Sách » Thể loại khác » Tư liệu võ thuật

Lược khảo võ thuật Trung Hoa (Phần 3)

CHƯƠNG BA : BIỆN LUẬN VỀ NHỮNG SAI LẦM

Võ thuật Trung hoa có rất nhiều truyền thuyết sai lầm mà các điều ghi chép trong sách vở cũng có nhiều sự vay mượn ngụy tạo. Sai lầm từ đời này nối tiếp đời kia, không phải chỉ một sớm một chiều. Nay biện minh như sau để hy vọng thay đổi những chỗ sai lạc. Những chỗ cũ chính chỉ đưa ra những nét đại cương, những chỗ y thác (dựa vào đó mà thêm thắc vào) không liên quan đến đại thể cũng không đề cập đến (như người ta cho rằng môn kích được truyền từ Lữ Bố hay Tiết Nhơn Quí, thương được truyền từ Triệu Vân, Trương Phi...)

 

1. SỰ GIẢ MẠO VỀ YẾU LUẬN CỦA HÌNH Ý QUYỀN

 

Các nhà quyền thuật phái Hình Ý cho rằng môn này được truyền từ Nhạc Phi. Chuyện này do sự vay mượn mà có. Các nhà quyền thuật phái này mượn danh họ Nhạc để tăng thêm giá trị cho môn phái. Chúng tôi từng có bài : "Bạt Nhạc Phi thị Hình ý quyền yếu luận" rằng : "Lý Kiếm Thu soạn sách Hình ý quyền sơ bộ cuối cùng có phụ mười thiên về "Nhạc Võ Mục". Sách Hình ý quyền học yếu luận viết là cuốn sách này do Trịnh Liêm Phố ở Tế Xương tìm được. Theo chúng tôi xem về văn thể của bài này toàn theo khí cách của thể văn "bát tỷ" (là một thể văn biền ngẫu, giống bát cổ gồm có 8 đoạn). Thể văn "bát tỷ" không thấy Nhạc Vũ Mục viết đến bao giờ. Những người học võ thường ít hiểu văn chương nên không nghi ngờ. Còn người học văn xem qua biết ngay là do người đời sau mượn danh Nhạc Vũ Mục mà viết ra yếu luận về Hình ý quyền.Yếu luận đã không phải do Nhạc Vũ Mục viết thì môn Hình ý quyền có phải do Vũ Mục truyền lại hay không ? Ðó là một điểm đáng nghi ngờ.

 

2. DỊCH CÂN KINH, TẨY TỦY KINH KHÔNG PHẢI CỦA ÐẠT MA ÐẠI SƯ

 

Nghiên cứu tường tận về quyền thuật của Thiếu lâm tự cũng không biết môn võ này được sáng tạo vào lúc nào. Theo những điều ghi chép trong sử thì võ Thiếu lâm có từ đời nhà Ðường (618-713). Nhưng nguồn gốc về quyền thuật và sự truyền dạy võ nghệ trong chùa Thiếu lâm thì mãi đến đời Minh (1368-1436) mới có thể khảo chứng được. Vì truyền thuyết cho rằng Ðạt Ma thiền sư sáng tạo ra võ Thiếu lâm nên nhiều người hiếu sự lại soạn thêm sách Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh để làm cho thuyết này đúng sự thực hơn. Trong bài "khảo chứng về Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh" tôi có nói :

 

Hai sách này do người đời Minh hoặc đời Thanh làm ra, nhưng lại thác danh là do Ðạt Ma thiền sư soạn.

