Sách » Thể loại khác » Tư liệu võ thuật

Lược khảo võ thuật Trung Hoa (Phần 5)

d. Bát phiênPhiên tử quyền

Còn gọi là Phiên tử môn. Theo sách Kỷ hiệu tân thư của Thích Kế Quang thì ngày xưa có môn "Bát Thiển Phiên" tức là quyền thuật của phái này, rất phổ biến vào đời nhà Minh. Ngày nay, tại Hà Bắc có Trần Tử Chính nổi tiếng về môn này, ông có dạy võ tại Tinh Võ Hội.

e. Trường quyền

Còn gọi là Thái Tổ môn lưu hành từ đời Minh (1368-1660). Trong sách Quyền kinh của họ Thích có nói :

Tống Thái Tổ có 32 thế Trường Quyền. Và : Trường quyền được nổi tiếng từ Tống Thái Tổ.Trường quyền

Như vậy nguồn gốc của môn này rất xưa. Gần đây có người ở Nhật Chiếu, tỉnh Sơn Ðông là Lương Ðức Khôi nổi tiếng về Trường Quyền.

g. Mê Tông quyền

Mê Tông quyền là môn võ gia truyền của nhà họ Hoắc, đến đời Hoắc Nguyên Giáp đã truyền được 7 thế hệ. Tinh Võ Hội ở Thượng Hải là do Hoắc Nguyên Giáp sáng lập, nhưng nay, quyền thuật chính được dạy ở Tinh Võ Hội là Nhị Lang môn do Triệu Chân Quần truyền thụ.

h. Ðoản đả

Theo sách Quyền kinh của họ Thích thì có "Miên chương đoản đả". Theo truyện Biên Trừng trong sách Ninh Ba phủ chí thì :

Giang Bân đem mấy vạn binh hộ vệ cho vua xuống Giang Nam. Khi sắp trở về, Bân cho rằng quân sĩ ở phuơng Nam không khỏe bằng quân phương Bắc, nên có ý giữ toán quân này ở lại trấn thủ. Tư Mã Kiều Vũ nhất định không chịu, cho rằng quân sĩ phương Nam cũng có khả năng, xin hội quân ở hai miền Nam, Bắc lại tỉ võ. Vì vậy mới gọi Biên Trừng và người ở Kim Hoa là Miên Chương đến kinh đô. Kiều Vũ cùng Giang Bân đến diễn võ trường xem tỉ thí. Quân phương Bắc múa song đao như đạn xẹt, Biên Trừng vung côn ra đánh, song đao đều gãy.

Xem như vậy thì Miên Chương và Biên Trừng là người cùng thời với nhau, đều thuộc vào trung diệp nhà Minh.

Ðến nay, những người theo học Trường quyền đều tập thêm về Ðoản đả. Trong môn Ðàm thoái cũng có 6 lộ Ðoản đả. Những người ở vùng Giang Nam chuyên tập về Ðoản đả.

i. Ðịa đàng quyền

Theo sách Quyền kinh của Thích Kế Quang thì Thiên Trật Trương là sư tổ của môn võ này. Ngày nay, Ðịa đàng quyền phổ biến ở phương Bắc Trung Hoa, thường dùng những đòn của Trường quyền làm căn bản. Ngược lại, ở vùng Giang Nam lại dùng những đòn của Ðoản đả làm căn bản. Môn "Túy bát tiên" rất được xem trọng trong phái Ðịa đàng. Gần đây, ở Hà Bắc có Trương Cảnh Phúc, tự là Giới Thần nổi tiếng về Ðịa đàng quyền, từng dạy võ ở Trung Hoa thể dục hội tại Thượng Hải.

k. Phê quải và Bát cực quyềnBát cực đao

Hai môn quyền thuật này không biết có từ đời nào và do ai sáng tạo. Môn võ Bát cực quyền hơi có vẻ chậm chạp còn Phê quải quyền thì hoạt bát mà hữu dụng, tương đối có nhiều tính chất mềm dẻo nhất trong các loại quyền cương mãnh của Bắc phái.

3. ÐÔ VẬT

Môn này có từ đời thượng cổ của Trung Quốc. Ðời Minh, Trần Nguyên Bân đem dạy môn này cho người Nhật thành ra Nhu Thuật (Judo ngày nay). Trần Nguyên Bân rất nổi tiếng về môn này vào đời Minh. Gần đây, người ở Bảo Dương là Mã Lương Thường đề xướng môn đô vật. Trong khi họ Mã làm trấn thủ sứ ở Tế Nam, trong đám bộ hạ có nhiều nhân tài về môn đô vật nhất là Vương Chấn Sơn. Về sau có doãn Chiếm Khôi xuống phương Nam dạy môn này, nhưng người phương Nam Trung Quốc không ưa tập môn đô vật lắm.

