phi dâng thơ luận về thời sự, xin vua đánh về phương Bắc.

Vì ông vượt quá chức phận để bàn quốc sự, bị đoạt mất quan chức. Trở về, ông theo quan Chiêu thảo sứ ở Hà Bắc là Trương Sở, làm Trung quân Thống chế. Sở nói chuyện với ông, rất lấy làm bằng lòng, bổ làm chức Vũ kinh lang. Ông theo Vương Ngạn vượt qua sông, tiến binh đến Thái hành sơn, đánh thắng quân Kim, bắt được tướng của giặc Kim là Thát Bạt Ô Gia, đâm chết tướng giặc là Hắc Phong đại vương.

Ông tự biết cùng với Ngạn không hợp, cho nên quay về với Tông Trạch, làm Thống chế.

Trạch mất, Ðỗ Sung thay Trạch làm Lưu thú, ông thuộc quyền chỉ huy của Sung. Ông đánh nhau với giặc Kim, thường thắng, dần dần thăng đến chức Vũ đức Ðại phu, làm chế sứ ở Anh chân.

 

Hết