 

Chúng tôi xin đưa ra những chứng minh :

 

a. Sự giả tạo trong bài văn tựa của Lý Tĩnh :

 

Trong bài văn tựa của Lý Tĩnh viết ở sách Dịch cân kinhTẩy tủy kinh, phần cuối cùng có ghi Lý Tĩnh Dược Sư phủ tự. Nhưng theo truyện "Lý Tĩnh" trong Cựu đường thư thì Dược Sư nguyên là tên của Lý Tĩnh. Tên "Tĩnh" là mới cải lại sau này. Thế mà trong sách ấy lấy hai chữ Dược Sư làm tên tự của Lý Tĩnh tức là ngụy tạo. Trong bài tựa còn nói : Cù Nhiêm dạy lại cho tôi (tôi tức là Lý Tĩnh) và chuyện "Cù Nhiêm khách" được viết ra vào đời Ngũ Ðại (từ 907 đến 960 gồm : Hậu Lương, Hậu Ðường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu) do Ðỗ Quang Ðình soạn đó là một điều ngụy tạo nữa. Cuối bài tựa này còn viết bài tựa soạn ra năm Trinh Quán thứ 2 vào tháng 3. Khảo cứu trong sách Ðường Thư thì tháng 3 năm Trinh Quán thứ 2, Lý Tĩnh đang làm quan Nội Ðạo Hành Quân Ðại Tổng Quản để chống nhau với bộ lạc Tiết Diên Ðà. Như vậy chính là lúc Lý Tĩnh đang lập công, thế mà bài tựa lại nói lúc này Lý Tĩnh đã "công thành thân thoái", sai với thực tế. Ðó là một điều ngụy tạo nữa.

 

b. Bài tựa của Ngưu Cao cũng giả tạo

Trong bài tựa này có câu : Ngựa đất qua sông không phải là sự thực chép trong chính sử mà là chuyện bịa đặt trong tiểu thuyết. Ðó là một điều ngụy tạo. Cũng trong bài tựa này viết : soạn ra vào năm Thiệu Hưng thứ 12 cất ở vách núi đá tại Tung Sơn. Nhưng năm Thiệu Hưng thứ 11, nhà Tống đã nhường đất Hà Nam cho nước Kim (1441) Ngưu Cao làm sao có thể đem bài tựa cất dấu ở Tung Sơn ? Vã lại nếu sai người đi dấu sách thì hà tất phải dấu ở đất của nước Kim, đó là một điều ngụy tạo nữa (Tung Sơn là tên dãy núi chạy dài trên vùng đất của ba tỉnh Phúc Kiến, Hồ Nam và Giang Tây. Hai ngọn núi lớn nhất của dãy Tung Sơn là Thiếu Thất sơn và Thái Thất sơn nằm trên phần đất Tuyền Châu thuộc hai huyện Ðăng Phong và Tân Mật). Các bài tựa trên đều là ngụy tác, như vậy bài tựa cho rằng Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh truyền từ Ðạt Ma cũng không đủ tin.

 

Hơn nữa Ðạt Ma thiền sư mở đầu môn Thiền tông vốn dùng tĩnh tọa để chứng ngộ, không dùng văn tự để nói đến yếu chỉ môn này. Ngài truyền cho Tuệ Khả thiền sư chỉ nói rằng : Lăng Già bốn quyển có thể làm tâm ấn. Nếu Ðạt Ma có Dịch cân kinh, Tẩy tủy kinh, tại sao không nói một lượt với kinh Lăng Già ? Há rằng Dịch cân kinh còn xảo diệu hơn kinh Lăng Già hay sao ? Ðó là một chứng cớ về sự ngụy tạo vậy ?

 

Những chứng cớ trên đủ thấy sự ngụy tạo sách. Việc làm sách giả vào cuối đời Minh đầu đời Thanh (1436) thì thật nhiều. Sách Kỹ hiệu tân thư của Thích Kế Quang chép :

 

Các nhà quyền thuật xưa nay cho rằng Tống Thái tổ có 32 thế Trường quyền (tức Triệu Khuôn Dẫn, đồ đệ của Ðạt Ma trên đất Trung Hoa vào lúc nhà Ðường sắp suy tàn) lại có Lục bộ quyền, Hầu quyền, Hoá quyền. Ngày nay nhà họ Ôn có 72 thế Hành quyền, 36 thế Hợp tỏa... còn về côn pháp thì hay nhất là phái Thiếu Lâm, võ phái ở Thanh Ðiền, thương pháp thì có nhà họ Dương... đều nổi tiếng.

