Sách » Thể loại khác » Tư liệu võ thuật

Lược khảo võ thuật Trung Hoa (Phần 2)

CHƯƠNG HAI

NHỮNG ÐIỂM KHÁC NHAU CỦA VÕ THUẬT

 

Võ thuật Trung quốc ít khi được ghi chép đúng sự thật mà chỉ căn cứ vào những truyền thuyết. Vì vậy một chuyện lại có nhiều thuyết khác nhau, một tên mà có nhiều lối giải thích. Vì thời gian qua đã lâu, khó biết được chỗ nào đúng, chỗ nào sai. Nhân đó chúng tôi mới viết chương khảo dị này để ghi lại những thuyết khác nhau ấy.

 

1. NHỮNG THUYẾT KHÁC NHAU VỀ MÔN ÐÀN THOÁI

 

Ðàn thoái còn gọi là Ðàm thoái. Nguồn gốc của phái này đến đây chưa thể khảo cứu được. Những người gọi môn này là Ðàm thoái thì cho rằng nó được một nhà sư ở chùa Long Ðàm tại sơn lâm truyền lại. Một thuyết khác lập luận sở dĩ gọi là Ðàm thoái vì người sáng tạo ra môn võ này vốn họ Ðàm ờ tại Hà Nam. Còn gọi là Ðàn thoái thì cho rằng lúc đá chân phát lực ra thế mạnh như đạn bắn.

 

2. KHẢO DỊ VỀ MÔN TRA QUYỀN

 

Tra quyền còn gọi là Xoa quyền. Hai âm "tra" và "xoa" gần như nhau. Có lẽ môn Tra quyền thường dùng xoa chưởng, xoa bộ, rồi từ chỗ thường dùng mà môn võ này mang tên là Xoa quyền chăng ? Còn gọi là Tra quyền có lẽ môn này được một người họ Tra sáng tạo ra ?

 

3. KHẢO LUẬN VỀ NHỮNG THUYẾT KHÁC NHAU CỦA MÔN TRƯỜNG QUYỀN

 

Gần đây, người ta gọi Trường quyền tức là những môn quyền thuật ở phương Bắc Trung Quốc chuyên bôn trì, tiến thoái mau chóng. Sách Kỷ Hiệu Tân Thư của Thích Kế Quang gọi Thái tổ Trường quyền, thất thập nhị hành quyền của nhà họ Ôn đều thuộc loại này. Ðó là sự khác nhau giữa Trường quyền và Ðoản đả. Nhưng chúng tôi từng thấy bản sao sách Thái cực quyền luận có chép : "Sở dĩ gọi là trường quyền bởi quyền pháp như Trường giang, Ðại hà, thao thao bất tuyệt". Trong chương thứ năm sách Thái cực quyền thế độ giải của Hứa Vũ Sinh có  chép :

 

Ðời Ðường, Hứa Tuyên Bình còn truyền lại môn Thái cực quyền thuật còn gọi là tam thế thất, bởi vì chỉ có 37 thế mà nổi tiếng. Phương pháp dạy từng thế một để cho người học tập thuần thục rồi mới chỉ thêm một thế khác, không xác định quyền lộ, sau khi thành công, các thế tự hỗ tương liên quán, tương kế bất đoạn (nối nhau không đứt). Vì vậy còn gọi là Trường quyền.

 

Cũng sách ấy chép :

 

Họ Du có truyền môn Thái cực quyền, gọi là Tiên thiên quyền, còn gọi là Trường quyền.

 

 

Ðó là một lối giải thích về hai chữ Trường quyền. Trường quyền còn là danh từ chuyên môn để chỉ về một loại quyền thuật như sách Kỷ Hiệu Tân Thư có chép : Tống Thái tổ dạy môn Trường quyền. Thế thì Trường quyền gồm có ba nghĩa khác nhau.

 

4. KHẢO LUẬN VỀ NHỮNG Ý NGHĨA KHÁC NHAU CỦA NAM PHÁI

 

Ngày nay cho rằng quyền thuật lưu hành ở vùng Trường giang tư thế gọn và kín đáo nên gọi là Nam quyền, còn gọi là Nam phái. Quyền thuật lưu hành vùng Sơn Ðông, Hà Bắc, tư thế rộng và không kín gọi là Bắc quyền hay còn gọi là Bắc phái. Như vậy gọi Nam phái và Bắc phái là người ta dựa theo từng khu vực có những loại quyền thuật lưu hành mà nói. Ðiều ấy cũng có lý.

 

Nhưng căn cứ vào nguyên nhân gọi quyền thuật là Nam phái hay Bắc phái thì Nam phái chỉ những môn Thái cực, Bát quái... chuộng về nhu. Các phái này tuy có những thế đánh địch thủ, nhưng chịu ảnh hưởng của thuật đạo dẫn ngày xưa.

 

Danh từ Bắc phái dùng để chỉ những môn như Trường quyền, Ðoản đả, chuộng về cương mãnh tuy cũng dùng để đả thông kinh mạch trong thân thể, nhưng mục đích là dùng để chế ngự địch thủ. Nếu theo phái biệt của quyền thuật mà xét thì võ ngày nay ở vùng Trường giang tức là môn Ðoản đả trong Bắc phái vậy.

