Sách » Lịch Sử » Lịch sử Việt Nam » Sài Gòn tạp-pín-lù

Phần 6: Chương 37 - 43

37

Lấy Franchini. Đem Tư Nhị về làm em nuôi.

Một lời nói “sát thủ giản”(1)

Lúc công tử B. đưa tôi lại hãng lựa mua xe thì một anh chàng hảo ngọt Tây đã “mi lai nhãn khứ” với tôi và chíp để bụng rồi mà tôi nào dè! Kể ra anh Tây nầy là tay háo sắc số một. Y ta có một người anh làm giáo sư dạy khoa học tại trường Chasseloup và kẻ viết bài nầy đã từng thọ giáo, ông tên Franchini, và báo Tiếng Dội vì sợ kiện tụng, đã đổi gọi Mr. Franch, khiến nhiều người lạc lối. Franchini em, tiên khởi đứng bán xe hơi cho hãng Bainier, hãng nầy ở gần nhà thị sảnh đô thành, nay văn còn duy thay tên khác ở góc đường kinh lấp Charner xưa. Khi phân tay thôi làm bạn với tôi, va lấy vợ một nhà viết báo chữ lang sa, tên Khai, anh ta xuống làm rể cho một ông đốc phủ triệu phú ở châu thành Mỹ Đạo chịu cực chịu khó còn hơn “ở rể cố công Việt” rất nhiều, tỷ dụ như Tây chính cống mà hạ mình bưng ống nhổ ra cho mẹ vợ, tuy vợ đốc phủ, mà là một bà già trầu, nhổ nước miếng đỏ lòm cổ trầu, nước cốt trầu ghê tởm, nhưng khi mua được lòng tin của gia đình bên vợ, va sống nhờ số vốn bên vợ tạo lập và khai thác một khách sạn quan trọng nhứt xưa nay tại Sài Gòn, vốn là của ông hoàng mất ngôi vua le comte de Paris xây dựng để có chỗ làm ăn cho một bà thiếp Pháp và làm cho ngài một chỗ nghỉ chân mỗi khi ông qua đây săn voi bắn cọp, ấy là lục địa khách sạn Continental, nay còn sưng sưng gần nhà hát lớn đường Đồng Khởi. Trước năm Giải phóng, làm ăn phát đạt, kiếm được đủ số một triệu bạc (1.000.000$00), Franchini có thiết một tiệc trọng thể ăn mừng “le premier million” (triệu bạc lời lần đầu).

Anh B. bị kẹt nằm khám lớn vì tội không tiền trả nợ bị chủ nợ bắt “giam thâu” chờ có tiền trả sẽ trả tự do cho chàng. Tôi bơ vơ bối rối phải về với anh Franchini nầy, bỗng một hôm buồn quá tôi thả cu ky lại rạp chớp bóng Cầu Muối, gọi rạp ông Bầu Nịnh (Lương Khắc Ninh) giải muộn. Phim đang diễn, bỗng tôi nghe từ đàng sau lưng tiếng thanh tao mời mọc:

- Mời cô Ba hút với em một điếu thuốc!

 Vì phép lịch sự xã giao, tôi đáp nho nhỏ:

 - Cám ơn cô, tôi không biết hút thuốc!

Bỗng cô kia nói tiếp và rất rõ:

- Thôi mà, cô Ba! Hút cho em một điếu để làm quen mà? Tại cô chưa biết tôi, chớ tôi biết cô đã từ lâu. Má tôi thường nhắc đến tên cô hoài hoài và thường dạy tôi: “Thà làm đĩ, ra chơi bời như cô mới đáng gọi là gái ngoan!”

Trời đất ôi, thiệt là một câu sét đánh bưng tai không kịp? Dè làm vầy, ở nhà mà hay hơn, đi coi hát làm chi, để nghe chửi một tiếng nóng phừng da mặt không kịp đỡ! Cả mấy người ngồi gần đều day lại dòm, mặt càng thêm nóng. Tôi bực quá, mặc dầu phim còn một đoạn nữa mới dứt, tôi đứng dậy ra về, ra tới xe chưa kịp leo lên, thì cô gái mời hút thuốc cũng vừa ra theo, nhảy phóc lên xe không đợi mời và nói tỉnh bơ:
- Nhà cô Ba ở đâu, cho tôi về theo với!

 Tôi lấy giận làm vui, nhìn kỹ, thì đây là một cô gái mơn mơn đào tơ hết sức trẻ, tròn trịa như con chim chàng nghịch óc cau đầu mùa lúa trổ, ngực tròn như cặp tuyết sơn muốn xé hàng sọc dưa rằn ri tung ra, trán thấp có mở tóc quăn xoắn che lúp xúp ngỗ nghịch nhiều hơn phục tùng, cặp mắt mơ màng tình tứ, nhứt là cặp môi dày đỏ mọng, nửa mời mọc nửa khiêu khích, đúng là một con đĩ mén mất dạy, ăn nói như hồi nãy, nhưng mặn mòi duyên dáng một cách rừng rú, khiến không giận được với con “ba trợn” nầy. Sau rõ lại nàng ta từ Nam vang xuống, cha Cơme, mẹ người Sa Đéc, có chút pra hóc (mắm bò hóc) pha với chút sắc bén của gái Nha Mân xưa từng được Cao miên tuyển vào cung vua đàn Thổ, thảo nào!

Ba đời thằng Tây, thằng nào cũng dê đủ mười. Tôi đem cô nầy về anh Franchini không nói không rằng, vui vẻ chấp nhận, nhơn đi xem tuồng chớp bó ng sau đó, thấy trên màn bạc một nữ diễn viên Pháp duyên dáng và có hình dáng giống giống cô gái mời thuốc nầy nên anh Franchini đặt tên cho cô là Marianne là tên cô đào trên màn ảnh, để đối với tên tôi là Yvette, và sẵn tôi thứ ba, Ba Trà, bèn đặt tên cô là thứ tư, Tư Nhị, chớ Nhị vốn thứ hai, con cả đầu lòng xứ Nam vang ăn bò hóc!

Nhưng Tư Nhị ở với chúng tôi, anh Franchini tỏ ra khó chịu, một là Nhị rù quến trai tơ trong xóm, đêm nào như đêm nấy đến rù rì rủ rỉ điếc tai không một ai chịu được đúng là một bầy rương cái đứa núp trong mương khô nước, đứa nằm trong bọng cống ven đường chờ cho Tư Nhị ăn cơm xong ra mà trai gái, hai nữa Franchini nói với tôi con nhỏ gì quê một cây, đi giày cao gót chưa quen, làm văng giày ra xa, Franchini vì tánh nịnh đầm ban đầu còn lượm giày và lấy làm vui, sau đổ quạu, biểu tôi trả Nhị về chị nuôi của nó ở gần chợ Thái Bình, nhứt định không chứa thứ đồ gái bật rật bướng rướng không ai chịu nổi. Nhưng chẳng bao lâu, tôi lựa cho Nhị một chồng là công tử Gò Đen, và với số bạc một ngàn của công tử nầy chi ra, Tư Nhị nghiễm nhiên có một căn phố trệt xinh xắn có bàn ghế giường nệm ra phết ở gần góc đường Richaud và Verdun yên tịnh.
Từ đây vòm trời Sài Gòn mọc một ngôi sao mới, tuy không sáng chói bằng sao Ba Trà, nhưng đối với khách ham lạ ham trẻ thì Tư Nhị Maianne vẫn mới vẫn giòn vẫn mát da mát thịt hơn, dầu gì cũng mới, Nhị hơn Trà ở chỗ “Nhị đào vẹn vẻ đường tơ, Trà mi kia đã sởn sơ gần chiều”.

Riêng tôi, tôi không thấy hoa khôi nào chóng sáng chóng lu như Tư Nhị. Có lẽ định luật thế thưởng còn đó, hễ “bạo phát tức bạo tàn”, và “hữu thế bất khả ỷ tận”. Chính Nhị trẻ làm cho cuộc đời mình thâu ngắn: không được có vi cánh như Ba Pho, Ba Trà, từ Nam Vang xuống Sài Gòn, ban đầu cất mình vào chốn hí trường, nhưng hữu sắc vô thinh, Nhị đành nhảy ra, làm cô “đào thịt”. Làm em nuôi cho Ba Pho rồi trở mặt nhảy qua làm em của Trà, bày ra lấy rượu mạnh thuốc thơm để nhử khách.

 Nhị phí sức khoẻ và nhan sắc còn hơn con thiêu thân, gặp đèn gặp ánh sáng là nhảy a vào, mặc cho lửa đốt cháy lông cháy cánh!