 

Họ Thích đưa ra những ưu điểm về quyền thuật và khí giới, ca tụng côn pháp của Thiếu Lâm mà không khen ngợi quyền thuật của phái này. Thích Kế Quang sống vào đời Minh Gia Tĩnh, Vạn Lịch. (Năm 1566 Thích Kế Quang cùng với Dũ Ðại Du dẹp tan giặc Nụy Khấu tức bọn cướp biển người Nhật sống ven miền duyên hải Trung Hoa). Như vậy thấy rằng lúc ấy quyền thuật Thiếu Lâm không hơn được quyền thuật các phái khác. Ðời Minh, niên hiệu Vạn Lịch, Trình Xung Ðẩu viết sách Thiếu Lâm côn pháp có đoạn nói :

 

Có người hỏi :

– Côn pháp của phái Thiếu Lâm rất hay mà tại sao ngày nay các nhà sư Thiếu Lâm chỉ chăm về quyền mà không chăm về côn ?

Tôi đáp :

– Côn pháp Thiếu Lâm còn có tên là Dạ Xoa, vốn thánh truyền của Khẩn Na La Vương đến nay gọi là Vô Thượng Bồ Ðề. Còn quyền thuật chưa nổi tiếng trong nước nên nay mới chăm về quyền để luyện môn này cho đến chỗ tuyệt diệu như côn pháp.

 

Thích Kế Quang ở lâu trong quân đội, rất thông thạo nghề võ. Nếu quyền pháp Thiếu Lâm đã nổi tiếng lúc bấy giờ thì tại sao khi luận về cái hay của quyền thuật các phái, họ Thích lại không đề cập đến quyền thuật của Thiếu Lâm ? Trình Xung Ðẩu sống đồng thời với Thích Kế Quang, lại vốn học võ ở chùa Thiếu Lâm, cho nên những điều ông ấy nói đúng với sự thật : lúc bấy giờ quyền thuật Thiếu Lâm chưa thịnh hành. Như vậy đời Vạn Lịch nhà Minh, quyền thuật Thiếu Lâm chưa được người ta coi trọng. Thế thì quyền thuật Thiếu Lâm nổi tiếng phải sau đời Vạn Lịch (1573-1621). Người soạn sách Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh phải sống sau đời Vạn Lịch, nhưng mượn danh của Ðạt Ma để tăng thêm giá trị của sách mình soạn. Sách này được soạn ra lúc quyền thuật Thiếu Lâm được thịnh hành sau đời Vạn Lịch vậy.

Hơn nữa, đời Minh có phong trào làm giả sách cổ : Phong Phường làm giả sách Thi truyện của Tử Cống, Thân Bồi làm giả sách Thi thuyết, Dương Thận làm giả sách Tạp sự bí tân rồi gọi tác giả là Vô danh thị đời Hán... Như vậy việc ngụy tạo Dịch cân kinh, Tẩy tủy kinh cũng do phong trào ấy mà ra.

 

3. NHỮNG SỰ SAI LẦM VỀ YẾU QUYẾT BÍ TRUYỀN CỦA QUYỀN THUẬT THIẾU LÂM

 

Sách Thiếu lâm quyền thuật bí quyết có nói về sư pháp của quyền thuật phái này hình như tập hợp các thuyết của các môn phái khác mà chưa đi đến chỗ chiết trung, vì vậy thuyết lý có nhiều chỗ mâu thuẫn nhau. Lời bạt về sách nầy chúng tôi đã từng viết :

