Sách » Thể loại khác » Tư liệu võ thuật

Lược khảo võ thuật Trung Hoa (Phần 7)

CHƯƠNG SÁU: PHÂN LOẠI KHÁC NHAU

Trong thời cận đại, các môn phái của Nội gia tương đối ít, ngược lại, các môn phái Ngoại gia thật phồn thịnh. Nay lược thuật quyền thuật của Nội gia và Ngoại gia như sau:
1. THÁI CỰC QUYỀN

Thái Cực Quyền - Tả  hạ thếQuyền thuật của Nội gia coi Thái  Cực Quyền là chính tông. Ðộng tác của môn Thái Cực khá chậm, nhưng khi ứng dụng thì rất mau chóng. Vì vậy mới có câu : Tĩnh có thể thắng động. Do đó trước hết phải luyện tĩnh công để bình tĩnh quan sát sự biến hóa, tùy lúc mà ứng dụng. Thái Cực Quyền lấy 13 thế làm chủ, hay còn gọi là Thập tam thế.

Phàm tập về Thái Cực Quyền, một người luyện tập riêng thì có lợi cho việc dưỡng sinh. Hai người thì cùng luyện tập, song đấu thì linh động, có thể tùy theo thế tấn công của địch mà thắng địch. Danh gia về Thái Cực Quyền là Vương Tông Nhạc viết trong sách Thái Cực Quyền pháp luận : "Có thể dùng 4 lượng mà chống được 1000 cân, Thái Cực Quyền không dùng lực mà thắng địch"

Chu Tú Phong tiên sinh ở Sơn đông có viết :"Tục truyền tập Thái cực quyền trong 10 năm không bước ra khỏi cửa, ý nói công phu đòi hỏi một thời gian khá dài vậy ".

Nếu không tập luyện ròng rã trong 10 năm, không thể ra ngoài đối phó với địch thủ được.

2. BÁT QUÁI CHƯỞNG

Bát quái kiếmNgoài Thái Cực Quyền, còn có Bát Quái Chưởng, cũng là võ học của Nội gia. Về hình thức thì môn quyền thuật Bát Quái này rất nhiều, tương tự như quyền thuật của Ngoại gia, nhưng lại dùng hoàn hành (bộ pháp tròn) và hoán chưởng (thay đổi tay) làm chính tông, còn gọi là Du thân bát quái. Bát quái chia ra ba loại, thượng bàn, trung bàn và hạ bàn khác nhau. Các thế của thượng bàn hơi thấp, các thế của trung bàn so với thượng bàn lại thấp hơn, đến như các thế của hạ bàn lại càng xuống thấp hơn nữa. Bộ pháp thì rất hẹp, chỉ cần phạm vi mỗi bề 2 thước (8 tấc Tây) cũng đủ xoay trở. Trong lúc sử dụng bộ pháp, dụng ý của Bát quái môn là né tránh thế công của địch, tập kích vào mặt sau của đối phương nên còn gọi là tránh thực, đánh hư. Vì vậy, người luyện tập cần phải làm sao bộ pháp cho nhanh, đánh vào sau lưng địch mà địch không kịp né tránh.

Trong lúc ứng địch, cần phải ý chuyển mà khí trầm, vì vậy thay đổi chừng vài thế, người biểu diễn quyền thuật này cảm thấy các kinh mạch trong thân thể điều thông suốt. Ðộng tác của Bát quái gồm Thập chưởng : Ðơn hoán chưởng, Song hoán chưởng làm gốc. Tám chưởng còn lại là Thuận thế chưởng, Ðại mãng phiên thân, Sư tử khai khẩu, Sư tử cổn cầu, Phong luân chưởng, Thám chưởng, Ðại bàng triển xí, Bạch viên hiến quả.

3. HÌNH Ý QUYỀN

Hình ý quyềnCó người cho rằng Hình Ý Quyền do Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi) đời Tống sáng chế. Thuyết này có nhiều chỗ đáng ngờ. Nhưng dụng ý của môn quyền thuật này có rất nhiều tương quan với hai môn Thái Cực Quyền và Bát Quái Chưởng. Ngày nay, những người luyện tập Thái Cực Quyền đều có học qua về Hình ý và Bát quái, và những người học Hình Ý Quyền cũng học thêm về Thái Cực Quyền và Bát Quái Chưởng.

Gần đây có nhiều người tuy biết rằng Hình Ý Quyền không phải do Nhạc Phi sáng tạo, nhưng biết rõ nó nhiều tương quan với hai môn Thái cực và Bát quái, nên đã xếp Hình Ý Quyền  vào loại quyền thuật của Nội gia.

Cơ bản các động tác của môn Hình ý gồm Ngũ hành và Thập nhị hình. (Thập nhị hình là long, mã, hổ, hầu, qui, kê, diêu, yến, xà, di, ưng, hùng).