 Nhị phách lối và tự đặt cho mình lên quá cao, khi còn nhan sắc còn tuổi trẻ, không biết lo hậu về sau, đêm đêm thuốc lá thơm liền miệng, whisky liền môi, để lát nữa ro ro kéo ống, điếu nầy qua điếu khác, hoa phù dung tuy đẹp, tuy một ngày ba lần thay sắc nhưng không tránh khỏi cảnh sớm nở tối tàn, Tư Nhị lúc phùng thời, phải thấy chị ta trên xe Hotchkisss hoặc Alpha-Roméo xả hết tốc lực, chạy lên Xuân Trường, Thủ Đức, miệng ngậm ống đót thật dài để giống các gái ăn chơi Pháp trong sách, tay cặp mỗi tháng mỗi một công tử mới, thằng nầy bị vanh cánh đến lượt thằng khác bị làm lông, Nhị dòm thế gian không người, và thứ cạo giấy như kẻ nầy, lương tháng tám chục không đủ tiền son phấn đứng trông mong Nhị ban cho ruột cái liếc!

 Ấy thế mà kết cuộc, Pho chết được chôn ấm đám, Trà còn kéo dài cuộc đời mãi về sau khá dài, duy Tư Nhị thiệt là thảm não.

Gần đây, tháng bảy dương lịch 1982, tôi gặp bạn cũ, anh Ba Quan, một tay lịch duyệt trong giới ca cầm “Giang đô khảo võ”, anh Ba thuật lại sau năm 1945-1946, tiền hết, giấy bạc 500 của chánh phủ Pháp “hết xài”, anh trong mình còn độ một trăm bạc, vừa đói vừa khát anh lết trở về Sài Gòn, một buổi sáng nọ anh làm gan ra đường thì đường vắng hoe không một người đi, anh thả lần tới Chợ Cũ đường Georges Guynemer (đường Võ Di Nguy) anh điểm tâm xong ra cửa vừa đưa tờ giấy xăng (100đ.) chưa kịp thâu tiền lẻ, bỗng nghe có tiếng người gọi: “Anh Ba!”, giựt mình day lại không thấy một ai trừ năm ba người đàn bà hành khất dơ dáy, Quan nói trong bụng “ai kêu mình vậy kìa?” bỗng nghe một tiếng gọi lần nầy thống thiết bi ai hơn lần trước: “Anh Ba! Em là Tư Nhị đây?”. Quan nhìn không ra, vì đứng trước mặt là một người ăn mày không còn hình thể con người, hai chơn sưng vù và băng bó mấy lớp vải máu mủ và ruồi bu đầy, mặt đổi sắc, môi thâm đen, Quan không dám ngó lâu, lật đật rút hai tờ giấy hoảnh (giấy bạc hai chục đồng) đặt nhẹ vào lỏng bàn tay... và đi thẳng một nước: ấy ngày tàn của cựu huê khôi Tư Nhị! Than ôi! Độc địa làm chi và hành phạt làm chi con người vô tội. Có tội chăng là xã hội kìa chớ! Xã hội xa hoa coi tiền như đất cục, để đến hôm nay đào đất kiếm không ra!

Tỉ tê Tư Nhị mà xuýt quên Ba Trà?

Lấy Franchini, về vật chất không thiếu món nào, nhưng ông Tây nầy cưng vợ theo Tây mà nước ghen lại là nước ghen Á Đông thuần nhứt! Tử đường Frères Louis nay cô Ba dọn trở về Richaud, tái chiếm Nguyệt tiên cung, nhưng đó là một cung Hằng lạnh ngắt sang trọng không kém xưa, nhưng kỷ niệm cũ nào còn, và nào đâu gác dan dưới lầu, a múi khi chén trà sâm, khi nước tắm ấm? Cô Ba chỉ còn một cách tiêu khiển là ngày ngày hay chiều chiều lượn mấy vòng hết chợ cũ qua chợ mới, hết lăng tô (láng thọ) tới Catinat, xe mới, nệm êm, hai tài xế đồng phục, bâu áo một màu với com lê cô mặc, kiểu Cát Tường (Le Mur) hay kiểu của cô sáng chế, quần lai thêu ren, áo màu nào quần màu nấy, và khăn choàng cổ dài phất phơ như cánh bưởm. Chỉ ngồi luôn luôn một mình trọn băng sau, Franchini ít khi nào ra mặt đồng hành, mặc cho đoá lan độc chiếc khoe sắc “đệ nhứt hoa khôi” hay nói theo điệu chơi đồ cổ: “nhứt phiến bình hay mai bình (mei ping) trong có cắm một cành hoa lan bản xứ “hương sắc song toàn” số dzách! Lúc nầy cơm thuốc đầy đủ, thêm được một anh chồng từng nuôi ngựa đua, săn sóc cô còn hơn nhà hiếu cổ tưng tiu lọ Khánh Xuân, Nội Phủ, cô Ba trở lại phong độ mấy năm trước thanh xuân hơ hở, tăng thêm phần sang trọng nhờ biết xài son phấn đúng thời trang. Đây là buổi cực thịnh của nhan sắc trời dành, cô mặc sức láng xê kiểu áo cắt may, và lúc ấy chưa có tá chưa có tướng, duy vợ các ông cò mi và các thầy thông ký chạy theo cũng mệt và báo hại mấy ông chồng đào tiền không ra cho mấy cô ăn xài.

Có câu “lạc cực sanh ai”, sống sung túc quá, con chim kia lại nhớ rừng, và với lông cánh mới, lòng muốn tung bay một chuyến.

Một hôm Franchini đi khỏi, cô Ba sẽ lén vào sòng, và vận đang đỏ, cô trúng một hơi vét sòng, cô đi ngay lại hãng xe, sẵn tiền sẵn bụng muốn, cô kéo về một chiếc ô tô hiệu Alfa-Roméo của Ý, giá 11.000$, mắc gấp đôi xe Hotchkiss giá 4.000, mắc gấp ba xe Citroen bảy chỗ ngồi, hoặc FIAT mui kiếng limousinet bốn chỗ ngồi giá 2.700$.

Không kể lúc Tây mới qua, vài chục năm sau mới trổ mặt có xe hơi ở Sài gòn nhưng có để khoe của và chưng chơi, chớ cầu kỳ chưa có bắc phà cũng chưa, lộ còn trái đá đỏ, có đường đâu mà chạy! Vỏn vẹn Nam kỳ có một trăm chiếc công xa, xe quan thống đốc sáu máy hiệu Delage, số đăng bộ là C.20. Một người cầu kỳ nhứt, sắm xe may mùng trồng lên xe cất trong ga ra năm nầy qua năm kia không bao giờ cho xe chạy đó là bà hàm đốc phủ Hà Minh Phải, người đàn bà biết giá trị độ xưa trong Nam bạc nhứt và chiếc xe ấy là xe của phế đế Thành Thái, bà gìn giữ xe nầy như một món “ngự dụng” không hơn không kém. Nhà có xe ô tô với số đăng bộ C.9999 là cựu ký giả, cựu thủ tưởng Nguyễn Phan Long, và cô Ba Trà đây với chiếc xe hiệu Ý đắt tiền Alfa-Roméo như đã kể.

Thuở ấy biết chơi xe như biết lựa vợ nhà:

-Vợ một kèo một cột, chuyên làm tiền vô và không khi nào lãng phí là bà hiền nội trợ con chú Hương con cậu xã trong làng, không khác chiếc Citroen, bảy chỗ ngồi, rẻ tiền, ít hao xăng, xe nào chạy tới đâu xe Citroen cũng tới đó, duy chậm hơn vải giờ, máy tốt, hư dễ sửa, như người vợ hiền, rủi đau cho uống café đậm cũng đủ mạnh, đủ thoát qua cữ rét.

- Vợ có nhan sắc như hiệu xe Hotchkiss, có cặp đèn pha chồm ra tới trước như hai hòn tuyết sơn của cô Sáu. Còn lúc đó ở Sốc Trăng, đầu xe như chiếc quan tài giấu mấy chục mã lực bên trong, chạy mau, nệm êm, duy hao xăng và thỉnh thoảng máy trục trặc, ít có thợ rành sửa chữa... Vợ đẹp thêm nhiều lo, thất công gìn giữ.

- Ham vợ quí phái, như ham ô tô Ý, ô tô Ăng lê, ô tô Đức, nào Alfa Roméo, Bugatti, nào Rolls Royee, nào Mercédès, uống xăng thì như trâu uống nước, lúc xăng chín xu (0$09) hay một cắc bạc (0$10) mỗi lít thì ngồi xe này sướng thật, qua mặt các hiệu khác vù vù, nhưng từ ngày khan hút và xăng lên giá, thì chỉ cất xe trong ga ra chờ ngày lấy ra làm thùng để “trồng hành” vì còn tiền đâu mà cho nó chạy! Thuở ấy xe hiệu Mỹ (Hoa Kỳ) chưa qua, và các hiệu thường thấy gồm có: Panhard Levassor Delahaye, De Dion Bouton, Lorraine Diétrich, v.v.., thảy đều bền và ít làm khó chủ xe, không khác gái Nha Mân, Bà Điểm, giúp chồng như câu tục thường ví:

 “Thiếp như cơm nguội giúp chàng đỡ lòng khi bụng đói”?

