Sách » Thể loại khác » Tư liệu võ thuật

Lược khảo võ thuật Trung Hoa (Phần 4)

CHƯƠNG BỐN

NHỮNG VÕ PHÁI CẬN ÐẠI

Phần trước đã khảo cứu về nguồn gốc của quyền thuật, có thể coi các phương pháp đánh bằng tay, đô vật, thuật hô hấp của đạo gia, kiếm thuật là đầu mối của võ thuật cận đại. Căn cứ vào sách vở để so sánh các môn phái gần đây, ta thấy có rất nhiều sự biến thiên, nhưng có thể suy xét mà tìm ra được nguồn gốc.

Từ đời Minh (1368-1660) trở về sau, các hệ phái võ thuật tương đối rõ ràng. Thầy, trò nối nhau truyền thụ tinh hoa quyền thuật và võ khí có thể nhìn vào sách vở mà thấu rõ. Còn từ đời Minh trở về trước, nguồn gốc rất mơ hồ, phần đông chỉ căn cứ vào các truyền thuyết mà thôi. Nay lược thuật các võ phái cận đại là căn cứ vào những điều có thể tin được. Những điểm nào nghi ngờ thì xếp vào phần tồn nghi. Nếu chỗ nào có nhiều thuyết khác nhau thì lấy thuyết nào có thể tin tưởng nhất liệt vào chương này.

Hiện nay, gọi là quyền thuật, có thể chia thành Nam, Bắc hai phái. Nguồn gốc của Nam phái bắt đầu từ Trương Tam Phong ở núi Võ Ðang, trong đó, chủ yếu là Thái Cực môn, cùng với hai môn Bát Quái và Hình Ý, xếp thành một phái. Chi nhánh của Bắc phái thì rất nhiều. Trứ danh nhất gồm có Ðàm Thoái, Tra Quyền, Thiếu Lâm, Ðoản Ðả, Ðịa Ðường, Bát Cực, Phê Quải...

Võ công của Nam phái phần nhiều nhu hòa, những người theo học đa số là văn nhân, học sĩ, phần đông có ghi chép lại những điều đã học. Vì vậy nguồn gốc tương đối minh bạch – võ công của Bắc phái tương đối cương mãnh, những người theo học đa số là võ sĩ thô mãng, vì vậy nguồn gốc mờ mịt, khó biết được – nay theo sự tường thuật về nguồn gốc của các môn phái ghi chép lại ở sau.

 

1. NAM PHÁI

 

a. Thái Cực quyềnThái Cực Quyền

Về nguồn gốc của Thái Cực Quyền. Theo các tài liệu nghiên cứu thì được hình thành từ cuối thời nhà Minh đầu nhà Thanh - Trung Quốc. Trong “ Ôn Huyện Chí” có ghi chép rằng: “ vào năm thứ tư Sùng Trinh đời vua Minh  Tư Tông (1644) có Trần Vương Đình là quan võ tại huyện Ôn (Tỉnh Hà Nam - TQ). Sau khi nhà Minh bị diệt vong, ông về ẩn tại quê nhà. Vào thời điểm này ông dành nhiều thời gian để nghiên cứu võ thuật, nhận đệ tử để truyền dạy. Trần Vương Đình đã nghiên cứu “ Hoàng Đình Kinh” của Đạo giáo, đồng thời so sánh, tham chiếu với “ Quyền Kinh” của Thích Kế Quang” để soạn ra Thái Cực Quyền. Vì vậy có thể kết luận rằng Trần Vương Đình là người sáng tạo ra Thái Cực Quyền.
Nguồn gốc của Thái Cực Quyền có 3 đặc điểm chính là:
1) Hấp thụ một cách tổng hợp quyền pháp của thời nhà Minh.
Thích Kế Quang là nàh võ thuật nổi tiếng thời nhà Minh, ông có công lớn trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lươch Nhật Bản thời bấy giờ. Thích Kế Quang đã tổng kết và chỉnh lý quyền pháp của 16 loại quyền thuật đương thời, đồng thời áp dụng 32 thức Trường Quyền của Tống Thái Tổ - Triệu Khoang Âm để tạo nên bài quyền đại diện cho quyền thuật phong cách thời nhà Minh. Đến Trần Vương Đình, ông đã rút tỉa ra 29 thế trong đó để tạo nên Thao lộ Thái Cực Quyền. Trong lý luận Thái Cực quyền có thể thấy những ngôn từ của “ Quyền phổ“ và “ Quyền kinh tổng ca“ của họ Trần cũng chịu sự ảnh hưởng từ “ Quyền Kinh“ của Thích Kế Quang.

2) Sự kết hợp có tính chọn lọc và sáng tạo.
Thái Cực Quyền đòi hỏi lấy ý niệm để chỉ dẫn động tác, khí luôn trầm ở Đan điền, tâm tĩnh, thân thả lỏng, kết hợp thủ nhãn, bộ pháp để vận động. Trong quá trình vận động, hô hấp phải luôn đều đặn, áp dụng hình thức thở bụng nhằm thống nhất trong và ngoài cơ thể.

3) Vận dụng học thuyết Kinh Lạc của y học cổ truyền và học thuyết Âm Dương của triết học cổ điển.
Thái Cực Quyền yêu cầu “ lấy ý dẫn khí, lấy khí vận thân“. Nội khí phải được phát xuất từ Đan điền, lực phát ra chủ yếu từ eo, cho nên eo luôn được chú trọng. Thủ pháp chủ yếu của Thái Cực Quyền gồm có: Bằng (đẩy), Loát (kéo), Tễ (đẩy bằng cánh tay), Án (ấn)Thái (giật), Liệt (chặn), Trừu (huých), Hạo (dựa).

 nghiên cứu thì được hình ), Hạo (dựa)

 

b. Bát Quái quyền, còn gọi Bát Quái chưởng

 

Tôn Lục Ðường viết :

 

Trong "Du Thân Bát Quái Liên Hoàn chưởng" có chứa 18 đường La Hán quyền, gồm 72 tiệt thoái, 72 ám cước, đến như các môn điểm huyệt, kiếm thuật và các món võ khí cũng chứa đựng trong Bát Quái quyền.

 Bát quái chưởng

Bát Quái quyền không rõ do ai sáng chế và xuất hiện vào đời nào. Tục truyền có người tên Ðổng Hải Xuyên, gặp được một dị nhân ở vùng An Huy mà học được môn này. Ðệ tử của họ Ðổng có Trình Ðình Hoa, Lý Tồn Nghĩa, Doãn Phúc, Mã Duy Kỳ, Ngụy Cát, Tống Vĩnh Tường, Lý Văn Báo, Triệu Văn Long, Trình Ðình Hoa dạy cho Tôn Lục Ðường. Môn Bát Quái của họ Trình rất nổi tiếng ở Bắc Phương. Biến cố năm Canh Tý (năm 1900), họ Trình bị người Ðức giết. Người con là Hữu Long cũng nối được nghiệp nhà. Trong số đệ tử, giỏi nhất là Tôn Lục Ðường có soạn sách Bát Quái quyền học.

 

c. Có phải Hình Ý môn do Nhạc Phi sáng tạo từ đời Tống ?Hình Ý Quyền

Xem dụng ý của môn này thì cùng nguồn gốc với Thái Cực quyền. Trong khoảng cuối đời Minh, đầu đời Thanh (1660) có người ở Bồ Ðông là Cơ Tế Khả, tự là Long Phong dạy môn này cho Tào Kế Vũ. Họ Tào thi võ đời Khang Hy, đỗ đầu cả 3 lần làm Thiểm Tây Tĩnh Viễn Tổng Trấn. Tào Kế Vũ dạy cho Cơ Thọ và người ở Lạc Dương là Mã Học Lễ. Trong niên hiệu Hàm Phong, có người ở Kỳ Huyện là Ðới Long Bang cùng em là Lăng Bang theo học với họ Mã được bí truyền, nổi tiếng ở vùng Sơn Hữu. Người ở Thâm Châu là Lý Năng đến đất Tấn, nghe danh họ Ðới, đến xin học. Suốt 9 năm, công phu thành tựu. Từ đó ở Hà Bắc mới có môn Hình Ý quyền. Lý Năng dạy cho người ở hà Bắc là Lưu Kỳ Lan, Quách Văn Thâm, Tống Thế Vinh, người ở Sơn Tây là Xa Nghị Tề, người ở Giang Tô là Bạch Tây Viên. Ðệ tử của Lưu Kỳ Lan là Lý Tồn Nghĩa, Cảnh Kế Thiện, Triệu Chấn Tiêu, Chu Minh Thái. Ðệ tử của Quách Văn Thâm là Lý Khôi Nguyên, Lưu Dũng Kỳ. Lý Khôi Nguyên dạy cho Tôn Lộc Ðường. Lộc Ðường viết quyển Hình Ý quyền học. Lý Tồn Nghĩa dạy cho Thượng Văn Tường, Hách Ân Quang, Lý Vân Sơn... Con của Vân Sơn là Kiếm Thu cũng viết sách Hình Ý quyền học sơ bộ.