4. KIẾM THUẬT

Ngày nay, ngoài việc sử dụng quyền thuật, các môn phái đều học thêm về lối dùng binh khí, thường có nhiều người nổi tiếng vì chuyên sử dụng một loại binh khí nào đó. Nay đem những môn phái thiện dụng về võ khí cùng với nguồn gốc liệt kê ra sau đây :

a. Kiếm

Ðời Minh, có người ở Thường Thục là Thạch Ðiện, tự là Kính Nham học kiếm thuật với Cảnh Quật rồi dạy cho người ở Thái Thương là Lục Thế Nghi, người ở Thông Uy là Trần Hồ... Một danh tướng đời Minh là Dũ Ðại Dư từng theo Lý Lương Khâm học lối đánh trường kiếm ở vùng Kinh, Sở. Ðến đời Thanh, có Vương Diệu Thần ở Sơn Ðông nổi tiếng về đánh kiếm, dạy cho Ngô Ngọc Sinh ở Tứ Xuyên. Ngọc sinh lại dạy cho Tống Tồn Phượng. Họ Tống có soạn sách Kiếm pháp chân truyền. Theo tác giả, nhà kiếm thuật nổi tiếng đương thời là Lý Cảnh Lâm từng theo học với kiếm sư Trần Thế Quân, tục truyền kiếm thuật của họ Trần đã đến chỗ thần diệu. Môn kiếm này áp dụng thân pháp của quyền Thái cực, bộ pháp của môn Bát quái, khai sáng một lối kiếm thuật riêng. Lại có Tôn Phúc Toàn soạn quyển Bát quái kiếm. Triệu Liên Hoà còn truyền lại "Ðạt ma kiếm", "Thế bào kiếm", Mã Kim Tiêu có truyền lại môn "Thuần dương kiếm", Trương Cảnh Phúc truyền lại môn "Bàn long kiếm".

b. Thương pháp

Theo sách Kỷ hiệu tân thư của Thích Kế Quang, thì dòng họ Dương nổi tiếng về Lê hoa thương pháp, cho rằng :

Thần hóa vô cùng, người đời sau không hiểu được chỗ sâu xa của nó. Hoặc có kẻ biết mà giữ kín không dạy, hoặc dạy sai hẵn với chân truyền. Vì vậy thương pháp phổ thông chỉ có thương pháp nhà họ Mã, nhà họ Sa, gọi là Can tử. Các loại thương này đều có chỗ hay, nhưng cách dùng đánh xa hay đánh gần có nhiều điểm khác nhau, chỉ có pháp đánh thương của dòng họ Dương thì tay cầm đốc thương, đưa thương ra rất dài, lại vừa có hư, có thực, có kỳ, có chính. Lúc tiến lên thì dũng mãnh, lúc lui về thì nhanh nhẹn. Thế rất hiểm, lúc bất động như núi Thái sơn, lúc động như điện xẹt. Vì vậy mới có câu : "Trong vòng 20 năm, ngọn Lê hoa thương không gặp một đối thủ". Thật có thể đáng tin vậy.

Xem như thế thì có lẽ Thích Kế Quang học được chân truyền lối đánh thương của họ Dương.

c. Côn pháp

Ðời nhà Minh, các danh tướng như Du Ðại Du, Thích Kế Quang đều giỏi về côn pháp. Lại có những người thiện dụng môn này như Lý Lương Khâm, Lưu Bang Hiệp, Lâm Diệm... Lại có lối côn pháp ở Thanh Ðiền, người đời Minh cũng không rõ nguồn gốc. Trong niên hiệu Vạn lịch đời Minh, có người ở Tân Ðô là Trình Xung Ðẩu, tự là Tông Du, theo các nhà sư Thiếu lâm là Hồng Kỷ, Hồng Chuyển chuyên luyện về côn pháp. Ông có soạn sách Thiếu lâm côn pháp Thiền tông.

Hà Lương Thần trong sách Trận Kỷ khi luận về côn pháp lúc bấy giờ để chia ra thành từng phái, có viết :

Côn pháp ở vùng Ðông hải, Biên thành và của Du Ðại Du thích hợp với nhau. Có nhiều chỗ dấu kín không dạy. Côn pháp của Thiếu lâm đều là dạ xoa côn pháp. Vì vậy có Tam đường là Tiền, Trung và Hậu. Tiền đường côn còn gọi là Ðơn thủ dạ xoa, Trung đường côn còn gọi là Âm thủ dạ xoa, giống như đao pháp. Hậu đường côn còn gọi là Hiệp côn đới bổng, các nhà sư ở Ngưu sơn giỏi về lối này.

Sách Ninh Ba phủ chí có viết :

Biên Trừng theo học võ ở chùa Thiếu lâm.

Như vậy côn pháp của ông tức là Dạ xoa côn. Sách lại ghi :

Trong niên hiệu Chính Đức, giặc Nụy Khấu đến cống hiến lễ vật. Có tên giỏi đánh côn nghe tiếng của Trừng xin tỉ đấu. Quan thái thú Trương Tân đồng ý. Giặc Nụy hơn 10 tên, đều cầm thương tranh nhau đâm Biên Trừng nhưng ông chỉ cầm chỉa ba vung lên, bao nhiêu thương đều rơi hết.