Sách » Văn Học Trong Nước » Văn học cổ » Truyện Kiều

1 - 38


câu 1 đến 16


        1. Trăm năm trong cõi người ta,
        Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
        Trải qua một cuộc bể dâu,
        Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
        5. Lạ gì bỉ sắc tư phong,
        Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
        Cảo thơm lần giở trước đèn,
        Phong tình có lục còn truyền sử xanh.
        Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh,
        10. Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
        Có nhà viên ngoại họ Vương,
        Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung.
        Một trai con thứ rốt lòng,
        Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.
        15. Đầu lòng hai ả tố nga,
        Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.



câu 17 đến 32


        Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
        Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
        Vân xem trang trọng khác vời,
        20. Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
        Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
        Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.



        Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
        So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
        25. Làn thu thủy, nét xuân sơn,
        Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
        Một, hai nghiêng nước nghiêng thành,
        Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
        Thông minh vốn sẵn tư trời,
        30. Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
        Cung thương làu bậc ngũ âm,
        Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.



câu 33 đến 48


        Khúc nhà tay lựa nên chương,
        Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân.
        35. Phong lưu rất mực hồng quần,
        Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê.
        Êm đềm trướng rủ màn che,
        Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

 

Khảo Dị

    2. Chữ tài chữ sắc khéo là ghét nhau [DMT]
    4. Những điều trông thấy đã đau đớn lòng [VVKBHS][KOM][QV][DMT]
    5. Lạ chi bỉ sắc tư phong [QV][DMT]
    6. Trời xanh quen với má hồng đánh ghen [VVKBHS][KOM][QV][DMT][QVD]
    8. Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh [BKTTK]
    8. Phong tình cố lục còn truyền sử xanh [VVKBHS]
    12. Gia tư nghỉ cũng thường thường bực trung [KOM][BKTTK]
    20. Tư phong đầy đặn, nét ngài nở nang [DMT]
    20. Khuôn lưng đầy đặn, nét ngài nở nang [QVD]
    21. Hoa cười ngọc nói đoan trang [KOM][QV][QVD]
    22. Mây khoe nước tóc, tuyết nhường màu da [DMT]
    23. Kiều xem sắc sảo, mặn mà [DMT]
    25. Làn thu thủy vết xuân sơn [KOM][QV][DMT]
    25. Làn thu thủy thấp xuân sơn [QVD]
    27. Một đôi nghiêng nước nghiêng thành [QV][QVD]
    28. Sắc đành họa một, tài đành họa hai [QV]
    29. Thông minh vốn sẵn tính trời [VVKBHS][QV][QVD][BKTTK]
    33. Khúc nhà tay lựa nên xoang [VVKBHS][KOM][DMT]
    34. Một cung bạc mệnh lại càng não nhân [VVKBHS][KOM][QV][DMT]
    36. Xuân xanh sấp xỉ lên tuần cập kê [DMT]
    37. Êm niềm trướng rủ màn che [VVKBHS][KOM]
    37. Êm nệm trướng rủ màn che [QV][DMT]

 

Chú thích

     

  • trăm năm: từ Trang Tử nhân sinh thượng thọ bách niên. Người ta sống 100 năm gọi là thượng thọ; ý cả câu "đại phàm trong cõi người ta" hay là "xưa nay trong cõi người ta". Ca dao ta cũng có câu: 
          Trăm năm lòng gắn dạ ghi,
        Nào ai thay nút đổi khuy cũng đừng...

     


  • bể dâu: tích trong Thần Tiên Truyện. Ma Cô bảo Vương Phương Bình: "Ta đã ba lần thấy bể khơi biến thành ruộng dâu". Ý nói những thăng trầm trong cuộc sống con người.

     


     

  • bỉ sắc tư phong: kém đường này thì lại hơn đường nọ -- có tài thì kém mệnh, có nhan sắc thì bị tạo hóa ghét ghen.

     


     

  • Cảo thơm: tức pho sách thơm. Điển tích từ Liêu Trai Chí Dị ! Vương Ngư Duơng muốn mua cảo này với giá một trăm ngàn.

     


     

  • Phong tình có lục: có cái bản truyện phong tình. Các bản Nôm đều chép "có". Phần lớn các bản quốc ngữ thì chép "cổ".

     


     

  • sử xanh: từ chữ thanh sử vì thời xưa người ta thường chép sử vào mảnh tre xanh. Thư của Lương Giang Yêm gửi vua Kiến Bình câu khải đan sách, tịnh đồ thanh sử -- đều mở sách đỏ, đều chép sử xanh.

     


     

  • Gia Tĩnh: Vua thứ 11 nhà Minh là Thế Tông đặt niên hiệu là Gia Tĩnh.