 Cô Ba kéo xe về, Franchini vẽ viên thêm, dạy khôn, bảo cô Ba đem xe ra ngay đường Catinat, trước mắt nhà hát Tây, treo băng và một chai champagne, cô tự cắt dây băng cho champagne đụng vào đầu xe, gọi lễ khai quang điểm nhãn! (tôi còn mắt thấy xe đò Châu Đốc có lư hương thờ cô Hiên, xe buýt Sài Gòn gần đây còn thắp nhang thờ ông Địa, không rõ các xe nầy sản xuất từ nước ngoài, ký bán năm nào?)

Sẵn xe mới cốt ý để khoe ngón phong lưu, sẵn giàu tiền tự do người chồng Pháp mắc bận việc sanh nhai lớn tại Sài Gòn, cậy thế lực của Franchini quen nhiều với các chủ đồn điền cao su ở Chúp (Cao Miên), sẵn ma lực trời dành nơi đầu mày cuối mắt của cô, nên cô nảy ra một nghề mới là cùng một á múi tin cẩn phục dịch hôm mai và một tài xế tin cậy, cô ngồi xe mới thả một vòng ngao du, làm chủ cái hốt me, nhưng muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang mai, cô hỏi thăm và biết đi nước nhỏ nhẹ với các tay anh chị mỗi vùng: xuống Bạc Liêu phải làm quen với cậu Hai Hiền (Chung Bá Hiền, con ông Chung Bá Vạn, ngoài gọi hội đồng Banh) và Tư Hi, cầm đầu bọn du côn đứng bến, ghé Sốc Trăng có Ban Tư (Lưu Liễu) công tử Cáo (Lưu Nhu), lên Cần Thơ có Lê Thọ Tường, ở Cầu Cống và Cầu ngang (Trà Vinh) thảy đều có anh hùng bản xứ, đến nơi mà không ra mắt các tay chiếng ấy, thì sao cho khỏi ăn me mà bị cướp ngành thầu dọc đường, hoá ra sạch vốn, duy chơi me ở Chúp xứ Thổ, trong đồn điền của chủ Pháp quen thân với Franchini, thì lo gì mất của, lại nữa ở Chúp, cô Ba mười phần chắc thắng trọn thắng vì các tay con quen đánh đủ bốn cửa, chủ cái lấy ba cửa thua chung một cửa thắng thì thế nào cũng dư tiền hồ (xâu) lại dư tiền thắng cuộc và ít hao đến vốn.

 Cái vòng quanh lục tỉnh của cô Ba, làm cho nhiều người bàn tán, đồn rằng cô thua bài quá nhiều nên đi vơ vét các tay chơi ở tỉnh, kỳ trật cô ghé nghỉ ngơi ở lữ quán bungalow là để đùng cơm Tây và đổ xăng vào xe, cô vẫn mở phòng, và khách sộp nào muốn ra mắt phải đi lễ trọng hậu, lễ nho nhỏ cỡ một trăm đồng, cô đều gọi bác tài và a múi phân phát trước mắt làm cho khách hổ thẹn ra về, chớ cô nào hạ mình rước khách cốc keng như gái ăn sương tứ thời nhì hạng.

Có một chuyến cô xuống Bạc Liêu, cô cạn vốn, định quay xe trở về Sài Gòn nghĩ cách, cậu Hai Hiền trước học Chasseloup đồng những năm 1919-1923 với kẻ viết bài nầy, Hai Hiền hay được định cầm cô ở lại giúp vốn cho cô gầy sòng khác, Hiền về nhà lấy bạc thì cô đã lên xe xông lướt dặm ngàn, xe cô ghé lữ quán bungalow Sốc Trăng thì vừa được tin xe cậu Hiền vì tránh con bò đi lang thang ngoài lộ, liền thắng gấp tránh bò, xe lật xuống ruộng đưa bốn bánh lên trời, cậu Hiền thoát chết nhưng gãy lọi một giò, máu me đầy mình đang nằm ở nhà thương cho lương y điều trị. Cô tức tốc vào dưỡng đường, sai a múi lấy một bộ pyjama hường của mình thay cho bộ âu phục của Hiền rách nát, Hiền sau khi lành mạnh vẫn xem bộ y phục của cô như vật linh bùa lạ, luôn luôn vẫn giữ nhớ câu “xếp tàn y lại để dành hơi”.

* * *

 

38

Cô Ba qua Xiêm chuyến thứ ba

Như Gia Cát đệ tam xuất Kỳ sơn... nhưng chẳng thành công, và cô gặp ông Hoàng Xiêm là chuyên ngải nghệ có linh hay không, ai muốn hiểu sao thì hiểu.
Tôi đã đọc lâu bộ Histoires d’Amour de l’Histoire de France của Nguyễn Breton, nay còn ngán bề trái của lịch sử: Ông vua Louis XV, khi chưa biết gì, đã nhờ bà hầu tước nào dạy cho con ong tơ biết hút mật trong hoa, nhờ vậy chồng bà được bổ nhiệm đại sứ một nước lớn, vinh quang một thuở (nhớ bằng cấp da của vợ), chính đế Napoléon 1er cũng tránh không khỏi bị một bà nhơn tình sang một bịnh kín, trong trận đại chiến nào đó để vừa hành binh vừa bi bịnh kia hành hạ dầm dề như một phàm nhơn. Nhưng lý thú nhứt có lẽ là chuyện ông vua Louis XVIII, vua nầy về già suy yếu nếu không nói là bất lực, nhưng đối xử với cựu nhân tình, bà De Cayla, ngọt không chỗ nói: đã tặng bà một lâu đài xinh xắn gọi château de Saint Queen, thêm biếu bả một cuốn sách kinh thánh (bible) trong đó đóng thêm 50 tấm ảnh kỷ niệm, mỗi ảnh có kèm thêm một tô giấy bạc 1.000 quan (nhưng trong sách không nói rõ bả có chịu khó lật từ tờ để đọc kinh chăng, hay là bà để cho con đòi siêng năng làm thế, tôi nói vậy là chuyện ngoại sử, lấy kinh nghiệm bản thân mà nói, vì lúc tôi còn ở đường Thủ khoa Huân, trước gọi Aviateur Garros, tôi có một tiểu đồng bữa nào quét nhà lau sách, đều cẩn thận lật sách từ tờ không phải để kiếm bụi bặm kỳ thật tiểu ta kiếm bạc giấy tôi thường nhét trong sách, tuy không có bà de Cayla để tặng, nhưng thiếu chi bồ bịch cần dùng khi bà xã về quê thăm nhà!

 Ấy vua chúa xứ người, lịch sự làm vậy.

Cô Ba từ ngày làm ăn thất bại ở Bạc Liêu, bị tay con cao tay hơn, vét sạch vốn liếng, trở về Sài Gòn, Nguyệt tiên cung trở nên ổ rắn, chủ nợ thấy mặt và cứ tưởng còn tiền theo đòi cảng riết, bực quá chồng con không kể và để lánh mặt một thời gian, ngựa quen đường cũ, cô xin giấy qua Xiêm một chuyến nữa, quyết phen nầy thay bùa chuộc ngải mới, để về tranh thủ với tay lạ, chớ nhơn tình cũ đã ngán cô nhiều và đức phu quân Pháp tựa hồ cũng ngán và toan trở dĩa. Nhưng chuyến xuất binh kỳ ba nầy rốt lại cũng thất bại, vì hễ tham thì thâm, cô chỉ có hai tay mà toan bắt một lượt đến hai con cá bự. Bước đầu qua Xiêm, cô gặp dê con bốn đứa, bốn anh Tàu lai Xiêm thấy cô và nhan sắc cô, nói hành nói tỏi, cô nghe thấu, dùng tiếng Hải Nam cho chúng một bài học khôn, không nên thấy người nước khác ở viễn phương mà dám phê bình kia nọ. Buổi “thiệt chiến quần nho” ấy chưa thâm thuý, và chớ chi cô là người có học, biết được ngoại ngữ tỷ dụ tiếng Ăng lê thì hay biết chừng nào, vì sau đó cô gặp một người trộng tuổi da đen đen mét mét, đó là cứu tinh chiếu mạng, nhưng cô đã để vuột mất rồi. Ông trộng tuổi nầy, sau nầy rốt, là thân vương, ngự đệ đức vua đang trị vì ở Xiêm la quốc, nếu cứ thứ chuyển đệ thì, sau khi vua đang ngự chầu trời, thì ông là người kế vị chánh thức, nhưng ông trộng tuổi nầy, không như người thường, vẫn không ham ngôi báu, cũng không ham làm chánh trị rẻ tiền, ông vẫn sống một đời phong lưu cực kỳ bình dân, khiến nên thần dân Xiêm lại càng tôn sùng ông hơn nữa. Ông thích việc nghĩa hiệp.