 

5. NHỮNG GIẢI THÍCH KHÁC NHAU VỀ NỘI GIA VÀ NGOẠI GIA

 

Danh từ Nội giaNgoại gia trong quyền thuật bắt đầu có từ Hoàng Tông Hy viết bài : "Vương Chinh Nam mộ chí minh" trong văn tập Nam Lôi. Trước họ Hoàng, các sách võ của Thích Kế Quang, Trình Xung Ðẩu đều không có danh từ này. Theo lời họ Hoàng : Quyền thuật phái Thiếu Lâm nổi tiếng trong thiên hạ, nhưng chủ yếu là đánh kẻ địch, kẻ địch cũng nhân đó mà tìm cách đánh lại.

 

Còn gọi Nội gia tức là lấy tĩnh chế động, kẻ phạm vào ta lập tức ngã ngay. Vì vậy võ của phái Thiếu Lâm cũng thuộc vào hàng Ngoại gia.

 

Như vậy Nội gia chủ về tĩnh, còn Ngoại gia chủ về động. Cho nên Nội gia và Ngoại gia còn dùng để chỉ nội công và ngoại công.

 

Sách Thiếu Lâm quyền thuật bí quyết có nói :

 

Từ đời Minh (1368-1436) về sau bàn luận về võ nghệ mới chia làm hai phái Nội gia và Ngoại gia. Tại sao gọi là Nội gia ? Tức là tiếng phổ thông để chỉ những kẻ sống trong cõi trần này như trong nhà. Ngoại gia là chỉ những người sa môn, tu theo đạo giáo để phân biệt với người trần tục. Giống như nhà Phật gọi người tại gia và xuất gia vậy.

 

Ðó cũng là một thuyết về Nội gia và Ngoại gia. Nhưng thuyết của Hoàng Tông Hy tương đối xưa hơn, có thể đúng với nghĩa lúc ban đầu.

 

 

6. KHẢO CỨU SỰ KHÁC NHAU CỦA MÔN BÁT ÐOẠN CẨM

 

Khi bàn về môn Bát đoạn cẩm, Triều Công Vũ có viết trong Quận Trai độc thư chí như sau :

 

Một quyển sách bát đoạn cẩm không đề tên người soạn, chép về các thuật thổ cố nạp tân (thở hơi cũ, hít hơi mới).

 

Ngày nay có hai loại Bát đoạn cẩm : một loại có 8 thức thường tập theo thế kỵ mã. Một loại nữa chia thành 3 phần, tất cả 24 thức, khi tập luyện thường đứng thẳng. Loại thứ nhất chỉ tập luyện về gân sức. Loại thứ hai là hít khí vào và tưởng tượng khí thông suốt đến đầu ngón tay. Loại một tương truyền do Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi) sáng chế. Loại hai là do Thanh Lai chân nhân truyền.

 

Lại có lối ngồi mà tập luyện gọi là Văn bát đoạn, còn có tên là Thập nhị đoạn cẩm ở torng có ghi những động tác như "Tả hữu minh thiên cổ", "Tưởng hỏa thiêu tế luân", "Bối hậu ma tinh môn"... Càng gần với phép đạo dẫn, cùng với những điều ghi chép trong sách Di tiên chí của Lý Tự Củ có nhiều điểm đại đồng. Lối này rất gần với cổ pháp. Riêng loại Bát đoạn cẩm của họ Triều không thuộc về loại này.

 

7. KHẢO CỨU VỀ SỰ TÍCH CỦA HỒNG KỶ VÀ TRƯƠNG TÙNG KHÊ

 

Trong sách Thiếu Lâm côn pháp xiển tông của Trình Xung Ðẩu có chép : Ông theo các nhà sư Thiếu Lâm tập côn pháp. Trong văn tập của Lục Phu Ðình (quyển 6), chuyện "Thạch Kính Nham" có viết :

 

Khi Thẩm Thụy Trinh đóng quán ở Thái thương chiêu mộ những thầy giỏi võ vùng Ðông nam để luyện tập cho quân sĩ. Kính Nham nhận lời mời đến dạy. Ðồng thời cũng có nhiều người đến dạy như Tào Lan Ðình, Triệu Anh cùng với các nhà sư Thiếu Lâm như Hồng Kỷ, Hồng Tín.

 

Như vậy nhà sư Hồng Kỷ ở đây và nhà sư Hồng Kỷ dạy côn pháp cho Trình Xung Ðẩu có phải là một hay không ?

 

Sách Ninh ba phủ chí chép : Trương Tùng Khê người đất Cẩn theo học với Tôn Thập tam lão nhưng Hoàng Tông Hy không nói đến điều đó. Họ Hoàng lại cho rằng Tùng Khê vốn người ở Hải Diêm, như vậy, khác với điều chép trong Ninh ba phủ chí. Các điều chép trong sách Thiếu Lâm quyền thuật bí quyết (xem chương Tồn Nghi) lại khác nữa. Không rõ thuyết nào đúng. Nhưng sách Thiếu Lâm quyền thuật bí quyết ra đời sau này còn Ninh ba phủ chí tương đối gần sự thực hơn bởi vì do người đồng hương của Tùng Khê viết theo học với Tôn Thập tam lão, điều này sách Ninh ba phủ chí bổ khuyết cho sự thiếu sót của họ Hoàng. Còn việc Tùng Khê có phải là người ở Hải Diêm hay không là do Hoàng Tông Hy. Vì họ Hoàng là học trò của Vương Chính Nam, Chính Nam là đệ tử đời thứ ba của Trương Tùng Khê.