Như vậy bảo rằng Hình Ý quyền do Nhạc Vũ Mục sáng tạo từ đời Tống là không đúng.

 

2. BẮC PHÁI

 

a. Môn phái Ðàn Thoái

Đàn ThoáiÐàn thoái còn gọi là Ðàm thoái là một môn quyền thuật rất nổi tiếng trong Bắc phái. Các tư thế của các nhà chuyên về Ðàn thoái thường có nhiều chỗ giống nhau, có thể tạm chia thành hai chi nhánh chính : Một nhánh võ gồm có 12 lộ, một chi nhánh gồm có 10 lộ. Những người theo học 12 lộ thường gọi là Ðàm thoái. Từ khi người ở Hà Bắc là Hoắc Nguyên Giáp xuống phương Nam, sáng lập Tinh Võ Hội ở Thượng Hải, người phương Nam theo học môn nầy rất đông. Trong Tinh Võ Hội dạy Ðàm thoái làm căn bản. Những người hội viên của Tinh Võ Hội không ai là không tập môn này. Những người theo học 10 lộ thường gọi môn này là Ðàn thoái, và cho rằng môn này được truyền bởi Hồi giáo. Phái nầy rất thịnh hành ở tỉnh Sơn Ðông. Nhiều người ở Hà Nam cũng theo học. Những người trong Hồi giáo tập luyện quyền thuật, có đến 7, 8 người theo học môn này. 10 lộ Ðàm thoái và Tra quyền rất được những người trong Hồi giáo tán thưởng và chuyên tập. Người giỏi nhất về môn này là Mã Vĩnh Trinh nổi tiếng mạnh nhất Thượng Hải trong mấy chục năm về trước. Nhưng họ Mã không có học trò ở phương Nam Trung Hoa, mấy chục năm về trước, các võ sư thuộc phái Tra quyền là Dương Phụng Chân, Trương Học Sinh được mời dạy võ tại dinh của quan trấn thủ đất Tế Nam. Về sau, học trò của Học Sinh là Vu Chấn Thanh được mời dạy võ ở trường Cao Ðẳng Sư Phạm tại Nam Kinh. Sau đó, Dương Phụng Chân cũng được mời xuống dạy võ ở Trung Hoa Vũ Thuật Hội tại Thượng Hải. Bạn đồng môn của Vu Chấn Thanh là Mã Cẩm Tiêu dạy quyền thuật ở trường Ðệ ngũ tỉnh lập ở Giang Tô. Lại có người Hà Nam là Hà Thế Xương, tự là Ngọc Sơn cùng dạy Tra quyền ở Trung Hoa Võ Thuật hội tại Thượng Hải. Họ Hà mất năm Dân quốc thứ 16, thọ 86 tuổi là bạn thân của Mã Vĩnh Trinh. Lại có người ở Sơn Ðông là Mã Vĩnh Thắng theo học Tra quyền với Tưởng Văn Anh và 10 lộ Ðàn thoái của Hồi giáo. Mã Vĩnh Thắng dạy võ tại trường Công nghiệp chuyên môn học hiệu tại Giang Tô. Từ đó Ðàn thoáiTra quyền được phổ biến ở vùng Giang Nam.

 

b. Tra quyền

Tra quyềnCòn gọi là Xoa quyền, không biết được sáng tạo từ đời nào. Theo những võ sư của môn này thì Tra quyền cùng một gốc với 10 lộ Ðàn thoái đều được truyền từ Tây vực. Theo sách Kỷ hiệu tân thư quyền kinh của Thích Kế Quang thì nhà họ Ôn có 72 đường Hành quyền, cùng một dụng ý như Tra quyền. Môn võ nầy chuyên luyện tiến thối nhanh nhẹn. Như vậy, có thể xem Tra quyềnÐàn thoái cùng nguồn gốc vậy.

 

c. Thiếu lâm

Thiếu Lâm QuyềnPhái này được xem là lĩnh tụ của võ thuật Trung Quốc. Thực ra, quyền thuật của phái Thiếu lâm chỉ nổi tiếng từ trung diệp đời Minh trở về sau. Ðầu đời nhà Thanh, quyền thuật Thiếu lâm đi đến chỗ cực thịnh.

Trong niên hiệu Vạn lịch nhà Minh, các nhà sư Hồng Kỷ, Hồng Tín theo lời mời của Thẩm Tụy Trình ở Bình Hồ, đến Thái Thương dạy võ cho binh sĩ. Ðến khi nhà Minh mất, các bậc cố lão, di dân cùng những người thuộc tông thất nhà Minh trốn vào chùa Thiếu lâm, gắng sức học tập võ nghệ, để mưu việc khôi phục đất nước.