     


     

  • hai kinh: Nhà Minh có hai kinh đô: Nam Kinh (Kim Lăng) và Bắc Kinh (Thuận Thiên).

     


     

  • viên ngoại: trưởng giả.

     


     

  • nghĩ: cho là, ước chừng. Bản Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim chép là "nghỉ" và chú thích là tiếng địa phương, có nghĩa: va, ông ấy. Bản Chiêm Vân Thị - Lê Mạnh Liêu chép là "xem".

     


     

  • tố nga: người con gái đẹp. Tích La Công Viễn dẫn Đường Minh Hoàng lên cửa khuyết thành Chí Đại. Nơi đó có bảng đề Phủ Quảng Hàn Thanh Hư, bên dưới có vài chục cô tố nga múa hát.

     


     

  • mai cốt cách, tuyết tinh thần: Lấy từ lời chú trong Quảng Sự Loại: mai dĩ vận thắng, dĩ cách cao -- cây mai thắng về vận, cao về cách. Đường thi: Hữu mai vô tuyết bất tinh thần -- có hoa mai mà gặp trời không có tuyết thì cũng chẳng có tinh thần. Cả câu muốn nói "nhị Kiều" cốt cách thì thanh lịch như cây mai, còn tâm hồn thì trắng trong như tuyết.

     


     

  • khuôn trăng: thơ Đỗ Mục

     

          Ngọc chất tùy nguyệt mãn
          diện thái trục vân thư

    -- Chất ngọc đầy đặn như mặt trăng tròn, vẻ tươi như áng mây lơ lửng. Thanh Tâm Tài Nhân cũng tả: Thúy Kiều dong như thu nguyệt.

     


     

  • nét ngài: lông mày như con tằm nằm ngang.

     


     

  • hoa cười ngọc thốt: từ Đông Châu Liệt Quốc: Tề Văn Khương mạo mỹ, tỷ hoa hoa giải ngữ, tỷ ngọc ngọc sinh hương -- nàng Văn Khương nước Tề hình dung đẹp đẽ, nếu đem so với hoa thì như là hoa biết nói, nếu đem so với ngọc thì như là ngọc toát hương thơm. Vua Đường Minh Hoàng khi thưởng ngoạn hoa sen trắng cũng có nói với tả hữu: khởi cập ngã giải ngữ hoa -- Hoa sen kia há sánh kịp với bông hoa biết nói của ta đây (ý chỉ Dương Quý Phi).

     


     

  • mây thua nước tóc: điển cố từ Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị, vân mấn, tuyết phu -- Dương Quý Phi tóc như mây, da như tuyết.

     


     

  • thu thủy, xuân sơn: trong truyện Tây Sương -- "Tha vọng xuyên liễu doanh doanh thu thủy, túc tổn liễu đạm đạm xuân sơn -- người ấy trông mong mòn mỏi cả nước mùa thu đầy đầy, buồn bã héo cả núi mùa xuân nhàn nhạt.

     


     

  • nghiêng nước nghiêng thành: điển tích lấy từ bài ca của Lý Diên Niên đời Hán:

     

          Bắc phương hữu giai nhân
          Tuyệt thế nhi độc lập
          Nhất cố khuynh nhân thành,
          Tái cố khuynh nhân quốc...

    (Phương bắc có người con gái đẹp, đẹp nhất đời mà còn ở một mình, quay đầu lại một lần thì nghiêng thành, quay lại lần nữa thì nghiêng nước...)

     


     

  • ngũ âm: năm nốt trong nhạc bộ Trung Hoa -- cung, thương, giác, chủy, vũ; tương đương với các nốt hồ, xự, xang, xế, cống trong cổ nhạc Việt Nam.

     


     

  • Hồ cầm: còn có tên là đàn tỳ bà -- cây đàn gắn liền với tích Vương Chiêu Quân cống Hồ thời nhà Hán.

     


     

  • cập kê: là cái trâm cài đầu (viết khác chữ -- con gà); cập là đạt đến. Người ta quen dùng chữ cập kê để chỉ con gái đã lớn, đến tuổi biết cài trâm, lấy chồng.

     


     

  • trướng rủ màn che: tích vua Hán Vũ Đế cưng nàng Lệ Quyên; làm trướng Lưu Ly cho nàng ở, sợ bụi làm nhơ nàng, lại sợ gió cuốn nàng bay mất.

     


     

  • tường đông: từ bài phú Hiếu Sắc của Tống Ngọc -- Đông gia chi tử đăng tường khuy thần dĩ tam niên hỷ -- cô gái nhà bên Đông trèo lên tường dòm tôi đã ba năm nay rồi !