Trong phần "Ngũ yếu thuyết" của sách này có nói : Thuật pháp của phái Thiếu Lâm tuy sáng tạo từ Ðạt Ma, nhưng phát triển, biến hóa cho đến chỗ đại thành là do Viễn Tính thiền sư. (Viễn Tính sinh vào cuối đời nhà Minh có sáng chế ra lối đánh kiếm và 10 quy ước của phái Thiếu Lâm). Trong phần quy ước của phái Thiếu Lâm lại nói : Giác Viễn thượng nhân trùng lập giới ước. Hai chỗ ấy mâu thuẫn nhau. Như thế thì Giác Viễn và Viễn Tính là một người hay sao ? Hay là hai người. Nếu là một người thì tại sao trong phần chú thích của thiên "Quyền pháp lịch sử dữ chân truyền" có ghi : Giác Viễn sống khoảng đời Kim hoặc đời Nguyên. Xét về thiên "môn phái Thiếu Lâm thay đổi vào đời Minh" thì : trong niên hiệu Sùng Trinh, Thái Cửu Nghi là đệ tử của Nhất Quán. Thế mà trong thiên "Sư pháp của Nam Bắc phái" lại ghi : Nhất Quán là đệ tử của Giác Viễn.

Như vậy, không cần biết Giác Viễn là người thế nào, cũng không phải sinh vào khoảng đời nhà Kim (1115-1234) hoặc đời nhà Nguyên (1279-1368). Nếu nói rằng ông sinh vào cuối đời Minh thì mới hợp lý. Có lẽ dưới đời Minh có một nhà sư lập ra 10 điều răn để mở rộng môn phái võ thuật Thiếu Lâm. Tên vị sư ấy là gì ? Không thể khảo cứu được và cũng không ai biết. Vì vậy có người gọi vị ấy là Viễn Tính hoặc gọi là Giác Viễn.

 

4. TRƯƠNG TAM PHONG KHÔNG PHẢI NGƯỜI ÐỜI BẮC TỐNG

 

Nhà học giả đời Thanh là Hoàng Tông Hy nói : Trương Tam Phong là người đời Bắc Tống. Người đời sau cho rằng thuyết này đúng nên rất tin theo, kỳ thật không đúng. Chúng tôi đã từng biện luận về bài "Mộ Chí Vương chinh Nam" của Hoàng Tông Hy như sau :

 

Trương Tam Phong là đạo sĩ ở núi Võ Ðương (núi Võ Ðương nằm giữa hai phần đất Giang Tây và Hà Nam). Vua Huy Tông nhà Tống triệu ông nhưng vì lời lẽ của ông không hợp ý nhà vua nên vua không dùng. Ban đầu Trương Tam Phong (tên thật là Trương Quân Bảo) nằm mơ thấy đức Huyền Ðế dạy cho quyền pháp. Ðến sáng một mình ông giết hơn 100 tên giặc. Võ thuật của Trương tiên sinh lan tràn đến Thiểm Tây và nổi tiếng nhất trong số các môn đồ của ông là Vương Tông.

 

Xem ra thuyết này không đúng. Mục "Phương kỹ truyện" trong Minh sử chép :

Trương Toàn Nhất tên là Quân Bảo hiệu là Tam Phong dung mạo khôi ngô, thân giống rùa, lưng giống hạc, tai to, mắt tròn, râu cứng như kích, dù trời nóng hay lạnh cũng chỉ mặt một bộ áo quần, đội một cái nón, ăn hơn một đấu gạo, mỗi ngày đi hơn trăm dặm. Ông cùng học trò đi chơi núi Võ Ðương lập ra lều cỏ mà ở. Vua Thái Tổ nhà Minh nghe tiếng, nên năm Hồng Võ thứ 14 (1382) có sai sứ đến tìm ông nhưng không gặp.