Nay nhắc lại cô Ba qua Xiêm tìm chuộc ngải, nhưng ngái chưa thấy, đã thấy mối tình còn hơn trong mộng và trong ao ước, là sắp gá nghĩa cùng ông hoàng nầy, và nếu được như vậy chẳng là chuyện Tấm Cám, chuyện con dân lấy hoàng tử chẳng là chuyện thật? Ngặt một nôi ngôn ngữ bất đồng, ông hoàng phải dùng một phụ nữ Việt biết rành tiếng Thái làm trung gian, và truyện gió trăng mà có nhân chứng ở giữa thì trở ngại nào bằng. Cô Ba khen nước Xiêm phong thổ tốt, hoa có nhiều giống lạ cô chưa từng thấy, ông hoàng cao hứng hẹn đưa cô đi xứ Pénang, viếng chùa rắn và xem phong lan muôn màu ngàn sắc xứ náy. Bữa lên xe, rủi cho cô Ba là đụng đầu với kỳ đà, bất ngờ gặp chàng đẹp trai họ Đỗ, tuỳ viên nơi toà lãnh sự Pháp ở Bangkok có việc đến đây hai người gặp nhau, khách đa tình gặp gái thuyền quyên, chuyện đầu mày cuối mắt không lọt qua mắt xanh nhà lịch duyệt Xiêm, nhưng ông hoàng tốt nết ghê, xe chạy tới ranh giới để qua xứ Pénang, ông hoàng bắt tay từ giã cô Ba, khuyên cô cứ tiếp tục cuộc du lịch như có mặt ông và ông cắt theo cô một thơ ký đem theo một mở ngân phiếu, dặn cô muốn xài bao nhiêu cứ tự do ghé các nhà sét ty, chúng sẽ nhận ngân phiếu của ông, xài bao nhiêu cũng mặc, miễn cô vui lòng là đủ. Đó, tôi muốn nói người quí tộc nước ngoài là vậy, không như bên mình cho uống một trái dừa cũng xuýt xoa biên sổ! Thế là hỏng bét, hỏng nặng! Họ Đỗ, biết được cô là người của ông hoàng, đã hát bài “tẩu mã” trước, vì một viên chức nhỏ toà lãnh sự làm sao dám đương đầu một thân vương của nước mình đang nương náu. Đàng khác ông hoàng, khi thấy cô quyến luyến với họ Đỗ, ông tự rút lui, vì mình vàng lá ngọc há đi tranh giành một bông hoa, dầu là lạ mắt, với một bộ hạ dưới tay mình? Tội nghiệp nhứt là cô Ba, vì luyện phép chuộc ngải chưa kịp, nên sẩy một lần đến hai con cá to, và như tôi đã nói, tham thì thâm là vậy. Cốt ý của cô khi qua Xiêm là quyết luyện phi đao ngải linh để trở về hơn thua với đám Dư Hồng lục tỉnh, nào ngờ bước đầu cô gặp trở ngại thình lình. Cô đâu có ý đi tìm lan lạ lan quí như lời ông hoàng giới thiệu và cuộc hành trình của cô đã mất hứng, từ khi ông hoàng và họ Đỗ trở bước về Xiêm. Đến xứ Ma lai you (Bà lai du), cô viếng chùa rắn ở Pénang cho có chừng, đến kinh đô Mã lai là Kuala Lumpur càng thấy vô vị, và khi đến Tân gia ba hay Tân gia Phố (Singapour), cô cho hay cô trở về Sài Gòn, không hân hạnh gặp lại ông hoàng Xiêm như giao ước trước. Cô nói với viên thơ ký, về rán học tiếng việt và rán đọc và hiểu truyện Kiều.

Nói lại với hoàng thân, tôi kính dâng hai chữ “bình an” và hẹn kiếp tái sanh hoạ may sẽ gặp, chớ kiếp nầy: “Trăm ngàn gởi lạy tình quân, tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”
Mối tình kết thúc có hơi đột ngột, một lần nữa cô Ba biết làm tiền chớ không giỏi làm tình! Và ngải mê, có hay chăng, đố biết?

* * *

 

39

“Buổi chợ đông con cá hồng em chê lạt,

tan chợ rồi con tép bạc, em khen ngon?”

Cô Ba liều mình mà không chết được.

Lúc nầy là hồi đen tối nhứt trong đời cô Ba.

- Đi vắng nhắm chưa bao lâu, về nhà thấy lạnh tanh như chùa bà Đanh Nguyệt tiên cung là thuở nào kìa, nay trước cửa lấp ló bóng chủ nợ và người thừa hành của chưởng toà, trông thấy mặt chực banh da xé thịt, thụt vào trong á múi, a sam (xẩm phục dịch) không một bóng, khi nào có mật ngon đường ngọt chúng bu đầy, nay túi không tiền hết, chúng giả lơ như chưa biết mình đã về đây, tệ nhứt là anh Tây sê-ri buổi nào, nay độ chừng có con nào mới nên lạnh lùng tính thay dĩa! Như vậy cho biết thế nào là tình đời!

 Cô Ba là người gọn việc, nên thanh toán lẹ chuyện nhà: trả phố Richaud, giao chủ nợ từ khí thập vật, của quí, của kỷ niệm anh nầy anh kia, hãy chia nhau trừ bớt số thiếu.
Phải chăng đay là buổi thất thủ Hạ Bì, binh tráng binh đinh, vỏn vẹn một em gái tên Tư, trung thành không bỏ chủ, tả xông hữu đột vừa sai vặt vừa đi chợ nấu cơm, tướng cạnh có một chàng trai người Bắc, làm cho hãng buôn, ở đậu dây cho có bạn, bao nhiêu tiền lương xúp, cô tự tiêu pha, và tiếng xưng hô em nuôi em út nghe ngọt xớt? Thỉnh thoảng có một người biết chỗ cô ẩn trú ấy là Sáu Ngọ, vua cờ bạc lừng danh thuở ấy, vẫn còn lên xuống khi rủ cùng theo vào sòng, nhưng tiền đâu mà giỡn bạc, khi khác thấy thầy Sáu cho quà cho bánh trái, tỏ ra còn biết phải trái, tuy ngồi trên đống vàng mà chẳng khi người đang lúc lỡ chơn trái bước.

 Nhưng lui tới cùng đường, đi xa về mệt, quẩn trí và mệt mỏi tinh thần, cô lén mua một hộp indien bốn chục đồng, lấy phân nửa, trút vào ly pha thêm đường cho bớt đắng và cô ực một hơi quyết giã từ mọi việc. Nhưng số cô chưa tới. Trong khi em Tư ngủ vùi ngoài chõng nhỏ nơi hàng ba, bỗng thầy Sáu Ngọ ghé xe tính rủ cô Ba vào sòng trong Chợ Lớn, hỏi Tư, Tư ú ở như ma bắt hồn, thầy không chờ trả lời, xô cửa bước vào trong mới hốt hoảng tam tinh chớ chi trễ nửa phút thì ắt Ba Trà còn xác trơ trên nệm.

 Không nói không rằng thầy Sáu ra tay nghĩa hiệp, xốc nàng vào tay, đặt lên xe chạy tuốt ra nhà thương cấp cứu đô thành ngay đường Bonard, sẵn lương y túc trực, bôm rửa nàng thở được, Sáu Ngọ biết cơn nguy đã qua, mới để đó lo chạy xe vô sòng me nơi tửu lầu Chợ Lớn, kẻo tiền xâu hao hớt. Sáu Ngọ về tới nhà là kiểng nhà thở đức Bà đo mười hai tiếng, chớ chi Ngọ không ghé lúc nãy thì hồn Trà đã bay xa!

 Đến đây mới thấy bụng tốt của bác sĩ A., người đã cứu cô lần đầu Sáng ngày, bác sĩ đi làm việc nơi nhà thương đầu đường Bonard gần Chợ Mới Bến Thành, mới hay đêm rồi ban gác có cứu một nàng tự tử bằng thuốc phiện và nàng ấy nay, còn nằm đường bệnh, không ai khác hơn là Trà, ái khanh năm trước. Lại một dịp thi ân vô cầu báo, giận mình không trẻ để xứng với duyên cỡi phụng cỡi loan, nhưng về kinh nghiệm nhà nghề thì ai già giặn ăn qua mình được! Ông cho chở về đường Colombier và ngày ngày xách túi da đựng thuốc đến săn sóc chu đáo, và suốt ba tháng yếu ốm, ông mỗi đến viếng và tuần mạch, không nói không rằng, mỗi lần ra về, vẫn nhẹ nhẹ đặt một tờ giấy một trăm đồng trên đầu nằm, tiền xài vặt, cà na cánh chỉ. Còn ai tốt hơn ông nầy? Cà na vừa chua vừa chát, cánh chỉ vừa ngọt ngọt chua chua, món ăn vặt cho người bịnh mau biết miệng, nhưng người bịnh nầy đau bịnh cần dùng tiền thiệt nhiều để vào sòng me ngồi me đứng, có hoạ là biến ra cái máy in giấy bạc thì cô mới động tình, chớ mỗi bữa một xăng (cent piastres), thì không khác bù mát cắn sừng trâu, sao thấm!

 Một hôm cô vừa lại nghỉn, ăn cơm được hai chén biết ngon, sẵn đứa em làm hãng buôn về lo le 520 đồng khoe trúng mối, cô chừa hai chục mua gạo, còn chẵn năm trăm, cô bó túi qua thăm dì Tư Ăng lê cùng xóm, thấy sòng bạc hoắc, ngứa tay kéo chơi, không dè thời vận bất tể, hoắc luôn trọn năm trăm mới sướng!

 Cô về nhà nằm sải tay, nước mắt tự nhiên tuôn ra, không khóc tiền muôn bạc vạn cúng cho me, lại khóc năm trăm thua bài hoắc?

 Nhưng nước mắt cũng là phương thuốc tiên, tuôn ra bao nhiêu thấy trong mình nhẹ nhõm bấy nhiêu. Cô đứng dậy cười gằn, khóc vô ích. Đời đã chó má giận chi đời, phải can đảm hơn lên. Nhưng nằm ngồi bực bội, lấy tiền đâu đắp đỗi tháng ngày. Bỗng nhớ lại bao nhiêu vàng xoàn, cầm cho má Hai (bà Ty), thử qua tìm hoạ may trừ tiền vốn tiền lời, má có cho lại chút ít buổi nầy?

 Lúc nầy là lúc Tần Quỳnh trong truyện Thuyết Đường đang đau, nghèo khổ đến phải bán con ngựa làm chơn, con chiến mã Huỳnh Biếu ngày đi ngàn dặm không biết mỏi, mà chủ nó phải đành lìa vì không tiền trả chủ quán. Nhưng cũng là lúc Tần Quỳnh thoát cơn hoạn nạn, gặp Đơn Hùng Tín giải cơn nguy. Cô Ba bước qua tìm bà Hai thì bà đang gầy sòng. Vận đen đã dứt, vận đỏ vùng lên, sẵn còn hai chục là tiền còn dư lại trong số bạc một trăm của hảo tâm lang bác sĩ vừa cho buổi sáng, cô chưa tin thọc tay vào túi mò mẫm thử, vẫn còn ràng ràng tờ giấy hai chục, cô nhớ lại tích ngộ ngộ anh thợ hồ Quảng Đông bữa kia sửa nóc nhà dột cho ông Sáu Nhiều là một tay đổ bác khét tiếng không thua gì Sáu Ngọ, khi sửa nóc xong, vừa tuột xuống định lãnh tiền công là mười lăm đồng bạc Đông Dương, nhưng sẵn thấy ông Sáu đang làm cái cầm chén hốt me, anh thợ ngứa nghề, luôn tay đặt cầu âu trọn mấy chén đều trúng, vốn và lời cả thảy được độ mười lăm ngàn đồng, anh thợ không vùa tiền ăn vô lại toan đánh nữa, nhưng ông Sáu bỗng xên ngang, anh thợ hít hà xin cho đánh thêm chén chót, nhưng ông Sáu điềm tĩnh, rằng: “Anh thợ nầy kỳ! Lợp chơi có mấy miếng ngói quèn mà nhận của tôi mười tăm ngàn đồng tiền công, như vậy mà còn chưa vừa bụng hay sao?”. Anh thợ lễ phép thưa: “Dạ tôi thua sạt nghiệp bên Tàu mới học cầm bay tô hồ. Xin cho tôi đánh một chén nữa thôi, may mà trúng thì tôi về xứ chuộc đất chuộc nhà, còn như không may thì tôi sẽ ở lại đây sửa nhà cho ông thì tôi cũng bằng lòng”. Nhưng Nhiều là tay cao đệ dễ gì cho anh thợ ăn quá, nên một hai cuốn chiếu không hốt nữa. Nay đến lượt cô Ba tay cầm hai chục đặt cầu may, miệng vái lầm thầm: “Ưng ai hôn anh thợ linh thiêng, giúp cho tôi qua cơn túng ngặt”. Quả cô đánh ngồi mấy chén, cô vét sòng được hơn mười lăm ngàn đồng. Chú chứa tiếc tiền, không cho cô về, ép ở nán lại, chờ gọi ngảnh thầu mới, ban đầu là thầy Ba Đồng và kế đó là thầy Ba Khương, người là chủ cái có danh (ông Đồng), còn ông kia (Phương), vốn là mại bản của hãng Charner, tiền ăn của xài mấy đời chưa hết, hai người tiếp tục cầm chén thay, nhưng quả vận đỏ cô Ba đã đến, khiến trọn đêm ấy, cô đặt đâu trúng đó, rạng ngày cộng lại ba tay hổ kha kia đều sạch túi và túi cô Ba thì thình lình nặng thêm hơn tám chục ngàn đồng bạc là một con số quá sức tưởng tượng buổi ấy, trong khi vàng ròng Đông Thạnh hiệu “con ngựa” trung bình là sáu chục đồng một lượng.

* * *

 

40

Cô Ba lựa chồng như trai kia chọn vợ!

Khi gặp được Từ Hải, nàng Kiều bèn tính việc ân ái đáp đền, oán báo oán. Cô Ba làm khác hơn cô Kiều. Nay đã cầm bạc vạn trong tay, thuở ấy con số “triệu” chưa ai thấy lần nào, cô thuở nay giận đời mình có nhan sắc không ai hơn, mà vẫn làm một món đồ chơi cho bọn râu mày kia, và tại sao chúng nó lấy đày tớ vẫn được lấy con vú con ở cũng không ai cười, trong khi đàn bà trí non nghĩ cạn, rủi thất thân một phút, phải mang tiếng “bà chủ bà Tổng, đành để thằng sốp phơ nó mò tỳ!” Nay như mình, bị Toàn hắt hủi, chồng Tây u không kể sá, ông bác sĩ tốt thật nhưng đã có vợ và ông trộng tuổi hơn mình nhiều. Nay sẵn tiền, thử lựa một chồng cho xứng đôi vừa lứa, lại có hại gì? Trong khi cô lên xuống nhà bác Bảy phương đường Testard, cô chíp trong bụng một chàng bô trai, tóc trán quăn quăn, đáng yêu nhứt là không khi nào ngó cô ngay mặt. Hỏi thăm ra cha người đó là ông Thưởng, nhà còn ở đường nay là Tự Đức, trước làm giám thị và dạy về đồ mộc nơi trường “bá nghệ” đường Hồng Thập Tự, hiện trường còn đó. Vốn nhà dòng dõi thơ hương nề nếp, chị và em gái đây xin miễn kể, kể sơ ba anh em trai thôi, thảy đều khác chúng.

 Người của cô Ba lựa là con trưởng, hỏi ra nay còn sống bên Pháp, cứ định tuổi thìn, thì đã tròm trèm 79 tuổi. Cũng là thông ngôn toà án như Khai, Thìn có tánh khẳng khái, chưa vợ, nhưng biết xét phận, nên thấy gái xinh, không ngó cũng không chào. Ngộ quá thuở nay trâu tìm cột, mà nay cột lại tìm trâu! Bấy lâu lắm người móp sát đất cầm lá đơn cầu hôn lo le trước mắt mà Trà không đếm xỉa, thế mà chàng nầy sao chẳng động tình. Và ông trời già cũng éo le, bao nhiêu si tình kia đều rớt mà Thìn được chấm đậu. Nhưng đậu và rớt là gì? Thà thi rớt mà khỏi bị mò tôm, Thìn được cô chấm đậu làm chi để sau nầy Thìn mãi khổ tâm và bực tức.

Nhắc lại mấy lần gặp mặt Thìn tại nhà bác Bảy Phương, đường Testard, Trà lấy mắt đưa tình, mà Thìn để trơn trợt như trên hàng lá môn nàng mặc. Nhưng người đẹp là Trà nào chịu buông tha, và lần thứ nhứt, một trai bô (beau gosse) bị gái đa tình bắt sống.

* * *

 

41

Một cô ả đào, tài sắc có mà không có phúc


Kể lại ông Bảy Phương nầy cũng ác? Ba Trà muốn ông Thìn, cậy Bảy Phương dọ đường đất giùm, ông lại lần khân hỏi trước hỏi sau:

 Cậy chàng mua lụa Đồng Nai,

 Chàng sao lại hỏi vắn dài làm chi?

 Đã từng ăn cận ngồi kề,

 Vóc nầy bao nả, chàng thì nhớ cho.

Thì chàng liệu lấy mà mua!

Ba Trà có tiền trong tay, muốn sắm cho mình một người chồng theo ý muốn. Lại phải hỏi vắn dài, vừa vặn làm chi. Cần là cần áo khít khao, cho lòi cái co là đủ khéo. Đến đây tôi tạm để cho thầy Bảy suy nghĩ và lựa...

* * *

 
42

Trở lại chuyện cô Ba Trà

Nếu kể về tài, ắt cô không bằng một góc cô ả đào hồng nhan bạc phận nầy. Kể về tánh nết, gái xứ Bắc, thất chí vào chùa, còn gái xứ Nam như Ba Trà, có tiền muốn sắm chồng như sắm áo Le Mur không khác. Ba Trà muốn đổi giống cái ra giống đực, muốn có chồng cho vừa con mắt lại thêm muốn có chồng hờ chồng phụ, như đàn ông sung sức sẵn tiền, sắm V.1, V.2 cho phỉ chí bình sanh. Thìn là con trai có đầu óc ban đầu từ chối, cự nự nhưng cự làm sao lại mắt liếc như dao, mũi đo đỏ như muốn khóc. Hai người kể cũng gay cấn lắm, hạnh phúc dầu có cũng chẳng được bao lâu, một trở ngại là mẹ cô Ba không thích Thìn vì chê nghèo, và sau hồi tâm cho Toàn chịu tang của mình, vì Toàn là con nhà tỷ phú. Cô Ba lập tâm “bắt sống” Thìn bằng mọi cách. Sơ khởi, cô ỷ có quen với lục sự Đỗ Hữu Bửu là chủ sở của Thìn, nên giả chước vô toà xin sao lục khai sanh, nói với ông Bửu xin cậy Thìn làm thủ tục giúp cô, nhưng Thìn không vì Bửu mà vâng lời Trà..., Trà thất trận phen nầy bày ra trận khác, cậy Nguyễn Hữu Phương đường Testard là tay làm cái hốt me chứa bài còn trước hơn Sáu Ngọ, Búa Lồ, Sáu Nhiều, Huyện Đước nữa và Phương là tay lịch duyệt, nhà Phương, Thìn năng lui tới, Phương ban đầu ngăn khuyên Trà nên chọn nơi khác, chớ Thìn, lương tám chục đồng mỗi tháng, làm sao đủ gánh một gia đình mà người nội trợ không biết luộc một cái hột gà la cót (beaf à la coque) cho nên thân, trái lại quen tật đánh bài đánh me như cơm bữa lại còn đèo tật hút lớn, mỗi ngày lúc đó một hộp một đồng bạc (10 grammes) mà nay trở nên triệu nầy triệu kia, Thìn gánh sao kham. Thìn đau trĩ, vào nhà thương Gia định nằm điều trị, cô kéo thầy Bảy Phương cùng ngồi xe vào rước cho được Thìn vào Chợ Lớn xơi cơm Tàu “hối thèn”, mà trời đất ơi, trốn lòi con trê, ngồi xe nệm êm mà còn nhảy nhổm mỗi lần xe xóc đá, mà ăn uống sao vô? Nhưng mê hồn trận của đàn bà, lỳ lợm như Từ Hải, “xô chẳng rúng”, chết tức nên đứng sững như trời trồng, thế mà “Kiều than mà ngả”, đủ biết ma lực của giống cái mạnh đến bực nào. Những ai đứng ngoài vòng, đứng đánh phách, hãy vào vòng thì biết.

Tôi bữa đó nghe cô Ba kể đến đoạn nầy, tôi đang nằm nơi động Khang trong khu xóm Đất Thánh Chà, bất ngờ tôi cũng ngồi nhổm dậy và mừng lòng vì năm 1952, cô “tha Năm và tôi” chớ cô ừ một tiếng, có lẽ tôi cũng vào mê hồn trận mặc dầu năm 1952 cô đã trên bốn mươi còn tôi đã tròm trèm ngũ thập. Bây giờ tôi nhớ lại, sở dĩ tôi với Thìn không quen biết nhau, là vì Thìn làm việc ở toà Sải gòn nhưng thuộc bên grefe, Đào Duy Anh dịch là “ký lục phòng”, nôm na nói theo Nam là phòng lục sự, chuyên về sao lục án toà và hộ tịch, còn lúc đó tôi vẫn năng lên toà để “chầu hầu” ông bô tôi là ông Kính, và làm nơi phòng phiên dịch (bureau de traduction) là nơi bạn quen gồm Siêu Đức, Khai, Trường, Giàu, Xứ, và một người tôi mang ơn lớn không quên nhưng đã từ trần là anh Bùi văn Khá.

 Thìn sánh đôi với Trà, vô phúc hay là hữu phúc. Thiếu chi người thèm muốn địa vị của Thìn. Con ngựa trời bắt cặp được với cái rồi để cho cái làm thịt xơi ngon lành, nhưng cho đến tận thế, ngựa trời vẫn tìm ngựa trời cái để bắt cặp. Chớ chi Thìn và Trà khi bắt tay nhau thì xin đổi ra Hà nội, xa sòng me, hoặc lên Lào lên Nam vang, tốt hơn hết là lên vùng cao nguyên ở chung với đồng bào sơn cước hoạ may bền bỉ.
Sau một tháng nhà thương Gia định, lành mạnh về, Thìn dọn về ở chung với Trà, và đưa Trà về ra mắt cha mẹ, thì thảy đều vui vẻ, tuy song thân không thích chưng dọn bông hoa trong nhà, nhưng có bao giờ ai lại chối từ khi có người biếu một nhánh mai ngày tết hay một giò lan hún hín mấy ngày xuân. Nhưng như đã nói, một hoen ố trên gương trong là khi ra mắt mẹ của Trà thì bà không vui, bà lui về Cần Đước, không chịu ở Sài Gòn, và một thời gian sau, bà lâm bịnh, vợ chồng Trà về làng thăm, thì hôm ấy mẹ đã bớt và năm giờ chiều vợ chồng Trà quay xe về nhà, đêm ấy vào lúc mười hai giờ khuya ít giờ sau có người nhà ở Cần Đước lên cho hay thân mẫu của Trà đã tắt thở vào giờ tý.

Việc ma chay quàn lâu đến mười sáu ngày thay vì một tháng chẳng qua là để cho giới me bài có thì giờ điếu tang, việc ấy vừa tỏ lòng Trà trước sau vẫn là con có hiếu, việc ấy chưa đáng kể bằng nhà họ Trần là nhà có huông, ngày trước cha trối không nhìn Trà, bây giờ mẹ Trà trối gọi dây thép ra Nha trang cho Toàn hay vào thọ tang, làm bỉ mặt Thìn, một cách không cần thiết lắm.

Một câu nhớ trong văn Pháp: “Sống là đau khổ. Kẻ nào đau khổ nhiều, kẻ ấy sống nhiều”. Sống đây là có kinh nghiệm già giặn. Thìn lấy Trà, đau khổ nhiều hơn là vui sướng.

Trà tính sai một con toán khi lấy Thìn làm chồng. Muốn thủ phận làm một vợ tòng nhứt nhi chung, nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, khi tiền bạc hết, thì sự chung thuỷ trở thành bọt nước! Đánh me thua thâm thủng lần hồi hết sạch tiền ăn năm nọ. Xin nghỉ việc vợ chồng dắt nhau qua Xiêm, Thìn tìm không ra sở làm, cũng may không gặp con sâu họ Đỗ, còn rắp tâm tìm ông hoàng năm trước, định nhớ nhói, thì: “Sư đà hái thuốc phương xa, mây bay hạc cánh biết là tìm đâu (Kiều). Lại đành trở về Sài Gòn nợ đẻ thêm nợ, bối rối không vừa.

 Và câu sáo phải dùng là “hoạ vô đơn chí”, bỗng có một ông toà, trước có vợ Pháp, nay đã mặc áo đỏ, đáng lẽ nghiền ngẫm luật pháp, có chơi trống thì đánh trống chầu mới phải, nhưng đến tuổi đàn bà “hồi xuân” (retour dage), ông bắt chước hồi xuân theo, và không thích cầm chầu nẻ mặc lại tập chơi trống bỏi. Tuổi của ông, gái tơ thiếu gì, nhưng ông lại ham thứ nạ dòng, gái từng xông pha trận mạc!

 Cay nghiệt thay, lúc làm bạn với Thìn, Trà muốn làm sao Thìn hiểu nỗi lòng, Trà chưa hư, chưa thất thân cùng bất cứ ai, ý nghĩ ngoại tình chưa đến cùng Trà, nhưng tỷ có ai muốn đánh dây thép bắt tình, chưa phải là “tư thông”, Trà vẫn đánh đưa trả lời, không khác trái banh nhỏ chuyền qua lại trên vợt tơ nít, vợt nào mòn, trái banh nào hầy hấn, mà lợi cả đôi đàng. Trong câu chuyện “chén me Đại Thế Giới” của cầu thủ Koln đã kể trong tích “một cô lưu lạc” trước đây, có nói đến một a múi phá hoả cho sòng me, nhan sắc lộng lạc nhứt thời, cô ta trên tay đeo ba chiếc nhẫn kim cương, tự xưng mình là Võ Tắc Thiên, lấy một lượt ba chồng là ba công tử triệu phú Chợ Lớn, mới đủ cung cấp cho cô ta “tình” và “tiền”.

 Trà vẫn không từ chối, tuy không biết a múi Võ Tắc Thiên, nhưng vẫn cùng tư tưởng, “lấy con sóng sắc đong đưa thuyền tình”, nào có hao mất có mảy may nào cái kia đâu mà sợ, nhưng Trà quên làm như vậy, trái tim của Thìn nát ngớu như tương còn gì? Trà muốn một mặt giữ dạ chung tình với Thìn, nhưng mặt khác hãy để Trà cọ dĩa với khách bự cỡ quan toà như vầy để giải cơn nguy khốn.

 Quan toà không lo xử kiện, lại giả làm khách thương nhiều bạc ở Bạc Liêu lên đây bán mấy ghe muối, và cậy lục sự Bửu làm người giới thiệu, nhưng làm sao qua mắt hoa khôi Ba Trà? Chỉ làm khổ cho Thìn, là người có khí tiết, đâu chịu cảnh giã chày đôi? Bọn đàn ông chúng tôi cũng lắm kẻ hèn đốn, tướng tá tỉnh trưởng, khi mất ghế, vẫn ăn bám những đàn bà nạ dòng lên cỡn, nhưng cũng không thiếu người như Thìn, bình phong tuy rách, cốt cách vẫn còn, Thìn ở trong giới nho phong lễ giáo xuất thân, đâu khứng làm ma cô, ma cạo, maquereau, hạng hư thúi.

Tử ngày ở Xiêm về, Thìn trở lại nghề thông ngôn toà án, nhưng nợ càng níu áo, Trà bán đồ đã có trưởng toà niêm phong, tội sang đoạt về phần Thìn chịu, và trong khi bối rối, quan toà kia có dịp tuyên án tha bổng Thìn, gây cái ơn khó trả. Quan toà bắt bén, mượn cớ đến thăm Trà, đã mấy phen đụng đầu Thìn, Thìn chịu mãi cảnh nhục nhã để cho vợ nói chuyện với “mèo” trong nhà, Thìn bỏ nhà ra đi, Thìn chịu thua người quyền thế, nhưng máu hiên ngang vẫn sôi nóng, Thìn thề quyết sang Pháp học thêm, sẽ trở về nhưng từ ấy bặt tin, còn mất chẳng ai hay.

 Khi Thìn lánh mặt, quả Trà có bỏ công lặn lội đi tìm, như vậy dây tơ tình chưa dứt, nhưng khi gặp nhau giữa đường Catinat, Thìn giả lơ không thấy, Trà cố chường mặt mà Thìn không ngó ngàng, Trà nhiều tự ái mà Thìn tự ái không kém, thành thử dây tơ tình bị căng thẳng quá, đứt luôn, cuộc đổ vỡ bắt đầu từ đây, trách ai bây giờ.
Nhắc lại thuở Âu châu chiến tranh kỳ nhứt (giặc 1914-1918), miền Nam có sản xuất một mớ công chức cao cấp, sơ khởi là công chức hạ cấp tình nguyện sang Pháp cho biết hơi đàn bà mẫu quốc với chức thông ngôn đạo binh lính thợ, lính làm công việc cực nhọc sau trận tuyến, khi Pháp thắng trận, các viên thông ngôn ấy được cho vào trưởng đào tạo công chức cao cấp miễn tú tài, trong số kể sơ:

- Dương Văn Giáo, học trường chánh trị, đậu tấn sĩ luật, bổ làm trạng sư ở Sài Gòn.

- Nguyễn Xuân Giác, Nguyễn Xuân Quang, đều về làm quan toà.

- Dương Văn Mai, về làm chưởng toà ở Sài Gòn rồi xuống ở Long Xuyên.

- Phạm Văn Còn, trước học trường Sư phạm Hà nội, qua Pháp, trở về làm nơi phòng kiểm duyệt báo chí rồi làm hiệu trưởng trường trung học Trương Vĩnh Ký, sống đến gần chín mươi và mới mất cách nay vài tháng, đạo hạnh hiền lành.

 - Và Trần Văn Tỷ, trước làm thơ ký toà bố Bạc Liêu, qua Pháp, cùng học một trưởng chánh trị với Dương Văn Giáo, và làm toà áo đỏ nhiều năm ở Sài Gòn.

 Ông kể là người khá, giúp ích cũng nhiều, duy hiếu sắc và ăn ở quá theo Tây, trước có vợ đầm, sau lấy cô Ba Trà, rồi lấy cô Bảy Trà Ôn, thảy đều vợ của người khác! Đạo đức bỏ trôi sông biển, chơi cho phỉ sức người nắm quyền trong tay nhưng phải tật hiếu sắc và cướp đoạt hoa có chủ, không sợ gai đâm! Ngoài ra, phận sự nơi toà, ông lo tròn, thêm có khả năng, các quan Tây mến phục nên nhắm mắt việc đời tư, ông về hưu với tiếng tốt.

Vào khoảng năm 1927 hay lối đó, kẻ viết bài nầy nhiều hôm gặp ông, khi mặc áo ngủ pyjama, khi khác theo dõi cô Ba leo thang lầu cao lâu tửu điếm Chợ Lớn trong khi kẻ nầy đi với bồ trên lầu đi xuống, gặp nhau chào, ngỡ ngàng ngượng nghịu tôi kính ông vào bậc thúc bá, quen nhau vì thường gặp ông nơi nhà ông Kính, sau nầy là nhạc phụ nhiều năm, ông gặp tôi vẫn hít hạt cười như tuồng tha thứ, với ý nghĩ không nói: “Tao làm gì thây kệ tao, và mi còn nhỏ lắm, không nên bắt chước gương nầy?”

Riêng nói về Trà, từ thôi nhau với Thìn, là nàng xuống dốc, tuy còn mấy năm sung sướng trên nhung lụa với ông toà nầy và kế đó là một lục sự toà, con nhà danh giá sẽ nói nơi đoạn sau, nhưng từ khi lựa chọn Thìn mà không được nối tóc đến răng long đầu bạc, từ ấy Trà phú cho hoa trôi nước chảy, “mặc người mưa Sở mây Tần, những mình nào biết có xuân là gì?” (Kiều).

Ông toà đem Trà về sống chung nơi nhà riêng, đường Testard, Trà vẫn bài bạc, lên xuống các sòng me Sáu Ngọ, Búa Lồ, báo hại quan toà phải theo làm hộ vệ trong lúc còn mê nhan sắc nàng, và vẫn xuất tiền nhà trả nợ thua thiển. Chung cuộc được vài năm kế tan vỡ, mạnh đường ai nấy đi.

* * *

 

43

Tổng luận chuyện: bà V.A., Ba Trà

Tôi viết mấy chuyện nầy, cốt ý là để quên buồn, và cũng muốn bổ túc quyển “Sài Gòn năm xưa” và nếu còn sống thêm ít tuổi, không biết chừng tôi sẽ viết tiếp những gì tôi biết về cảnh cũ trong nầy.

 Trong câu chuyện, tôi thường viết tên thật của những nhân vật tôi không sợ búa rìu dư luận, vì tôi cho rằng những nhân vật nào đã mất, tức đã vào sử, miễn khi viết đừng có ác ý là được, việc xảy ra sao, tôi biết được là cứ viết, nếu có sai lạc là ngoài ý muốn, tôi chỉ muốn sao những gì tôi ghi lại đây, không là “tiểu thuyết hoá” và chỉ là sự thật hay gần như thật, và chỉ có vậy thôi.

Tài liệu tôi đã dùng, là những bài vụn vặt cắt trong sách báo cũ may còn giữ được, nay tôi lấy ra đọc và viết lại, như đã nói, cho đỡ buồn, tỷ dụ:

1) Chuyện 1 về bà V.A., là chuyện tôi thuật lại theo một bộ của ông Trần Thiện Thành đã viết từ năm 1916, tôi từng ghi chép nay dọn lại cho suôn sẻ, và tôi gọi đó là loại “viết phỏng theo” Pháp gọi: “à la manière de...”. Trong tủ sách của tôi, có một quyển Pháp văn, nhan là T.S.V.P. (petites histoires de ous et de personne) của đôi tác giả viết chung J. W. Bienstock và Cumonsky (Editions Grès). T.S.V.P. nên đọc là Toumez s’il vous plait (mới lật qua chương khác) và petites histoires de tous et de personne, tôi hiểu là “chuyện nhỏ vặt của chung mọi người mà cũng không cả một ai”, tức là của bá tánh, của vô danh, tôi xin lấy đó làm nòng cốt miễn đừng đạo văn là được.

2) Đến chuyện 2, về cô Ba Trà, tôi vần nói thêm nhiều. Cô nầy khi trước từng thuật chuyện của cô cho tôi ghi lại, sau đó tôi hay cô đã giao cho ông Trần Tấn Quốc đăng trên báo TIẾNG CHUÔNG năm 1952, dưới bút hiệu Thanh Quyền, Thanh Huyền, khi hay tin nầy, tôi thôi ghi, và nay cách ba chục năm sau, trong khi sách báo cũ hiện ít ai tàng trữ, hai ông Trần Thiện Thành và Văn Sen, tôi không tin tức, riêng cố nhân Trần Tấn Quốc, tôi biết hiện dưỡng nhàn nơi quê nhà là Mộc Hoá, cũng vô phương, xuống tới đó mà xin phép, nếu ngày nào những gì tôi viết đây lọt dưới mắt xanh, tôi tưởng cố nhân cũng không làm khó cho tôi làm chi, vì biết đâu khi xuất bản tập nầy, tôi còn nào ở trên nầy mà tranh luận. Xin ba ông miễn nhớ, ngày nào tập nhỏ nầy chào đời, thì công trước tác ba ông chưa phải mất. Về đoạn nầy, tôi viết theo điệu narration văn kể chuyện, nói sao viết vậy, không đẽo gọt, không cốt ý làm văn.

Tiếp theo tập Bên lề sách cũ (en marge des vieux livres) tôi viết tập nầy “cho qua ngày tháng”, cũng là một cách tưởng niệm tác giả “Trước đèn xem chuyện Tây Minh” –

(Viết từ 9-6-1982 đến 24-8-1982, tức 18-4 nhuận đến 6-7 năm Nhâm tuất).

 Vân Đường Phủ

 

Vào khoảng 1915-1945 thời Pháp thuộc, ruộng miền Nam trúng mùa liên tiếp, trong xứ tiền bạc dồi dào, nhưng cái hoạ ngấm ngầm phát sanh từ đó, duy chưa hiện ra rõ rệt. Hoạ tôi nói đây là hoạ đất cát nhà cửa ruộng vườn của cải, phần lớn đều chuyển sang tay khác, không ai cầu không ai muốn nhưng không sao tránh được, và cũng không phải một sớm một chiều sanh ra.

Và ai cười ai bây giờ?

 Thằng bo bo giữ của cười thằng con hư phá sản, hay thằng phá sản không có gì để kê khai đăng ký, cười lại thằng giàu, không dám ăn không dám xài, mà nay tiền của bi tịch thu, thân bị đi cải tạo con trai chạy trốn, con gái thôi việc trau chuốt phấn son, cháu nội ngoại phải quét đường làm lao công, “tụi bây còn dại khờ hơn tao mấy lần, thà bán đất cầm nhà mà nay khỏi phải bận tâm khai báo, lại thêm được tiếng “tiến hoá sớm”, phe họ bần họ cố nông”. Ai dại hơn ai?

Tại sao khoảng ấy, 1915-1945, con sanh ra phần đông đều hư: trai hư theo trai, chuộng gái chơi bời có sắc hơn vợ nhà, cha mẹ cho đi ăn học phương xa, không lo trau giồi kinh sử, rủi thời cha mất, chỉ trông có tiền để cho gái, cầm cố bán mau bán lẹ, chê làm ruộng cực nhọc muỗi mòng, quen ăn sung mặc sướng sống ở thị thành xem hát, đi ăn cơm nhà hàng, nay xuống ruộng bùn đỉa, ai mà chịu thấu?

 Trong khi ấy, gái hư theo gái, có chút nhan sắc, chê lấy chồng quê là phí đời hưởng nhan, giữ chữ trinh chữ hạnh, suốt đời gánh nước mướn chai vai, thổi bếp nấu cơm đã mất đẹp vì khói xông xốn mắt, bửa củi chai tay, sao bì con A con B, xuống chợ làm nghề rước khách, đã khỏi nhọc nhằn, lại được lên xe xuống ngựa, v.v...
Nguyên do những cái hư hèn ấy, oan hay ưng, tôi đổ tội cho quan thầy thời 1915-1945 đó là quan cai trị Pháp bất tài. Họ qua đây chỉ lãnh lương cho cao, ở nhà chỗ rộng, trông mau mau đến tuổi về hưu, lùi về xứ thưởng thức đồng tiền thuộc địa biến thành hưu bổng, việc giáo hoá, tuyên truyền rùm beng, mấy ông quả có dạy chữ mới, dạy cách trí phổ thông, nhưng ấy là đào tạo mớ “bồi Tây” làm mọi cho mấy ông, còn phần đạo đức, vẫn chê Khổng Mạnh là lỗi thời và phổ biến văn minh Tây phương của mấy ông là dạy con nghịch ý cha, vợ tranh quyền với chồng. và nếu tranh cãi không lại thì đã có luật sư biện hộ giúp!

 Mấy ông có đào kinh phá rừng thật, nhưng luật “khẩn đất” viết tiếng Pháp và dịch ra quốc ngữ, chỉ người biết chữ học trò trưởng các ông hiểu được, còn bọn củi lục làm ăn, khai hoang biến rừng thành ruộng vẫn quê kịch dốt nát, tưởng có công mở mang làng xã sau nầy sẽ làm chủ đất, dè đâu ruộng khai phá xong vừa phát, thì đã có thằng dân chợ đến trưng đơn khẩn hợp pháp, bằng khoán hợp lệ làm chứng rồi phổng tay trên quịt ruộng của dân nghèo, không làng xã quan tỉnh nào binh vực cho một lời, một tiếng cho mát dạ kẻ ngay nhưng thất thế vì dốt luật.

 

Tôi tóm tắt lại đây, vấn đề khai hoang.

 Sau trận tranh giành Tây Sơn với nhà Nguyễn Phúc, miền Nam trải qua một thời loạn lạc không yên, dân thưa rừng rậm.

Người ngũ Quảng, người miền Đông, để tránh bắt lính làm xâu, nên kéo vô Nam, tìm rừng mà ở yên thân hơn. Vùng Sốc Trăng, Bạc Liêu đến năm 1860, còn quan Cơ-me cai trị, chưa thuộc bờ cõi cai trị của quan Việt.

Những dân tứ chiếng ấy, với cái tục tảo hôn, vả lại dân Việt có tiếng rất nhạy con, nên chẳng bao lâu miền Nam đổi ra mặt mới:

 Lấy một tỷ dụ, cứ cái đà mươi tám, đôi mươi là dựng vợ gả chồng đến trễ lắm là tuổi hai mươi lăm, đã có con đầu lòng, “làm cha thằng xích tử” dễ như chơi.

Tuổi năm mươi đã thành ông nội ông ngoại, tuổi bảy mươi làm nên cố, lối 90 lên ông sơ, và nhà xưng “ngũ đại đồng đường” đếm lại chưa tới trăm năm.

 Đông con mà con hư, nào có ích gì?

Chưa tới ba đời, nhà đổi chủ, của vườn sang tay khác, lỗi tại đâu?

 Nhà giàu chỉ lo sắm ruộng cho nhiều.

 Nhà nghèo mất ruộng, đêm khuya vợ chồng than thỉ với nhau, mấy con nghe được, oán tích nhiều đời, nên trai nghèo lo học và đọc nhiều sách mới, thành người cách mạng, gái thì nghĩ ra cách đục khoét tủ sắt nhà giàu bằng cách rủ rê con họ vào con đường ăn chơi đàn đúm, để bán ruộng cầm nhà, tung tiền cho gái, gái vãi tiền qua tay bác tài, chú bếp, khiến cơ đồ tư bản đổ sụp còn mau hơn trong giấc mộng huỳnh lương.

a) Bà V.A., như kể, còn sanh tiền, nay cư trú bên Pháp, xin miễn luận. Cỡ bà hoạt động là năm 1915, thì nay bà hơn tuổi tám mươi lăm. Xin bả thứ lỗi, chớ lớp bà còn quê, chỉ lấy Hạch, bị má ăn trên đầu, rồi bà trả thù cạo lại đầu khô hội đồng tỉnh nửa quê nửa chợ, cũng không chi đáng nói nhiều.

b) Cô Ba Trà, đã là vào thuở văn minh tân tiến, nhưng Trà ít học, chỉ có sắc mà còn thiếu nhiều điều kiện mới xứng hay chưa xứng danh từ “gái bao” (femme entretenue), nói cách khác chưa phải “điếm sang” và chỉ biết đập lột, khảo của, cô phát minh lối mới “lựa chồng” nhưng thiếu chữ “tình chung” và lọt vào tay ông toà, ông lục sự là mất danh thì có.

 Về công tử, tôi không nghe có công tử miền Đông vì Biên Hoà, Bà Rịa, Thủ Dầu Một vẫn là xứ rừng, núi, những đồn điền cao su sau nầy là của Pháp, nên công tử không mọc nơi đất đỏ, đất đen, đất xám nầy.

Ở Tiền Giang có Bạch công tử một người.

Còn lại bao nhiêu công tử vẫn ở Hậu Giang, đen đúa thì xưng “Hắc công tử”, đều là con chủ điền giàu, đứa ăn cắp lúa bồ bán để tiêu pha, đứa thì bò đi kiếm gái rồi xưng “cậu Tám bò”, đứa nữa cha chết cố ruộng cho xã tri, lấy tiền mua một lần chín mười xe hiệu Wihpep để được danh cậu, rồi thảy đều lui vào bóng tối chết vô danh hay chỉ danh “con hư phá của của mẹ cha”. Nhục nhã thì có chớ danh thơm chỗ nào?