4. PHÂN LOẠI QUYỀN THUẬT BẮC PHÁI

Bắc phái thuộc Ngoại gia có rất nhiều chi nhánh không thể kể hết tất cả. Nay đưa ra những nét đại cương, gồm ba loại. Trường quyền, Ðoản đả và Ðịa đàng

Các môn Thái tổ, Nhị lang, Mê tung, Bát cực, Phiên tử, Tra quyền, Hồng quyền vv... rất nổi tiếng trong loại Trường quyền. Những môn ấy đại đồng tiểu dị. Thường trong lúc luyện tập coi trọng sự tiến thoái mau lẹ, nhảy, tọa nhẹ nhàng, khí thế tinh nhuệ, phương pháp biến hóa nhiều, đường quyền rộng vv...

Còn như về môn Ðoản đả thì nổi tiếng nhất là Miên Trương Ðoản đả, Lục lộ Ðoản đả của Ðàn thoái môn, Thiên cang thủ ở vùng Giang Nam, Ðối đả của phái Hồng Tháo vv... Ðường quyền nghiêm nhặt, thủ pháp kín đáo. Các loại quyền thuật thông hành ở đất Việt (vùng Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Hoa) cũng thuộc về loại này.

Ðến môn Ðịa đàng chuyên về nhào lộn thì nổi tiếng nhất là Lục hợp quyền. Các loại Hầu quyền, Túy bát tiên cũng là các quyền thuật chủ yếu của Ðịa đàng quyền. Nay, quyền thuật lưu hành ở vùng Trường giang, những phương pháp nhào lộn không chịu ảnh hưởng của Hầu quyền và Túy bát tiên mà có liên quan nhiều đến môn Ðoản đả.

5. CÁC LOẠI THUỘC TRƯỜNG QUYỀN

Công dụng của Trường quyền là ở chỗ mau và mạnh, lúc tiến thì cấp bách, lúc thoái thì gấp rút, nhẹ nhàng không thể biết trước được, làm cho địch thủ khó lường. Trường quyền thường công kích vào chỗ hở của đối phương làm cho địch thủ không thể tự kiểm soát đường quyền.

Trong Trường quyền, môn Phiên tử sở trường về luyện tay, môn Phê quải sở trường về luyện chưởng, Tra quyền sở trường về luyện tập bước đi. Ðó là những chỗ độc đáo của mỗi môn.

Ngày nay, Phiên tử quyền và Bát thiên môn chia thành hai phái ; tuy chia ra làm hai, các tư thế và dụng ý không có gì khác nhau. Những người học quyền nếu thông thạo môn Phiên tử thì cũng luyện tập môn Bát phiên hoặc ngược lại. Trong môn Phiên tử, Ưng trảo liên quyền là cơ bản.

Ðàn thoáicòn gọi là Ðàm thoái. Gần đây rất thịnh hành trong Bắc phái. Sở dĩ gọi tên như vậy là do những thuyết sau đây : có người nói sở dĩ gọi là Ðàm thoái vì do một nhà sư ở chùa Long đàm truyền ra. Lại có người nói kẻ sáng tạo môn võ này là họ Ðàm. Có người gọi là Ðàn thoái vì lực từ chân phát ra rất mạnh như thế đạn bắn.

Các tư thế của môn này rất nhiều, tuy hình thức không khác nhau mấy, nhưng số mục lại có chỗ sai biệt. Ðại khái có thể chia làm 2 loại : một loại gồm 12 lộ rất thịnh hành trong Hồi giáo, một loại chỉ có 10 lộ. Môn Ðàn thoái này rất thực dụng trong quyền thuật Bắc phái, rất ích lợi cho sự vận động.

6. VỀ CÁC LOẠI ÐOẢN ÐẢ

Ðoản đả với Trường quyền ngày nay hỗn hợp với nhau. Vì vậy, những người học tập về Trường quyền đều tập thêm về Ðoản đả. Những người chuyên lấy Ðoản đả làm chủ rất nhiều ở vùng Giang Nam và Quảng Đông. Ở vùng Giang Nam, người ta lại đem Ðoản đả hỗn hợp với Ðịa đàng quyền.

7. CÁC LOẠI THUỘC MÔN ÐỊA ÐÀNG QUYỀN

Môn phái Lục hợp rất coi trọng về Ðịa đàng quyền, nhưng Ðịa đàng quyền lại thành ra một môn riêng. Ngày nay, Ðịa đàng quyền lưu hành ở vùng Giang Nam cùng với Ðịa đàng quyền lưu hành ở vùng Dự (Hà Nam), Lỗ (Sơn Đông) có nhiều chỗ khác nhau. Bởi vì vùng Giang Nam, các tư thế quyền thuật đều hẹp và dày, phần lớn lấy các thế của Ðoản đả. Còn vùng Hà Nam, Sơn Đông, các tư thế rất rộng, phần nhiều lấy những thế của Trường quyền. Nhưng cả hai nơi đều chuộng việc nhào lộn, phàm những kẻ tập Ðịa đàng quyền đều phải sở trường về cách lăn lộn, nhào, té...