Thuyết này nếu so với thuyết của họ Hoàng tương đối gần sự thật hơn. Bởi vì năm Hồng Võ thứ 14 từng có việc nhà vua sai sứ giả tìm Trương Tam Phong. Có lẽ vì thế người này truyền miệng người kia nên sai lạc và cho đó là chuyện xảy ra vào đời Huy Tông nhà Tống. Một điều sai lạc nữa là thấy Trương Tam Phong giỏi võ nên người đời bịa đặt thêm là ông nhờ đức Huyền Ðế dạy cho võ nghệ trong giấc chiêm bao...

Nếu Trương Tam Phong là người đời Huy Tông nhà Bắc Tống (960-1126) thì tại sao từ đời Nam Tống (1127-1279) đến đời Nguyên (1279-1368) không có một ai nhắc đến tên ông ? Mãi đến đời Minh các đạo sĩ mới truyền về chuyện của Trương Tam Phong. Do đó lời nói của Hoàng Tông Hy chỉ là một thuyết dựa theo lời truyền khẩu mà thôi, không đủ để tin cậy.

Sở dĩ người ta cho rằng Trương Tam Phong là người đời Bác Tống vì một học giả có uy tín như Hoàng Tông Hy, lời nói của ông tất nhiên phải có giá trị.

 

5. BÁT ÐOẠN CẨM KHÔNG PHẢI DO NHẠC VŨ MỤC SÁNG TẠO

 

Tục truyền thường nói : môn Bát Ðoạn Cẩm được sáng tạo bởi Nhạc Vũ Mục. Thật ra môn này chỉ là chi nhánh của các bậc đạo gia thường tu hành theo phép đạo dẫn trước khi Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi) ra đời. Trong sách Di Kiên Chí của Hồng Mại có chép : năm Chính Hoà thứ 7, Lý Tự Củ làm Khởi Cư Lang thường tập phép hô hấp gọi là "Trường sinh an lạc pháp". Về sau phép này biến hoá thành môn Bát đoạn cẩm. Năm Chính Hoà thứ 7 là đời vua Huy Tông nhà Tống, lúc ấy Nhạc Vũ Mục chưa xuất thế mà môn Bát Ðoạn Cẩm đã thông hành ở đời, như vậy đủ chứng minh rằng môn này không phải do Nhạc Vũ Mục sáng tạo.

 

6. THƯƠNG PHÁP CỦA LỤC PHU ÐÌNH KHÔNG PHẢI LÀ MAI HOA THƯƠNG

 

Lục Phu Ðình rất giỏi võ nghệ, người ở vùng Thái Thương đến nay còn nhắc nhở, tán thưởng. Nhưng nhiều người cho rằng lọ Lục giỏi về Mai Hoa thương. Chúng tôi khảo cứu thấy nhiều người cùng học võ một lượt với Lục Phu Ðình như Trần Hồ (Họ Trần cũng là bậc danh Nho chuyên về Lý học ở Thái Thương). Trần Hồ có viết về cuộc đời của Lục Phu Ðình, chỉ nói Phu Ðình theo Thạch Kính Nam học thương pháp, không nói đến chuyện theo học võ với ai nữa. Xem chuyện Thạch Kính Nam của Phu Ðình thì Kính Nham giỏi về Lê Hoa thương pháp. Như vậy từ Lê Hoa thương biến thành Mai Hoa thương là có chỗ sai lầm. Gần đây, xem sách Trung Quốc thể dục sử, mục  "Các nhà giỏi võ nghệ đời Thanh" của Quách Hy Phần thấy viết:

Phu Ðình giỏi võ nghệ, lối Mai Hoa thương pháp của ông là do một nhà sư ở núi Nga Mi truyền dạy.

 

Nếu chuyện này có thật thì tại sao Trần Hồ không chép vào phần viết về cuộc đời của Lục Phu Ðình ? Có lẽ Quách Hy Phần căn cứ vào truyền thuyết của nhiều người cho nên mới có sự nhầm lẫn ấy.

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn