Sách » Lịch Sử » Lịch sử Việt Nam » Sài Gòn tạp-pín-lù

Phần 3: Chương 20 - 28

20

Kế mọn đầu tay

Có một bữa kia ổng lấy từ bi-rô (bureau) một cái đây thép đem về đọc và cắt nghĩa cho tôi nghe, nói chiều ngày đó, có người bạn thiết làm quan hai ở Sài Gòn sẽ đưa vợ An Nam lên thăm ổng và dùng cơm tối ở nghỉ đêm qua sáng hôm sau mới về. Ông tưởng tôi chưa biết, chớ anh Tư bồi hồi nãy ổng sai lên biểu hỏi tôi tiền chợ, đã học với tôi hay hết rồi. Nên kế tôi đã sắp đặt an bài, mặc tình kiến cơ nhi tác.

Ổng đọc dây thép rồi khoe với tôi rằng người vợ ông quan hai là con nhà giàu có tử tế lắm, và căn dặn tôi nên kết làm chị em bạn. Tôi mới trách ổng:

 - Sê-ri (chéri) bậy bạ quá! Nói với ông hai rằng có vợ An Nam làm chi?

Ông trả lời:

- Không! Tôi chưa có nói. Chừng nào quan hai nó lại tôi mới nói. Nó thấy chị Hai xinh tốt nó mừng lắm chớ! Nó bằng lòng cho tôi lắm chớ!

Tôi năn nỉ, biểu ông cứ để cho tôi ở dưới bếp, săn sóc ba món đồ ăn như vậy tốt hơn là cho người ta biết tôi. Khi ấy ổng giận đỏ mặt (mới thấy ổng giận tôi lần thứ nhứt), trợn mắt hỏi:

- Làm sao không cho biết chị Hai? Làm sao tốt?

Tôi giả đò sợ và nói hơi thiệt thà rằng: “Đối với người Nam với nhau, khi không quen lớn với người ta thì khó chuyện vãn lắm” và một hai tôi đòi lánh mặt. Ông vừa nghe tới đó phát nghi, lấy ngón tay điểm mặt tôi mà rằng:

 - À, chị Hai không thương tôi, chị Hai nói láo, muốn vợ chồng quan hai nó cười tôi!
Thiệt tôi nghe một người Tây mà biết đặng lời nhân đạo mà nói với vợ như vậy, tôi bắt mũi lòng, nghẹn ngào rưng rưng nước mắt. Ông hiểu được trong thâm tâm tôi, lật đật lại gần vuốt ve dỗ ngọt tất tình, biểu tôi đừng buồn đừng sợ, có chuyện chi, tỏ thiệt cho ổng nghe. Tôi thỏ thẻ nói:

 - Đàn bà An Nam hay sánh của lắm. Nhứt là mấy cô vợ Tây: một năm chí tối, chỉ có so sánh đọ nhau từ vòng vàng chuỗi hột cà rá dây chuyền, xem ai là bực giàu bực sang hơn ai. Còn hạng hèn hèn cũng vẫn biếm nhau từ màu quần sắc áo, đâu tới hộp phấn ve dầu, họ nhún trề họ khinh bỉ nhau đến xích mích.

Lúc đó ổng để tôi ngồi trên bắp vế, tôi vuốt ve ông mấy sợi râu mép ngạnh trê, tôi vừa cười vừa hun môi vào má chàng mà nói nho nhỏ:

- Nè! Còn sê-ri biểu tôi làm quen làm lớn với người ta, mà tôi ăn mặc như vầy, sê-ri không sợ mắc cỡ sao?

Ông làm thinh gãi đầu, ngồi suy nghĩ một hồi, khi hiểu được vùng đứng dậy, lấy tay vỗ trán la lên một tiếng “bon” (tốt), rồi đi ngay xuống bếp nói giống gì với vợ chồng Tư bồi, tôi không biết. Tôi có chứng thức giấc trưa, ổng nghĩ, rồi nói với tôi:
- Thôi! Tôi nghe chị Hai, để quan hai nó lại, tôi nói láo chị Hai mắc về thăm nhà má má đau, ba bốn bữa nữa tôi dắt chị Hai đi Sài Gòn lại cái nhà của nó.

Khi vợ chồng quan hai lên chơi tối về, ông ở nhà tôi theo đưa cho tới Sài Gòn. Tôi hỏi Tư bồi, y nói ổng có dặn chiều mai thắng xe đến bến đò rước ổng. Nhớ vậy tôi thăm hơi biết chú chàng bận nầy trúng thuốc mê của tôi rồi. Quả thiệt chiều bữa sau ổng về, đồ đạc chất đầy một xe hai bánh: nào hộp lớn hộp nhỏ, nào hộp vắn hộp dài, đựng những là dù, khăn lục soạn, tố, nhiễu, hàng Cachemire, đều là thứ sang của tiệm Bom bay, Tây mà lựa đồ đàn bà dùng như vầy, giỏi quá, ổng lại mua cho tôi dầu, phấn, xà bông thơm, áo sơ mi kiểu đầm, giày thêu kim tuyến, guốc ngù ngà, quạt bỏ xách tay, vợ chồng Tư bồi khuân vô bày chật một bàn ăn. Còn ổng ngoài cửa bước vô, tội nghiệp dan nắng có một bữa mà mặt mày đỏ như tôm luộc, bộ mệt dừ mà khi thấy tôi, la lên: “Chị Hai ở đâu? Ở đâu chị Hai?”. tôi nghe gọi, lật đật chạy lại, ổng nắm tay mừng rỡ, hun tôi bên má bên nầy rồi bên kia, tuồng như vợ chồng xa cách nhau ba bốn năm trường chưa bằng. Ông choàng tay qua cổ tôi dắt tay tôi lại bàn, khoe đủ hết. Tôi ngó thoáng qua, liền ủ mặt. Ông mới hỏi:

- Chị Hai kiếm không thấy vàng, chị Hai buồn nhiều lắm hả?

Trời ơi! Ổng hỏi chơi chơi mà trúng thóc tim đen! Phải tôi không lẹ trí, thì lòi chành hư kế hết.

Đều dễ không “Người ta” sẵn mặt buồn, bèn làm giận luôn (chớ nghe giọng ổng nói, tôi biết chắc ba bó một giạ, rằng có vàng rồi). tôi vọt miệng nhiếc yêu:

 - Lu-y (Louis, tên ông kiểm), Lu-y nè! Mày làm phách lắm, mà biết không? Làm việc cực khổ gần trối chết, sắm một đống đồ như vậy đây, chưa đủ mặc hay sao? Còn làm phách muốn sắm vàng mắc tiền nữa?

Ông tôi cười lỏn lẻn, móc túi lấy ra ra bốn cái hộp giấy cái lớn cái nhỏ, đưa hết cho tôi mà rằng:

 - Lu-y làm phách lỡ rồi, chị Hai!

Ông dắt tôi lại kiếng mặt tủ áo, biểu tôi đeo vào mình hết cho ổng coi. Thiệt anh nầy ít khi cho, mà một lần cho thiệt là thích đáng! Không biết nhờ tay ai mua giúp mà biết lựa quá chừng? Nội đó hai sợi dây chuyền vàng Tây, một cái bông ghim cổ áo, hai tay chuỗi hột trút lượng, một đôi neo đặc, một chiếc dứa vàng và một chiếc vòng bằng đồng thoa, đều vừa ý tôi thảy thảy. Đeo vô rồi, ồng đứng dang ra xa, nhìn tôi mà cười một cách hân hoan thắm thiết. (Sau nầy tôi rõ lại, nội những đồ vi kiếng ông kiểm lâm sắm cho tôi đó, là tiền mồ hôi xót mắt ổng tiện căn ngót gần bốn năm trời!)

Cha chả là ác! Ác không chỗ nói! Thủng thẳng chị em cô bác xem lần tới lớp sau coi còn có ai nỡ dạ nào đoạn lìa cái một, cái gánh ân tình tuy Pháp-Nam nhưng thâm nặng làm vầy. Rõ là tôi không biết điều. Nhưng, thưa ông kiểm sê-ri, tôi xuống núi quyết báo thù, ai biểu ông tìm tôi cho mang khổ?

* * *

 

21

Đáo đầu trở về Sài Gòn

Ở Tây Ninh tôi có quen một ông thợ bạc, tên Tự, nhưng vì phạm huý ông vua Tự Đức, nên anh em đổi gọi Chữ, và bác Tư Chữ có người vợ thật khéo, làm nghề may, bác đột tay mà đều hơn đột máy và mấy hàng “chỉ rận” đột trên nhiễu xuyến đen, trông thật đều nhìn kiếm chỗ nào sơ sót kiếm không ra. Bác Tư Chữ gái vừa may cho tôi xong hai mớ áo với hàng ông kiểm mua hôm trước, chưa chi ông nhà tôi thúc hối cùng đi với ông xuống Sài Gòn trả lễ vợ chồng quan hai. Lúc đó tôi lại bịn rịn vì biết chim sổ lồng không trông mong trở lại, ngày thường soi kiếng, thấy bề nhan sắc như vầy quyết không thua ai, lúc còn con gái, tôi hơi gầy, nay xông pha trận mạc như tập thể thao, lại nở nang hơn xưa, hơi có da có thịt hơn trước một đôi chút, nhưng lằn cong nét thẳng như tô đậm thêm, còn cái đẹp tự nhiên là mắt liếc ngọt như dao, cạnh mũi luôn luôn như khóc vừa rồi, tôi không cần thoa dầu gió và chỉ cô đọng tinh thần là mi mắt có giọt luỵ gần rơi, giết anh hùng dễ ợt môi tôi luôn đỏ thắm, chắc da săn thịt, một hôm ông kiểm là Tây mà biết nói: “Tôi muốn ăn thịt chị Hai mới sướng!”. Tôi nghĩ nếu gặp dịp nầy mà không thừa thế tung hoành, thì biết đời thuở nào vẽ mày vẽ mặt với thế gian nầy cho đặng? Vậy tôi lén tom góp vàng bạc của cải từ hồi đụng thằng Tư trời đánh, với số tiền chia được của anh Tiều Châu, nay thêm được mó hàng giẻ vừa cắt xong, tôi nói với ổng sẵn dịp nầy cho tôi mang về Sài Gòn may thêm được khéo hơn. Cơ khổ! Thiệt tại cái bụng mình tẹo, tính chuyện gian hùng rồi tự nhiên nó bắt sợ phập phồng phải bày điều nói láo, chớ đời nào mà ông ở nhà tôi biết nghi kỵ cho tôi chuyện gì?

Xe đò tới đậu trước nhà dây thép chánh đối diện với nhà thờ nhà nước đầu đường Catinat, ông kiểm chưa vội đi nhà quan hai và tay xách va li, hai đứa lên xe kéo cho chạy thẳng lại khách sạn lớn của Pháp là nhà hàng Rotonde, ở mé sông đầu đường Catinat, sắp đặt cho ổng xong rồi, tôi mới xin ông cho tôi đem ba món đồ cho thợ nó may liền cho lợi thì giờ tôi lại dặn ổng tới bữa cơm trưa thì cứ dùng đi đừng chờ tôi vì còn ghé thăm chị em bạn, chắc sao người ta cũng cầm ở lại và có lẽ chứng ba bốn giờ, trễ lắm là năm giờ tôi mới gặp lại ổng được. Tội nghiệp quá! Nghe tôi nói mướn thợ may, ổng lật đật móc bốp-phơi rút ra một tờ giấy xăng (một trăm), biểu trả tiền thợ, còn dư bao nhiêu hãy bỏ túi để xài vặt. tôi hun ổng vào hai má, không dám nói là lần chót, ổng lại căn dặn xứ Sài Gòn nắng nôi độc địa, chị Hai phải đi xe kéo hoài hoài, chị Hai đừng hà tiện đi bộ, đau, không nên. Nói cho có hai bên vai vác, thấy cái tính ông Tây nầy ở với tôi như vậy, tôi muốn biểu quay xe trở lại, không may vá làm gì và cũng không tính chuyện phong trần làm chi, nhưng mà còn nỗi đời nham hiểm mị thường nó đày nó đoạ cái thân tôi từ trong trắng nhận xuống sình nhơ mới mượn tay ai mà rửa mối thù hằn nầy cho thoả dạ được. Ông ở với tôi rất tốt, tôi ghi vào lòng. Ông giữ đạo Thiên Chúa, ông không tin luật luân hồi, tôi theo đạo Phật, kiếp nầy gây nợ, nếu kiếp sau còn gặp, tôi sẽ báo đáp tận tình. Nghĩ tới đây, bị cái xe khi không vùng ngửng lại, tôi giựt mình nhìn kỹ mới hay gặp cổng xe lửa Mỹ Tho, tôi ngồi trên xe đợi cho chuyến xe Mỹ Tho qua kế có xe điện trong Chợ Lớn vừa ra, tôi trực nhớ ông thầy tưởng số Vi Kỉnh Trang mà lúc nhỏ mình đã từng nghe nói việc tương lai của mình hay quá, nay ngụ ý, tôi biểu xe ghé ga, tôi mua kịp vé vô Chợ Lớn tốn có một cắc bạc, ngồi toa hạng nhứt, xe ngừng đầu đường Jaccaréo (nay là Tản Đà), tìm được gác ông Vi, trên lầu căn phố toán mì chiên tôm ngon nhứt đất nầy, ý cái ông thầy tướng nầy, thật là danh bất hư truyền, làm sao mà ổng coi sơ tướng vóc rồi nói trúng phong phóc trúng bon việc cũ in như chuyện ổng thấy trước mắt, mấy việc qua ổng thuật không sai một nét, làm cho mình thêm vững tin, hỏi phăng về hậu nhựt. Ông thầy tưởng ngó tôi vừa thở ra mà rằng:

- Kiếp đời cô đây là kiếp đoạn trưởng, nay chưa dừng chơn lại được”. Ông tiếp: “Cái tướng, cái tuổi, cái số của cộ, đương còn bay nhảy lắm, trụ lại chưa được. Nếu cô lấy chồng, chồng có bao nhiêu của, cực cô phải chịu cùng cực. Còn cô mà ra đi chơi bời, thì khỏi sợ thua sút ai, sung sướng nhứt trên đời. Bước qua cái tháng tám lại có tài lợi. Tiền của đến như không.

Tôi nghe ổng nói thích quá, tặng ổng năm đồng, nhưng ông chỉ nhận năm cắc bạc như mọi người. Ngồi xe ra về, tôi suy nghĩ hoài, chồng tôi ăn ở có nghĩa có tình đủ điều, đáng thương đáng mến là phải. Song số mình còn lưu lạc, chưa trụ được, và không phép dám cải trời hay sao? Ấy, sự bói toán lợi hại là vậy.

Tôi đâu dám đổ thừa tại cụ Vi mà tôi bỏ chồng, song phần đông các bốc sư không phải hết thảy đều đoán giỏi như Vi Kỉnh Trang hoặc sau nầy là thầy Tư Nên, nhưng các cha kéo dài câu chuyện, chuyện không nói có chuyện có nói không, việc đi coi bói và đàn bà đinh ninh phải thay chồng, lỗi phần nào cũng tại mấy thằng thầy bày điều đặt chuyện. Tôi với Lu-y, đến đây, mối tình đã đoạn, thì a-dơ (adieu) và ông đừng kiếm tôi, thất công. Xưa ông cha ông qua đây làm cho ông cha chúng tôi nước mất nhà tan, nay ông khóe một lần cho biết.

Từ đó tôi an phận sống ẩn dật, tôi ra vô Chợ Lớn thường thường, cũng hay gặp lại những người quen lớn với tôi hồi trước, mà không có ai nhìn ra hết. Tưởng tôi đã thay đổi, không còn vẻ nai tơ hồi đó.

Có một bữa nọ, vào chiều thứ bảy, tôi ở Chợ lớn về, cắc cớ đi xe lửa điện mé sông để đổi không khí, tới Chợ Quán, thình lình tôi đụng đầu với cô chủ sự năm xưa, con mẹ đã làm cho tôi hư hồi đó đó. Cô ngồi đối diện tôi trên xe điện, xe lắc lư như thầy pháp lên đồng, mụ chủ sự nhìn tôi liền nhắm tôi tứ cách ăn mặc và cử chỉ, rồi bỗng xề qua bên tôi vì chỗ ấy băng còn trống. Mụ làm quen, mời tôi hút thuốc, và bắt qua chuyện chồng con, gia thế hỏi thăm.

Tôi đáp tỉnh bơ dường như tâm sự cùng một bạn lâu năm chợt gặp:

 - Chồng tôi là người Ăng-lê, làm chủ hãng tàu chạy đường Hương Cảng, vừa rồi bị đau ruột nặng, quan thầy bắt buộc phải về xứ điều trị, mới đi hôm kỳ tàu đầu tháng giao hết sự nghiệp tại Sài Gòn cho tôi quản thủ, và tiền mặt không có bao nhiêu, độ mươi, mười lăm ngàn đủ xây xài, vả tôi lo quá vì sợ chồng tôi không qua được nữa.
Cô chủ sự nghe nói chuyện muốn bạc vạn, coi bộ thích lắm, ân cần ra mặt, vừa mau mắn vừa niềm nở đủ điều. Xe điện tới chợ Bến Thành, cổ một hai mời tôi thế nào cũng phải vô nhà cổ chơi một chuyến.

Nhà cổ ở xóm Tân Định, đường Monceaux trải đá đỏ (trước đây mang tên đường Huỳnh Tịnh Của), ở độc thân mà mướn đến hai căn phố có vẻ kín đáo lắm và chưng dọn thật là sang trọng sạch sẽ. Vừa vô cố hối trẻ dọn đãi tôi một bữa cơm trưa, long trọng hơn đám giỗ trong làng. Tôi từ chối, rằng đã dùng bữa trưa ở nhà rồi mới đi đây, nhưng cổ không nghe, nài ép: “Chị em tuy môi quen biết chưa được mấy ngày, song nó hạp nhãn làm sao tôi không biết, mà tôi thấy cô tôi thương tất tình”. Thấy cổ ép quá tôi mới chịu cầm đũa ăn sơ sài, trong bữa cơm cô thổ lộ tâm tình rằng cổ cũng ở một mình đơn chiếc như tôi, chồng là chủ sự đoan, tới kỳ nghỉ nên xuống tàu về Pháp đã gần hai tháng rưỡi nay, nhờ ky cóp tiện căn, giấu đút cũng đặng trót ngàn đồng, mà đất Sài Gòn củi cao gạo kém, định ở vầy cho tiền mướn đắp đỗi qua tháng ngày, miễn cơm tẻ ngày hai, đất nước ông bà cho mạnh giỏi là hơn, chớ không trông mong gì khác!” Mẹ ôi! Tôi nghe mụ chủ sự bán máu ăn tiền nầy nói chuyện hiền từ đạo đức mà tôi lạnh xương sống: Cơm nước xong, tôi bước ra ngoài ngắm cảnh.

Tôi ước với cô chủ sự, chớ chi xóm nầy có nhà ai cất sẵn và muốn bán, bao nhiêu tôi cũng mua, đặng chị em gần gũi nhau hôm sớm. Cô chủ sự liền nói: “Tưởng là cô ao ước chuyện gì khó, chớ việc nầy, dễ như chơi. Để lát nữa, cô đi chơi với tôi, chị em mình sẽ tính”.

* * *

 

22

Gặp người hào hiệp khí khái

Cổ hối trẻ chạy lại trước nhà hát Tây, kêu một cái xe song mã, bánh cao su, có đèn khí đá, nếu gặp xe của Sáu Thiệt thì càng tốt vì anh xe nầy biết điều, chạy xe giờ không tính giá mắc lại thạo đường xá hơn ai. Cổ và tôi trang điểm rồi lên xe đi dạo phố một vòng. Cổ biểu xà-ích (sais) đánh xe lại đường Blaucsubé gần đây còn mang tên Garcerie, rồi Duy Tân, ngừng lại rồi chỉ một cái nhà bánh ếch có sân rộng hỏi tôi “được hay không”. Tôi xuống xe lại gần đứng ngoài hàng rào dòm vào, tôi khen “nhà nầy, thiệt là phải thế!”. Cổ biểu tôi đánh giá coi đáng mấy. Tôi nói chừng bốn ngàn trở lại, thì nên mua. Miệng nói bốn ngàn, chớ cô bác biết trong lưng tôi, hoạ là bán luôn tôi đây mới đủ số tiền nầy! Cô chủ sự nghe tôi đánh giá, vừa cười vừa vỗ vai khen: “Má nó có con mắt tinh đời, vừa rành vừa thạo hơn ai. Thôi! Lên xe rồi chị em mình sẽ nói chuyện”.

Cô chủ sự biểu quay đầu xe trở lại, rồi nói với tôi rằng: “Tôi muốn nói má nó một điều, bằng lòng cùng không, xin cứ thiệt tình cho tôi rõ”. Tôi trả lời: “Cô đáng tuổi làm chị tôi, có việc chi sai biểu, cứ nói đại, việc chi mà ngại”. Cổ bèn tỏ ý muốn kết làm chị em sanh tư chi giao với tôi, dặn tôi từ hậu đừng gọi cổ bằng cô, hễ đáng chị thì gọi chị cho thêm thân”. Tôi chịu, vì nghĩ mình còn cô thế, phải kiếm sao cho có nha trảo vi kiềng càng đông càng hay, như vậy mới có thể dọc ngang tung hoành trên cái đất đầy chông gai Sài Gòn - Chợ Lớn nầy đặng.

Xe chạy gần tới cầu Bông, gió mát từ rạch Thị Nghè thổi tới, chỉ biểu ngừng xe một lần nữa, và kiếm chỗ đậu xe nơi lề đường xe điện, bên hông chùa Ngọc Hoàng. Tôi lật đật hỏi.: “Ghé nhà ai đó chị?”. Cô chủ sự nghe tôi kêu chị, coi bộ khoái lắm, nhe răng cười lòi mấy cái răng bịt vàng, trông còn duyên đến, chỉ kề tai nói đủ nghe: “Ghé bợm đa tình họ Bùi, con cháu Bùi Kiệm trong Lục Vân Tiên, chàng ta tên Phát, chị phải khoe người em mới của chị đây cho chú chàng biết mặt!”. Tôi vừa xuống xe vừa hỏi tiếp: “Mông-xừ là chủ cái nhà hồi nãy đó hả? Mà chức phận của va là gì đó chị?”. Chỉ nói: “Hội đồng! Ông hội đồng thành phố, Mông-xừ hội đồng Phát, mà cũng là chủ cái nhà em coi lúc nãy đó đa!”.

Thầy hội thấy chị em tôi bước vô, chạy ra mừng rỡ rước vào sa-lông, coi bộ mau mắn lịch duyệt, rành người, có thể thống, người don don không mập không ốm, miệng ngậm xì-gà, duy cứ tiếng Tây trâm trết. Vừa tới cửa, tôi thấy thầy nắm tay chị chủ, chào: “Bủa-sua cô chủ sự. Xà-hoa-dẻn, ma-đầm”, Tôi vụt né, may thời chị chủ láy mắt, tôi hội ý kịp, bèn đưa tay: “Bủa-sua ông hội đồng!”. Chủ nhà nghe tôi gọi trúng danh vị của mình, nhoẻn miệng cười duyên, siết tay tôi thật mạnh, rồi dắt tay nhau vào nhà. Khách đàn bà mà ông ta đãi rượu sâm banh khui nguyên chai và thuốc thơm hiệu con mèo “Caraven A” sang trọng. Rót rượu xong, thầy hội đồng vừa bưng ly cụng với chị chủ một cách rất lịch sự thân mật. Tôi cũng bưng ly của tôi, ra dấu rồi ngừng lại mở đầu câu chuyện, sau khi ngồi lại đàng hoàng theo ngôi chủ khách: “Bẩm ông, tôi nghe chị chủ sự tôi khoe ông là tiểu Mạnh Thường đất nầy, đã giàu có sang trọng, mà tánh tình lại quảng đại hào hiệp hơn ai. Chị chủ đưa tôi đến đây, trước cho tạn mặt người danh giá, sau cũng có một việc sở cậy ông như đặng thì ơn ấy tôi nguyền tạc dạ”. Tôi vựa nói đến đó vừa liếc mắt đưa tình.

Thầy hội đồng vụt cười dòn, ép tôi cụng ly uống cản, rồi ông vuốt vuốt chót râu trái ấu, hứa trừ lấy gan ông trời còn ngoài ra chuyện chi ông cũng sẵn lòng giúp tôi đặng cả. Chị chủ tiếp lời buộc thêm:

- Em đừng lo, em chưa biết ông hội, chớ hễ ổng hứa với em một tiếng thì như rựa chém đất. Mà điều nói chơi, chớ ong, ủa anh hội, đứng chém chị em tôi, nghen anh!
Ba chúng tôi cười xoà, chị chủ thắng thế buộc thêm một câu nữa:
- Huống chi em đàn bà mới quen biết anh đây, lẽ nào ảnh đi nói trửng cho mất thể diện với em sao?

Rồi day lại thầy hội đồng, chị chủ nói cho một hơi:

- Thưa anh hội, em tôi đây, chồng vừa về dưỡng bịnh bên xứ Ăng-lê, nên ở đây một mình buồn, một hai cũng đòi trở lại quê nhà dưới Mỹ Tho, tôi cầm cản thiếu điều hụt hơi, cô ta mới chịu ừ ở lại, tuy vậy mà đòi cất nhà mới ở sao cho gần gũi cùng xóm với tôi cô ta mới chịu. Tôi nhắm nội đây duy có cái nhà của anh ở đường Garcerci đó là phải thế hơn cả, và khỏi cất mới. Xin lỗi anh, hồi nãy sẵn xe tôi tọc mạch đã dắt và chỉ cái nhà cho em tôi đây, nó bằng lòng lắm, vậy anh bỏ trống chưa dùng, nó thì ưng bụng rồi, vậy không dám nào anh làm ơn để cái nhà ấy cho em tôi ở, rồi sớm tối chi, anh có đi đâu rồi rảnh, ghé tạt vào đó chơi chẳng là thú vị lắm sao?

Thầy hội đồng gãi đầu gãi tai, liếc liếc tôi rồi chắc lưỡi trả lời gượng gạo:
- Thiệt khó cho tôi quá! Không mấy thuở cô đây cậy tôi một chuyện mà việc không thành thì cũng khó coi quá! Chẳng phải tôi không muốn để cái nhà đó lại cho “madame”, tôi thì sẵn lòng lắm, ngặt một nỗi tôi mới mời lỡ cậu tôi ở dưới ruộng Ât Êc (Trà Vinh), tháng tới nầy lên dưỡng bịnh uống thuốc đồ đạc chi chi tôi đã sắm đủ, ước chừng kể về nhà về đó từ khí, tính ra trên bốn ngàn rưỡi bạc. À mà thôi! Việc đó để thủng thẳng tôi tính lại coi Tôi sẽ kiếm một cái nhà khác cho cậu tôi cũng được. Duy xin cô madame, đừng quên...

Chị chủ sự ngồi òn ỷ, nói hơn nói thua với cậu ta, trong khi ấy tôi giả đò bước trái ra hàng ba, gọi xà-ích đem giùm vô hai cái khăn tua, thừa dịp ngoắt chỉ ra nói nhỏ vậy vậy. Chỉ trở vô nói:

- Thưa anh mà ông Phát ơi? Bữa nay sẵn dịp cô hội đồng đi khỏi, chị em tôi mời anh đi xem hát nơi rạp Eden ở Catinat chơi, được không?

Thầy hội đồng háy chỉ mà rằng:

 - Cô cứ khéo giả ngộ với moa hoài. Ước chừng có ma-pham ở nhà, moa cũng măng-phú,

muốn đi đâu thì đi chớ. Mặt nầy lại sợ vợ à?

Nói rồi, thầy trở vô buồng, sửa soạn, rửa mặt cho thêm chút phấn và nước hoa (đàn ông mà giồi phấn) rồi theo chị em tôi ra xe, chị chủ sự ngồi mé tay trái, để thầy hội đồng ngồi giữa, tôi ngồi sát bên bên mặt và ép khít tay giữa một hoa hồng mãn khai nhưng chưa tàn và một đoá trà mi đang thời xuân sắc.

* * *

 

23

Nhà ai sắm sẵn

Xe tới đường Catinat, đậu lại ngang nhà hàng Continental, chị chủ sự mở bốp-phơi hơi chậm, thầy hội đồng khoát tay giành trả tiền xe song mã, rồi giành mua một cái lôsờ (loge) ba chỗ ngồi thượng hạng. Trong lúc quây phím hát, đèn tắt, thầy hội đồng ngồi trên ghế kế bên tôi in tuồng ngồi trên than lửa đỏ. Tay chưn bộ tịch thầy làm làm sao, không lẽ tôi nói ra đây cho đặng... Chừng vãn lớp đầu, thầy mời chị em tôi bước qua Đại lục khách sạn (hôtel Continental, lúc đó chỉ tiếp khách Tây và người An nam - phải ăn vận thật sang mới cho vào cửa). Chị chủ sự vui miệng, đặt buổi rượu nầy là tiệc “bình thuỷ tương phùng” và buộc phải có sâm banh mới đáng. Thầy hội gọi bồi khui một chai Mum đắt tiền nhất, khi cụng ly thầy ước với tôi rằng:

 - Chỗ nầy đông người, không lẽ, chớ chi tôi vôi cô cùng uống chung một ly mới toại nguyền
Tôi đáp lại:

 - Như ai kia, không dám nói, chớ đặng người đứng đợt như ông, mà cố cập đến phận linh đinh như chiếc lá giữa dòng nầy, thì dầu ông không nói, chớ tôi cũng lo đền ơn nghĩa trả. Ngặt một điều là tôi nay nhà cửa chưa yên, biết có gần gũi ông được nhiều ngày hay chăng.

 Chị chủ sự tiếp lời:

 - Có phải bao nhiêu mối tệ, một mình anh ôm hết đó phải không? Em tôi đây đã tất tình nài anh một cái nhà, mà sao tôi coi ý anh còn phân phân bất nhứt! Nè, anh hội đồng, cho tôi hỏi thứ chơi và đừng giận, nghen! Xưa nay nghe tiếng anh xử thế tề gia không sai chạy, mà chuyến nầy, tôi coi bộ anh hết dám tự chuyên. Hay là anh còn sợ chị ở nhà nghi kỵ?

Ông Phát có hơi mất cỡ, nói đỡ rằng:

 - Em chủ sự, biết qua thuở nay lắm chớ? Kìa, chuông reo, hãy mau qua xem hát tiếp rồi về nhà sẽ nói chuyện.

Thầy hội lấy khăn choàng lên vai tôi mà nói nhỏ: “Cô chủ sự cổ nói yêu cổ đa! Madame hãy nhớ cho tôi câu: “Đại trượng phu tiên trị kỳ gia” đó mà?

 Vãn hát, bị mắc mưa. May thời kiếm được một cái, xe kiếng hai ngựa. Thầy hội đồng ga-lăng (galant, thói nịnh đầm), nhường băng sau cho chị chủ sự ngồi, còn tôi và ông Phát, ngồi băng trước.

Trời mưa càng già, gió tạt tứ phía, nên kéo cửa kiếng bít bùng.

Tôi bấy lâu rừng núi đã trải, voi cọp đều thấy, nào biết sợ giống gì, thế mà hôm nay phải run rẩy rởn ốc với thằng cha nầy, để cho thầy mặc tình trổ mặt yên hùng, còn tôi hết sức đỡ bên nầy thì che bên kia mà cũng không khỏi. Nhưng cái thân đã từng quen với hạch, gặp bầy sẻ sẻ xá chi! Xe đưa đến nhà chị chủ sự, vô nhà, tôi xin lỗi thầy hội đồng cho tôi thay áo trước mặt, còn mặc một cái áo trong nhà thật mỏng, ngồi tiếp chuyện. Chị chủ sự, theo phận chủ nhà, lăng xăng lo đãi đằng gà vịt rượu trà. Chừng ba bốn tuần “mai quế lộ” (mai té lộ) điều khiển anh hội đồng ta gần cúp, chỉ đem ra một tô giấy tín chỉ(1), dở chuyện cái nhà ra nói, xin thầy hạ bút làm tin. Tuy đã tuý luý nhừ tử, mà thầy hội đồng còn đủ trí khôn, hỏi móc họng chị chủ sự:

 - Ý! Cái cô! Giấy tờ đâu mà sẵn làm vầy? Lại mua bán gì mà nửa đêm nửa hôm như vầy?

 Tôi vội nói nửa pha lửng nửa thiệt:

- Bộ khi ông hội đồng ổng sợ nửa đêm tôi không có sẵn mấy ngàn đồng bạc chồng ra cho ổng chớ gì?

Thầy liếc tôi:

 - Cô Hai khéo nói mát nói mỏ thì thôi! Giá gì mấy ngàn đồng bạc mà người như tôi lại coi trọng hơn cô hay sao. Thôi! Được! Như cô đòi “giấy trắng mực đen” cho chắc, thì “giấy trắng mực đen” cho rồi!

Thầy vừa cầm viết, tôi lai cản, giả đò đi mở tủ, nói:

 - Tôi mới lấy dưới ngân hàng một ngàn đồng để xài mấy bữa, nay còn bảy tám trăm đây. Vậy tôi chồng đỡ cho ông bấy nhiêu ấy, rồi ngày mai, giờ nào ông nhứt định, tôi xuống lấy thêm chồng cho đủ số, đặng không?

 Ông Phát vừa cười vừa chụp tay tôi kéo lại mà rằng:

 - Người ra biểu ngồi đây chơi! Bữa nào ghé nhà sẽ “lấy” hết một lần cũng đặng mà, phải không, em cô chủ sự? Ngon với nhau mà?

 Tôi hứ một tiếng đồng tình ngọt xớt, vừa xít lại gần xoa yêu chót mũi thầy bèn lau lau cây viết, tỏ ra mình là tay hay chữ, rồi ký tên vào tờ bán, xong rồi trao hết cho tôi. Kế nghe đồng hồ gõ một giờ, thầy làm bảnh, than mệt xin kiếu về ngủ. Tôi lên xe kéo ngồi chung đưa thầy tôi cửa, thầy cho hay vợ đi vắng, mời tôi vào nhà cho thầy hỏi thăm chuyện riêng. Tôi cười duyên, lấy tay rở trán thầy mà rằng:

 - Đi đâu mà vội, không mất đâu mà sợ. Để bữa khác, hôm nay anh uống rượu nhiều, không nên. Thôi, anh vô nghỉ đi, chẳng thiếu chi ngày!

Tôi với hun theo kiểu thằng Lu-y, lấy môi ép vào môi thầy, hôi rượu nồng nực.
Tôi trông rảnh rang đặng cười cái khật của đời cho đã, kẻo hồi giờ nó bắt nôn trong ruột. Tôi lấy hai trăm đồng bạc đền ơn chị chủ sự, nhưng chỉ làm mặt giận, lại rầy tôi sao còn khách sáo, chỉ không chịu lấy, rằng chị em nương dựa nhau mà ở đời, khi vầy khi khác, chớ đi tính từ chút công như vậy mà coi được hay sao.

Thấy chỉ biết điều, tôi cũng bớt giận phần nào, và từ ấy tôi cũng có lòng mến chỉ.
Tôi dọn nhà vừa xong, sắp đặt đâu đó vừa vừa con mắt, thì thầy hội đồng đã mon men đến cửa. Thời may, vào lúc chị chủ sự vừa đến chơi, chỉ chận đầu ông hảo ngọt ta rằng:

- Coi kìa? Anh hội đồng lóng nầy bộ túng rồi sao, mà lại đòi tiền gấp dữ vậy?

 Ông hội đồng Pháp có tánh se sua, thường khoe mình giàu có và ăn ở rộng rãi nay bị chận họng hỏi nhằm chỗ tức, ông ta giận, trả lời thiếu một điều gây lộn với chị chủ sự:

 - Cô thiệt khi tôi quá! Bạc muôn kia, còn chửa thấy gì, sá chi thứ năm ba ngàn, mà tôi đây túng sao? Bữa nay cô Hai chưa trả thì mai, mai chưa trả thì mốt, để tới bữa nào, lại không đặng. Tôi đến đây, cố ý coi cô Hai dọn nhà xong chưa và đồ đạc tôi sắm như vậy đủ dùng cùng không, chớ tôi đây có con mắt, biết coi người mà, hỡi cô chủ sự?

 Chị này thừa dịp nói liền:

Anh đến chị em tôi dọn nhà còn thiếu món chi đặng anh cho thêm phải không? Nè! Chỗ này còn thiếu một tấm gương soi mài cạnh, anh xuống chợ cũ, mua một tấm kiếng một thước bề ngang về treo bên vách gần bộ ngựa gỗ đó thì là tuyệt đẹp. Bữa nào anh có xu nhiều, anh mua gọi là lễ tân gia tặng em út.

Ông Pháp đổ quạu vì lời nói xóc óc, đứng phắt dậy tay móc bóp phơ, miệng nói:
- Còn đợi bữa nào, vậy chớ bữa nay không có xu hay sao? Nè!

Đó rồi thầy rút ra ba bốn tấm giấy xăng, thêm một mở giấy “mỡ gà” (giấy năm đồng đời Pháp), bỏ vãi trên bàn. Chị chủ sự cười ngắc nga ngắc nghẽo, rồi sửa nghiêm nét mặt chắp tay xá xá mà rằng:

 - Coi! Nói có bao nhiêu ấy, mà anh giận tôi cho đành sao anh Phát! Tôi chọc tức anh chơi, để thử xem chữ “nhẫn” của anh có tới bực nào chớ nội cái đất Sài Gòn luôn và Chợ Lớn nữa, ai lại chẳng biết danh hội đồng Phát, trước kia là thơ ký Nam kỳ soái phủ, ăn chơi đúng mực, thạo đờn, thiện nghệ cây kìm và gái nào lại không mê anh về cái ngón bốc rời không tiếc. Đáng mặt con trai ông Hàm Ninh, Sa Đéc, tuy không phải công tử mà ăn xài công tử dẫu cậu Ba ở Bạc Liêu nào bì!

Chị chủ sự thổi ngay chỗ ngứa, ông hội đồng hết giận, thấm ý cả ba cười xoà, chị chủ sự không chịu thua, giã lã:

 - Anh à! Tôi cũng hiểu ý anh đến đây coi em tôi nó muốn xin món gì thì anh cho. Thôi! Bây giờ em hãy sửa soạn lẹ lẹ, rồi chị em mình đi hóng mát với anh hội, luôn địp đi lựa tấm kiếng Chợ Cũ hay là kiếng nhà hàng Courtinat mới sướng cho nè?

Mỗi mỗi đều bị chị chủ sự tước tước, làm cho ông hội đồng hết phương chối từ sẵn xe Sáu Thiện còn đậu trước cửa, chị em tôi bắt quách ông ta theo ra tận đường Catinat, lựa tại hãng Courti nạt một tấm kiếng mài cạnh lộng khuôn bằng thuỷ tinh. Ông hội đồng trả đủ một trăm mười hai đồng. Tôi biên số nhà cho hãng sai người giao hàng tại chỗ, còn bọn tôi đánh một vòng vô Chợ Lớn xực mì chiên tôm đường Zaccaréo rồi mới về. Ghé nhà mới của tôi, chị em mời thầy ở lại xơi cơm và đánh tứ sắc ăn hun. Ông Phát nói:

- Bạc-đông (pardon) để bữa khác, bữa nay cho moa kiếu vì ma-pham đi góp lúa vừa về. Moa phải về lo việc tính sổ, coi ai thiếu ai đủ. Chơi vẫn chơi, mà làm cũng phải làm, mới có tiền nuôi em út chớ!

 Thầy nắm tay chúng tôi, giặc giặc mấy cái rồi lên xe ra về, tốn hết nội cuộc luôn tấm kiếng, ngót một trăm rưỡi đồng bạc.

Chú thích

 (1) Giấy tín chỉ: đời Pháp thuộc, sở trước bạ có bán sẵn đủ loại giấy có đóng mộc trước, dùng viết giấy tờ mua bán điền sẵn, giấy này vừa bền lại vừa bảo đảm

* * *

 

24

Suýt chết hụt trong một trận ghen

Thầy hội đồng về rồi, chị em tôi bàn soạn, tính phải lo mau đoạn phút mối tình nầy, nhắm để dây dưa lâu ngày e sanh chuyện không hay.

 Sẵn tại nhà chị chủ sự, có nuôi một mụ tay sai sồn sồn, có tánh ham uống rượu thửa rượu cắp, lại có tật thèo lẻo nhứt hạng, đời đó chưa có radio mà mụ ấy đúng là một cái máy truyền tin sống. Một ngày chí tối không làm gì hết, chỉ trông cho ai sai vặt, mượn mua giống gì đặng có ăn xởi ăn bớt, ăn tước trên đầu người ta mới chịu. Từ hôm mụ ta thấy anh hội đồng lân la nhà tôi, mụ lén dòm hành mọi cách chớ cho có dịp kiếm chuyện đâm thọc lập công. Tôi thầm nghĩ: nếu chọc tức mụ nầy làm sao mụ cũng oán, rồi thèo lẻo lại với cô hội đồng thì tức nhiên kế tôi ắt thành. Bữa nọ tôi rình và bắt đặng tại trận mụ Ba Hợi đang có làm tàn lén mở nút chai dầu “Ý muốn của đàn bà” (Ce que femme veut) của tôi ra mà hửi hít. Tôi miệng chửi tay vả cho một hồi, chị ta lầm lì bỏ đi ngoe nguẩy. Tôi sai trẻ theo dõi xem có phải mụ chằn tinh giả ấy đi lại nhà thầy hội hay không. Trẻ về học lại quả y như lời tôi độ, không sai một mảy. Tôi liền cụ bị giấy tờ sẵn hết, rồi lánh mặt bước trái qua nhà chị Hai bán nem nướng bò bún, chờ nghe tin tức.

Cô hội đồng Ph, hay tin tôi dọn về ở nhà bánh ếch đường Garcerie của chồng, nổi cơn ghen đùng đùng, dẫn bổn bộ binh mã gồm một bồi trai và hai con hầu gái, hăm hở tìm tôi để phân thây tranh giành xích mích thì cơ đồ tan rã sụp đổ hết còn gì. Bởi khéo xử cho nên cậu nào cậu nấy đều sẵn lòng chịu khó chịu nhọc, toan lập công để mua chuộc lòng tôi. Lần lần một người khen một tiếng mà tiếng đồn đi khắp lục tỉnh, mấy tay cự phú đều có ghé nhà, mỗi khi họ lên dây, hoặc đi hầu kiện, bán lúa, hoặc đưa con lên học trường lớn, vay hỏi bạc chà, hay lên mua sắm đám cưới đám ăn khai bằng, vân vân. Vả lại nhớ quen lớn nhiều, nên sanh ra nghề mới, các tiệm buôn hãng lớn nào trữ bán vật chi, tôi đều thông thạo, và biết rõ món nào chỗ nào xấu tốt, tôi hoá ra có cái nghề nay gọi là mại bản, mà lúc đó gọi theo Tàu là má chính hay mái chính gì gì đó. Rồi nghề dạy nghề, lần hồi các tay thiện nghệ về mua bán lúa gạo, mấy nhà thầu, tài công nhà máy, họ đua nhau dạy tôi, chỉ mánh lời, thế thần mua đi bán lại làm sao cho có lời nhiều. Nhiều khi tôi lãnh mua đồ giùm, một đám mà ăn lời hai phía lãnh bán một ghe lúa, thạnh có bạc trăm, mà chủ ghe lúa lên nhà tôi chơi, phải lễ mễ, tính chuyện ơn nghĩa, lại còn bài bạc cho tôi lấy tiền xâu là khác. Ai hỏi qua việc kiện thưa, tôi phải đóng vai cố vấn, chỉ luật sư nào giỏi việc hộ, việc hình, ông nào miệng lưỡi lanh lợi, thầy thông ngôn nào có tài thông dịch trôi chảy, quan toà mau hiểu và xử án không lầm, thầy nào đem đàng dắt mối rành, thảy thảy tôi đều quen biết. Gẫm lại mình là đàn bà, nếu biết nhỏ nhẹ, khéo trong lời ăn tiếng nói, muốn cậy mượn chuyện chi, đàn ông nào lại không sẵn lòng vừa giúp? Nhiều khi tôi lãnh bướng quá nhiều công chuyện mần (làm) không hết, thế mà tôi chỉ viết thơ cậy ông nầy thầy nọ, họ xởi lời giùm tôi mà việc cũng xong, lại được gãy gọn, công thì của ai không biết mà tiền thì tôi bỏ túi không sót một đồng, thiệt là sướng quá!

Những lúc tôi chạy bận như vậy, thì ở nhà đã có chị chủ sự coi sóc, lớp lấy xâu mấy sòng bài cào, tứ sắc, xì phè hay thín cẩu (thiên cữu). Tay nào chắc chắn mà hụt vốn thì chi ra bạc cho họ ngồi sòng, như may ăn, thì chỉ vuốt lời có bạc chục, rủi thua thì họ là giới giang hồ mã thượng, nào ai chạy chối đi đâu? Tuy lúc hỏi mượn, không giấy không tờ mà còn chắc hơn có trước bạ hay có cầu chứng nơi toà? Vả lại cái miệng của chỉ đó có vừa với gì, ai lại không ghê không sợ cái miệng ấy! Nơi nhà tôi, chỉ còn kiêng dè, chớ với bạn hỏi chỉ tiền ngày tiền tuần tiền tháng, thì ối thôi! Một ngày chí tối, chỉ ra rả không biết lấy gì mà chứa! Đối với bọn cờ bạc, gái tứ thời, chỉ còn cắt cổ siết họng hơn nữa: bắt góp từ ngày, nếu không góp, chỉ đến canh tại nhà, khách vừa ra là chỉ chìa tay thâu tiền răng rắc. Tiếng nói “tiền vay vốn là một trăm”, thế mà chỉ đưa ra có chín chục, chận lại tiền đầu, mười đồng trước, chịu thì cho, bằng không chịu thì hãy xê ra chỗ khác. Rồi một trăm ấy, mỗi ngày phải góp một đồng hai cắc (1$20) và góp đủ một trăm ngày mới hết nợ. Rủi thời túng quá, ngày nào đó không đủ tiền góp 1$20 kia, thì cũng phải trả năm ba cắc tiền lời và 1$20 kia còn thiếu như cũ, nếu làm thinh thì chắc không khỏi chỉ sai người đến nhà làm nhục, hoặc réo tên họ hoặc chửi rủa đến chừng nào có tiền trả chúng mới thôi, hỏi có ác nào hơn? Nơi sở Ba son (arsenal) có lệ một tháng Tây phát tiền làm hai lần, chỉ cho ra năm đồng (5$00), tới kỳ (hai tuần lễ nữa) phải trả sáu đồng (6$00). Như không trả đủ, thì phải trả một đồng (1$00) tiền lời, số bạc năm đồng gác qua tháng sau và đẻ lời ra nữa? Về bạc tháng, chỉ cho ra mười đồng (10$00), cuối tháng phải trả mười hai đồng (12$00). Ấy là quen lớn và tử tế lắm đó, chớ với mặt lạ hay mới hỏi mượn lần đầu thì phải trả tới mười ba đồng (13$00). Về tiền mướn, chỉ ăn lời mới thiệt là ác hơn nữa? Tội nghiệp kẻ nghèo không có vốn buôn bán, hoặc muốn sửa nhà, xóc nóc dột, làm ăn hay mua sách vở cho con học, trả tiền trường, đụng tới chỉ, đến hỏi tiền mướn của chỉ, thì cứ chín đồng bạc (9$00) đưa ra, mỗi ngày phải nạp cho chỉ hai cắc (0$20) tiền lời, trả như vậy tháng nầy qua tháng kia, mà vốn cũng còn nguyên vốn, chừng nào trả chín đồng (9$00) kia mới là dứt nợ “tiền mướn”. Khi nào ốm đau bịnh hoạn, làm không ra tiền và không tiền trả cho chỉ, năm mười bữa thì chỉ kê lời với vốn, tính ra mười đồng (10$00), bắt phải trả tiền lời một lớp nữa, chồng chất lên hoài, nên đúng với câu “nợ lút đầu lút cổ”.

Còn trong sòng cờ bạc, ai muốn thế chưn đồ (vàng, cà rá), thì cũng một tay chỉ ra tiền. Nếu xên sòng mà đồ thế không chuộc liền đó, thì chỉ kỳ cho nửa tháng, cứ mỗi đồng bạc cho ra, phải trả mỗi ngày là tiền rưỡi (ba su) tiền lời, đã vậy, vàng của người ta, chỉ lấy đem đi cầm nơi tiệm, lấy tiền về cho chỗ khác vay mượn, đẻ tiền lời cho chỉ nuốt! Chứng nào chủ chiếc vàng chiếc cà rá có tiền đem trả chỉ, thì chỉ mới chuộc trong tiệm ra. Còn một cách nữa là hễ vàng thế, tới kỳ không chuộc thì chỉ lấy chiếc ấy cho ai đó liệu chắc chắn, mướn đeo, tiền mướn đeo ấy, cứ một đôi vàng hay sợi dây chuyền, mỗi ngày mướn hai cắc (0$20), kiềng vàng ba cắc.

 Nhiêu khi, tôi thấy người nghèo khổ tới khóc lóc năn nỉ chị chủ sự thiếu điều gãy lưỡi mà chỉ vẫn không nao núng, cứ mắng xối người ta, đòi thưa cò bỏ tù phát mãi, chỉ nghiến răng trẹo trẹo, người ấy ra về rồi, tôi trách chỉ quá độc ác không biết nương tay, khi ấy chỉ ngồi nhắc lại lúc xưa, khi còn ở với Má Tư Hớn, bán máu bán trinh, hỏi mấy ai biết thương cho chỉ? Và mấy ai biết tội nghiệp là gì? Muốn may một cái áo mới, cũng phải mua góp rồi trả từ ngày của đáng một đồng trả thành hai. Còn như cái thân cha mẹ sanh thành cực khổ, đem ra thí thân làm món đồ choi cho khách, họ trả cao trả thấp từ đồng, giằn vặt thân thể đủ mọi cách vày vò đủ kiểu, chiều lòn khách hết nước, chừng đem tiền về cho má, thì tiền đầu, tiền ngày, tiền góp, má trừ gần hết, ai biết thương cho mình. Thiệt là nghe chỉ nhắc lại chuyện cũ, tôi bắt lạnh mình rởn ốc.

Chớ chi tôi không sớm thoát thân thì ngày nay không biết nó ra tới nước nào. Nghĩ tới đâu tôi căm hờn tới đó, xã hội là dường thế, gặp cảnh nào hay cảnh nấy, không còn biết thương hại người đời là gì nữa.

Nghĩ cho đời, toàn là giả dối! Tôi bắt lỗi chị chủ sự là ác độc tôi thấy lỗi người mà không xét lỗi mình! Bỏ chồng, đoạt của, lọt nhà số đi tu bỏ rơi đành đoạn anh Lu-y (cũng khá không tìm kiếm thưa gởi), nay làm nghề nầy rồi chê má Tư Hớn là chê làm sao được? Ban đầu giận oán cô chủ sự, sau kết làm bạn, rồi xót rồi thương. Chốn ngục tù, thì lòng nát ngướu như tương, làm thân con ở phải lòng chai dạ đá. Tôi a ý khúc tùng, giúp giáo cho giặc, oán trách hăm trả thù bà Tư Hớn mà rốt lại cùng làm một nghề! Mâu thuẫn ôi là mâu thuẫn. Và đời là vậy đó!

* * *

 

25

Xã tri mắc lận

Việc ác tôi làm một ngày một đậm, không khác tay lỡ nhúng chàm, càng lâu càng thấm... Một bữa nọ, có thầy phó tổng ở Sốc trăng, lâu ngày quên tên, lên tìm tôi, rằng nghe tiếng đồn, nhà tôi cho vay lớn, muốn thế ba trăm mẫu ruộng thượng hạng, vay đỡ có được thì một muôn rưỡi, không thôi cùng cực thì muôn hai. Cậy anh phán Đức dắt lại. Đúc là thầy đờn cò, biết chữ Nho khá. Vào làm ăn tiền ngày, coi việc phiên dịch đơn từ chữ Hán ra quốc ngữ, sau toà dẹp ngạch phiên dịch và bổ hết nhân viên vào ngạch thông ngôn toà, Đức lên phán, vẫn ngồi ăn trầu bô bô và không nói được một tiếng Tây. Đánh phè hay, đờn tươi khá, và quen với tôi nhờ hai nghề nầy. Tôi nói: “Tôi mang tiếng cho vay đặt nợ, là cho nho nhỏ kia, chớ anh yêu nầy, ảnh lại không biết hay sao mả nói chuyện vay hỏi bạc muôn”. Anh phán nghe tôi rao Nam làm vậy báo hại thầy phó sửng sốt ngó tôi, phán Đức rước nói: “Thầy cai (kêu tâng) chưa biết bề thế cô Hai, chớ nói cùng mà nghe, bạc nhà cô có lỡ cho ra quá nhiều và chưa thâu lại kịp đủ số muôn đi nữa, cổ lại hiểm gì một tiếng nói mà không giúp anh em chúng mình hay sao?” Nói đến đó, Đức giả bộ lại gần bàn lấy điếu thuốc, thổi vào tai tôi câu: “Toa buộc xăng” (trois pour cent) là phần một mình cô, còn Đức nầy một bữa cơm cà-ri là đủ”. Nghe ảnh nói làm vậy, tôi mới chịu miệng, lãnh bóc giấy tờ, bằng khoán, hẹn với thầy phó hãy để đó cho tôi đi hỏi thử, được cùng không chiều mai trở lại sẽ hay...

Tôi tuốc lên đường Plerre Flandin (bà huyện Thanh Quan), rủ chị Tư Hào, cùng đi với tôi xuống đường Ohier, xóm chùa chà, kiếm nhà thằng chetty quen với chỉ. Thuở nay tôi tưởng chà xã-tri cho vay đặt nợ thì nhà cửa sang trọng lắm, vì xứ nó nóc chùa vẫn thếp vàng và bò của nó nuôi để kéo kiệu Phật, sừng vẫn bịt bạc. Nào dè vô nhà thằng xã-tri nào cũng y nhau, hai bên vách đều lót giường nằm bằng gạch trải đá bông chỉ chửa khoảng giữa một đường đi chạy theo dọc dài căn phố chừng hai thước bề ngang, giường hay ván nầy không chiếu liếp gì hết, và đứa nào như đứa nấy, từ chủ gọi tàu-kê (thầu kê: đầu gia, tiếng Tiều) đến thằng tớ nấu bếp cà ca-ri, đều ở trần trụi tnù, tớ khác chủ là không được nằm ngồi trên giường nầy, và trưa trưa chủ tiệm chà vẫn nằm trườn trên ván như cá sấu trườn bãi, xem tục tĩu quá chừng.

 Chúng không dám lót gạch hoa dưới đất vì sợ tốn nhiều tiền, nhưng gạch Tàu của chúng, lau quét thường ngày, trông đỏ au láng bóng. Tôi cố không nhìn cảnh thô tục trước mắt và rán nín thở để khỏi hít mùi nị, mùi chà đặc biệt của chúng. Tôi đưa bằng khoán cho lão tàu kê tên là Annamalé-chettyar coi, tôi trừ hao, nói muốn vay hai muôn (20.000$00) tính chận một mở để xây xài.

Annamalé hai tay cứ cuốn kèn tờ bằng khoán, miệng nói tía lia giống gì với chị Tư Hào, tôi không nghe được tiếng nào, còn con mắt nó vẫn đảo lên đảo xuống ngó tôi trân trân từ ngực đến mặt rồi ngó xuống thân dưới, tôi mất cỡ quá mà phải rán chịu, đoạn nghe anh ta cười hố hố như thằng ngáo, rồi day lại nhìn tôi không chớp mắt và nói: “Cô để đó, mập-lê(1) biểu luật sư coi kỹ, rồi nói lại với chú Tư, chị Năm, đước?”. Tôi nhìn nó rồi cười và nhại lại nó: “Đước! Đước? Biểu chị Tư nầy, lại cái nhà tôi, cho tôi hay. Đước! Đước!

Qua bữa sau, sớm bửng tưng đã thấy chị Tư Hào đến nhà, ngắt yêu tôi mà rằng: “Thằng Annamalé nó thấy cô hôm qua, nó thèm nhau nước miếng. Hồi hôm nầy nó lại nhà tôi, năn nỉ biểu làm sao cũng dắt giùm nó tới cho biết nhà cô. Con nai nầy nó chịu đèn rồi, chỉ còn chớ cô hạ nó một phát rồi làm thịt. Nhớ chứa cho tôi bộ răng hàm trên để làm bàn nạo nạo dứa. À! mà thằng ấy nó nói muốn cậy cô bán giùm nó li cái hột xoàn người ta không chuộc và đã quá ngày. Nó lo le cho tôi xem sáu hột bự, thiệt là đích đáng, mà đời nào nó giao cho tôi. Tôi ừ và biểu chỉ muốn dắt nó lại thì dắt, chiều tôi có mặt ở nhà thường. Sau đó tôi cũng dặn trước chỉ đôi điều kẻo vuột con nai tơ nầy thì uổng lắm.

Chị Tư Hào vừa về thì tôi tuốt lại nhà chị chủ sự, thuật hết mọi việc cho chỉ nghe, chỉ cười ngất, biểu tôi mau lập tâm thê nào để lật ông táo lửa nầy chơi một chuyến bỏ đi uổng lắm. Nó cắt cổ người Nam mình đã nhiều rồi. Tôi hội ý ra về, nhứt diện nhắn thầy phó rằng việc coi dẻo thuận chiều, xin phiền thấy rán đợi ít ngày, nhứt diện viết thiệp mời anh tư Ve (Pierre Nguyễn Thuận) làm chủ tờ báo không ai đọc “Tiếng kèn” (Le clairon, vì viết tiếng Pháp), mời ảnh gấp qua nói chuyện cần. Tội nghiệp mới mười một giờ rưỡi chưa kịp về nhà ăn cơm, anh Ve đã đến, hỏi từ ngoài cửa hỏi vô:

 - Cô chủ nhà ở đâu? và chuyện gì cần kíp lung dữ vậy?

 Tôi đáp:

 - Có. Có việc lớn và gió lớn(2) chớ không, ai dám làm nhọc lòng anh Ve của tôi. Thôi, lại tủ rượu lấy ly chai và uống áp-bê-rô (appéritif) đi, rồi ở lại đây ăn cơm với tôi, tôi sớm mai nầy làm siêng ra chợ mua được mớ đuông chà là ở Cà mau đem lên, ngon lắm. Mà anh biết ăn đuông chớ?

 Tới bữa ăn, tôi mới đọc hết công cuộc thằng xã tri dê, muốn làm bảnh gởi hột xoàn bán giùm, và cậy ảnh chịu khó đừng đi đâu, và cho tôi mượn cái oai của ảnh ít bữa đặng kiếm tiền xài tết. Anh Ve nghe tôi nói tới đó, vùng ngừng hớp rượu, hỏi: “Oai gì? Ở đâu mà mượn? Mượn làm cái gì chớt Mà làm sao cho mượn được?” Tôi cười, ra dấu cho ảnh nín, nghe tôi cắt nghĩa: “Oai là anh từng đi lính sơn đá cho Pháp. Anh có Pháp tịch. Tưởng anh bậm trợn vằm vỡ, tiếng anh rổn rảng oai nghiêm, nên mượn anh giả đò làm chồng cho...”

Mới nói có bao nhiêu đó, Tư Ve nghe kịp, khoát lia khoát lịa mà rằng:

 - Thôi! Biết rồi! Thiên cơ bất khả lậu? Em tính trát đặng lột da con lọ nồi ấy phải không? Em biểu làm sao qua cứ việc làm y theo vậy, y không sai chồng thiệt chút nào, nghe không?

Tôi nguýt ảnh mà rằng:

- Chuyện thiệt, đừng có nói giỡn, không nên. Rán cho giỏi người ta biết ơn, người ta kiếm cho một con mèo còn bảnh bằng mười tôi đây nữa là. Chiều, hết giờ làm việc, đi thẳng về đây, ăn cơm, nghe không!

 Trời vừa chạng vạng, thằng chà Annamalé ngồi xe kiếng với chị Tư Hào, nó vừa bước vô cửa thấy anh Tư Ve ở trần trụi trụi nằm trên ghế xích đu đương đọc nhựt trình, thì nó dội ngửa muốn thối bộ ra rồi. Tôi lúc ấy đang nằm trên bộ ván cũng đương coi truyện, tôi lật đật bước xuống võng cái một, miệng với kêu:

 - Ủa. Nầy chị Tư, ê. Anh Bảy. Vô đây chơi mà. Có sao đâu mà sợ: Ngại cái gì?

 Rồi tôi chạy lại vỗ vai thầy Ve và giới thiệu giòn giã:

-Nè mình. Đây là chị Tư Hào, ở đường Pierre Flandin, bạn với tôi từ hồi nhỏ. Còn đây là ông Annamalé đường Ohier, tay buôn hột xoàn, đem xoàn định nhờ tôi bán giùm.

Thầy Ve cũng ứ hự có chừng và chào hỏi lơ là. Tôi mời khách ăn trầu hút thuốc, hối trẻ pha trà mới, rồi giả bộ như trực nhớ việc gì, vùng gọi thầy Ve mà rằng:

- À mình, hồi trưa mình dặn tôi nhắc mình chiều nay xuống nhà Cafford lựa mua súng sáu giùm cho ai đó, mình đi hay không?

 Thầy nói:

 - Ừ, phải à. Đưa tiền đây đặng tôi đi cho kịp trước giờ hãng đóng cửa. Mua để bỏ túi, hộ thân, chớ mua giùm cho ai đâu.

 Tôi xin lỗi khách và lật đật mở tủ sắt lấy tiền đưa cho Ve, anh ta đốt thuốc hút, đội nón xách can (canne, gậy) lấy tiền bỏ túi, rồi dặn lớn:

 - Tối nay mình biểu thằng Bốn ngủ ở hàng ba gần cửa có lẽ tôi đi đánh thín cẩu nhà thầy Bảy Phương, khuya hay gần sáng về kêu cửa khỏi làm mất giấc ngủ của mình. Thôi, chào hết các bà con, tôi đi đây.

Thầy Ve sấp lưng vừa ra khỏi nhà, chị Tư Hào hỏi:

 - Bộ đêm nào thầy cũng đi như vậy hay sao?

 Tôi thở dài, than và liếc anh chà:

 - Ôi, anh ấy hơi đâu mà nói. Đêm nào như đêm nấy đều bỏ nhà đi như vậy hết. Mê chà bài hơn mê vợ nhà. Có khi đi tới sáng rồi ở luôn đâu đô, tôi nào thèm nói tới đâu.

Lão táo lửa nghe thâm mật đắc ý, bản mặt tươi như đồ sơn mài vừa đánh bóng xong, nhai trầu ăn lá nầy qua lá kia, và nuốt cốt trầu ráo trọi. (Do nước cốt trầu nói nhanh nên mất chữ nước) Tôi láy một cái, chị Tư biết ý, đứng dậy đi ngay xuống nhà dưới, rồi ở luôn không lên. Khi ấy tôi mới xít ghế lại ngồi gần sát mặt lão táo, hôm ấy tôi có xúc chút ít dầu Coty mùi vừa nhẹ vừa kích thích, tôi đảo cặp mắt như thu hồn táo và chậm rãi biểu lấy hột xoàn cho xem. Tôi thở một hơi dài cho bao nhiêu quyến rủ trong tôi toả ra, tôi chê có một hột có tì, và nước không được sáng. Lão ta, miệng thì nói “Đâu có! Đâu có!” mà cứ cúi riết gần sát mặt tôi còn mắt thì hột xoàn không ngó, tôi bụng tưởng lão coi miếng trái tim tôi đeo giữa ngực cũng có một hột kim cương nhỏ, nhưng dè đâu hôm đó vì trời oi ả, tôi chỉ mặc có một chiếc áo mát thật mỏng, lời cặp nhũ đội thẳng cứng tấm hàng không che đậy, lão táo lửa dục đương bửng, không đè nén được, lão kề mặt và liều mạng hun đại giữa hai ngọc nhũ sương còn ngậm. Tôi tuy có đề phòng trước, mà hồn vía cũng gần lên mây, vì cuộc xung đột bất ngờ quá. Tôi xô đại anh, làm mặt giận, dợm la lên. Anh chà, tay nắm cánh tay tôi lại không cho la, miệng xin lỗi láp giáp, rằng bởi quá thương nên không dằn được. Tôi cười duyên giả đò nguôi cơn giận, lấy một áo bà ba bận thêm và cất tiếng kêu lớn chị Tư ra nói chuyện. Khi ấy tôi biểu Annamalé như muốn tôi bán giùm mấy thứ ấy, thì phải làm giấy đàng hoàng, bán đứt sáu hột đó cho tôi, mỗi bột nặng mấy ca-ra và giá là bao nhiêu, đặng cho tôi đưa giấy ấy làm bằng cớ mà làm giá bán. Chớ không giấy không tờ, đời nầy lắm giả dối, đồ quí mà không lai lịch là đồ giả, người ta có tiền mua thì phải xét nét, chớ phải cá tôm gì ngoài chợ mà mua ẩu mua mở không cần giấy tờ làm chắc.

 Chị Tư Hào lại xen vô:

- Ôi! Mà chiều mai nầy là ngày thứ bảy, không biết thầy ở nhà có đi đâu không?

 Tôi đáp tỉnh bơ:

 - Nào ai biết được anh tôi muốn gì. Mà chiều thứ bảy, có lệ, không đi đánh bài thì cũng thả sáng đêm, nhậu nhẹt hút xách hay làm gì, tôi chả có biết. Mà người ta đang nói chuyện mua bán hột xoàn mà chị lại hỏi bắt quàng làm vậy, thiệt lả lảng nhách!

Thằng chà nghe biết tối mai thứ bảy chồng tôi không có ở nhà, liền chịu miệng, nói để mai, cũng chừng nầy, sẽ đem giấy lại. Còn sáu hột kia, cứ biểu tôi cất đó giữ giùm, không sao mà sợ.

Qua ngày sau, trưa mười một giờ rưỡi, thầy Ve lót tót lại nhả tôi xơi cơm. Tuy thầy với tôi chưa có cuộc ái ân gì, chớ từ ngày quen biết nhau, thì tôi bắt gân mặt biết thầy đã có tình gắn bó. Bởi vậy, cơm nước xong, thầy lại than mệt và nài xin ở lại nghỉ trưa, tôi cũng không trái ý, nhưng tôi để nhà cho thầy nghỉ ngơi gì mặc ý, tôi thả lại nhà chị chủ sự đánh câu tôm chơi cho đến bốn giờ chiều tôi mới về nhà. Ông cậu còn nằm liều chưa dậy. Những ai chưa quen tánh mấy bợm đa tình, ắt là khó chịu, chớ biết ý rồi, thiệt dễ như trở bàn tay. Tôi hối trẻ coi nước rửa mặt, chải nón, đánh giày, rồi tôi phải làm tuồng mơn trớn mới trục nổi con dê xồm nầy rời bộ ván. Tôi nhắc lại chuyện giao kết hôm qua, dặn nhỏ thầy đi chơi ở đâu thì đi, nhưng lối chừng bảy giờ rưỡi tám giờ phải nhớ về lập tức và làm như vậy, như vậy.

Thầy Ve đi rồi, tôi biểu dọn cơm chiều ăn sớm hơn mọi bữa, dọn dẹp xong, tôi bê lúi cho bầy trẻ được nghỉ chiều nay đi coi hát bóng hay thả đi đâu thì thả, chúng mừng quá đồng đi tứ tán hết, không thằng nào ở lại nhà. Tôi chờ trời tối thiệt mặt, tôi thay một bộ đồ đen mới, dầu phấn hương xông xạ ướp xong xả rồi, tôi nhắc ghế xích đu ra hàng ba nằm đợi. Trong nhà tôi thắp cây đèn ánh sáng dịu mát lu lu, cửa rào khép kín, ấy là kế trốn khách, sợ rủi có cha nào lại bất tử mà lỡ hết cơ mưu sắp đặt. Cũng may, không rõ nhờ ông bà khuất mặt nào độ, khiến tôi phòng bị kỹ càng như vậy chớ bữa đó không có khách nào lai vãng hết. Và cái thói chờ đợi ai thì sao thấy thì giờ đi lâu quá. Tôi nằm khá lâu lâu, hơi sốt ruột, sợ con cá kia sẩy câu, nào ngờ chú xã tri kia cũng sốt ruột như tôi, anh ta tới hồi nào không biết, và đang đứng đợi sẵn ngoài ngõ. Tuy hẹn thì hẹn đúng bảy giờ, chớ trong bụng tôi chắc thế nào chàng ta cũng tới trước. Đến chừng nghe đồng hồ “con ngựa” gõ bảy tiếng, mà chưa thấy tăm thấy dạng, tôi mới bước rảo ra ngoài coi thứ, ai dè, vừa mở cửa ngõ, trời thì tối không thấy bóng người, thinh không vùng nghe tiếng hỏi: “Chị Hai! Phải chị Hai!”. Tôi gượng gạo hỏi “Ai? Ai?” mà hồn vía đã lên mây, rùng mình rởn ốc. Bộ anh ta nghe tiếng hỏi run en, biết tôi sợ, nên bước trở tới và nói: “Tui? Tui! Anh Bảy Annamalé!”. Coi kỹ lại, “cục tình” của tôi cắc cớ, bận áo bành-tô (paletot) đen bằng nỉ ăng-lê, vận chăn màu sậm.. nên khi nãy tôi kiếm không ra. Hú hồn.

Tôi xây lưng trở vô nhà, ngoắt anh ta biểu theo. Vô đã tới hàng ba rồi, miệng còn hỏi: “Anh đi rồi? Thiệt?” Tôi vừa ừ, vừa ra dấu cho biết chỉ có một mình tôi ở nhà, còn cửa thì khép sơ lại đó. Tôi ra áo dài, thay áo mát, rồi biểu Annamalé cởi áo bành tô kẻo nực, tôi bổn thân giúp mở từ cái nút áo, sờ soạng làm chết tê cả mình thằng chà. Thói của họ là hay ở trần, nên khi nghe tôi biểu không đợi mời hai lần, anh ta cổi tuột cái áo, thấy sẵn có cái gạc nai gần cửa buồng, anh ta móc áo vào đó, lại làm bộ đút đầu dòm vô trong và khen “tốt quá!”. Tôi vặn đèn trong buồng, rủ vô coi, rồi bước lại đứng gần Annamalé, biểu: “Đâu? Đưa cái giấy bán hột xoàn đây cho tôi coi?” Anh Bảy Chà vừa nói “Giấy ở trong túi áo, lát nữa sẽ coi”. Tôi chưa kịp trả lời, thì nghe ngoài cửa có tiếng thầy Ve kêu giựt giọng: “Hai ơi. Ra biểu.” Tôi làm bộ sợ run, vừa chỉ dưới sàng và ra dấu mau mau chun xuống đó trốn. Tôi bước ra ngoài hỏi Ve:

 - Chỗ mình không đi coi hát hay sao?

 Ve sân si:

- Coi cái gì? Hỏi lảng nhách. Cái áo bành tô của ai máng đây đây? Chịu thiệt đi! Không, tao bắn nát óc.

 Tôi làm bộ khóc nhếu nhàu còn thầy Tư Ve thì đâm sầm chạy thẳng vô buồng kiếm dáo dát. Vừa thấy anh chà ngồi núp dưới giường, anh ta liền móc súng nhắm bắn. Tôi a lại nắm tay thầy, miệng vừa khóc vừa biểu nó chạy. Cơ khổ, nó ở trần trùi trụi, thoát ra được khỏi buồng, bất kể là bàn là ghế, tuôn ra khỏi chạy tuốt.

 Thầy Tư Ve và tôi dáy mặt vào vách mà nó nôn cười hòng chết. Đó rồi, thầy khoá cửa lại, soạn ra coi: cái bốp no nóc, bóc ké! Tôi rút ra cái giấy bán hột xoàn, còn bạc báo nhiêu xin nhường cho thầy, đền ơn khó nhọc vì đóng tuồng hay quá. Ve, cái hào hiệp gốc sơn đá không bỏ, dê xồm tổ mẹ, một hai từ chối, lấy ra đâu sáu bảy tấm giấy xăng và một mở bạc nhỏ, thồn đại vào túi áo của tôi, giả đò lỡ tay, khều sơ nhũ hoa, rồi cười bịch hạc nói có muốn thật tình đền ơn thì bao cho thầy đi coi hát đêm nay thì thầy mới chịu.

Tôi buộc lòng phải thay đồ đi với thầy rồi gì nữa với thầy đêm ấy, kẻo phụ tình người ta gắn bó bấy lâu.

Sáng ra tôi mệt mỏi, ngủ trưa hơn mọi bữa. Đâu lối gần chín giờ thì chị Tư Hào ở Pierre Flandin xuống, cho hay thằng xã trì sai chỉ đem trả tôi giấy tờ của thầy phó Sốc trăng và năn nỉ tôi xin cho lại những giấy nợ trong bóp. Aunamalé nhắn biểu tôi để ít bữa cho chồng tôi ngôi ngoai, rồi kiếm cớ nào vô nhà chị Tư Hào cho nó thăm, kẻo nhớ lắm. Còn mấy cái hột xoàn đó, như bán có lời để nữa nó chia hai. Tôi dặn chị Hào về kiếm điều đẩy đưa với nó, rằng tôi bị ảnh ghen đánh tôi xể mặt xể mày hết, nên mấy vết chưa lành, tôi chưa đi được. Tôi nhắn hỏi thăm anh Bảy có hề gì không? Rồi để vài bữa nữa như nó còn nhắc tôi thì giả bộ đi đâu đó rồi về thuật cho nó hay chồng tôi lột đồ nữ trang cất lên hết rồi không cho tôi đeo đến một phân vàng là vì bị tôi lén vô nhà chỉ nhưng đi nửa đường bị ai đó mách, thầy theo bắt trở lại. Bây giờ thầy ghen dữ lắm, sợ nói ra đi đâu, thầy bắt đặng một lần nữa thì ba mạng tôi cũng khó sống. Tôi căn dặn chị Tư Hào rành rọt rồi đền ơn trọng hậu cho chỉ ra về. Khi ấy tôi mới lại đằng anh Phán Đức, trả bằng khoán cậy nói lại với thầy Phó rằng đôn nầy rủi tôi bận việc quá, mà việc nầy giao cho ai cũng không xong, vậy hãy để hưởn hưởn tôi rảnh bớt, sẽ cho ảnh hay đặng nhắn thầy phó lên. Có cái tôi đích thân tôi đi lo, thì mới thảnh việc đặng.

* * *

 

26

Ông tơ khéo xe

Ở nhà phán Đức về, vừa đút đầu vô cửa, tôi thấy chị chủ sự ngồi cho một đống, cái mặt bí xị, vừa thấy tôi, chỉ thở ra, bệu bạo muốn khóc, cho hay tía thằng Như Phước từ trần ở Bạc Liêu, lúc nãy nó theo chỉ lại đây tìm tôi đặng nói mà về chịu tang, rủi không gặp và sợ trễ xe đợi bữa khác lâu lắm, nên cực chẳng đã, nó phải ra đi. Chỉ khuyên tôi đưa cho chỉ năm ba chục và nhờ người hay chữ đặt giùm tấm luỵ cho xưng đáng, đặng chỉ còn tốc xuống dưới thay mặt đi cái lễ điếu tang cho dễ coi. Tôi bắt tức cười vì trái tai quá tôi bèn nói lẩy: “Chớ chỉ cha chồng tôi chết mà được chỉ tử tế làm vậy, chẳng là đại phước”. Mình tính nói chơi, pha lửng vì mới làm thằng chà một cú đáng đích, ai ngờ chỉ đáp: “Khi mà đâu đó gần trúng đa? Cũng gần là cha chồng thiệt đó!” Tôi hét chỉ đừng có nói yêu, tôi nay làm vầy, non non ba chục cái xuân đứng bóng, còn thằng Như Phước, nó là con nít, còn học trưởng Taberd, độ mười bảy mười tám tuổi là cao lắm, thuở nay nó kiếng mình là cô bác anh chị! Khéo nói chướng nó nghe đặng, cũng như bắc thang cho con nít nó trèo đèo, không sợ mất cỡ hay sao?

Chị đang bệu bạo mới đó chớ phải, nay thấy tôi phát giận, chỉ vùng cười ngắc nghẽo thiếu điều làm xấu trên bộ ván, vừa chậm nước mắt, vừa nói: “Thằng Như Phước nó gần kiếng mấy là cô bác anh chị, chớ chưa mà! Ý! Cái con làm sao, mà người ta muốn nó như chết!... Bộ mầy giả đò sao chớ? Có lẽ nào mà mầy không biết không hay”. Tôi nghe bấy nhiêu ấy chưng hửng đành xuống nước, o bế, dịu ngọt, dụ dỗ, biểu chỉ đọc lại công cuộc đầu đuôi làm sao cho tôi nghe: Chỉ ngồi kể cho một giọt: những là lần nào tôi vô trưởng thăm thằng Hiền, con thầy phó Sốc Trăng, mà thằng Như Phước hay được thì thế nào nó cũng bỏ giờ học tập (étude) lén trốn ra dòm kẹt nhà khách (parloir) nhìn trộm tôi cho được! Lại nữa khăn tua tôi giắt chỗ nào, nó cũng làm bộ lấy xem rồi lén hun trơ hun trật. Chỉ nhắc lại mấy lúc gần đây nó lại nhà đánh bài tứ sắc chơi thua bạc trăm, là tại nó giành ngồi tay trên tôi, đặng có đánh đo đánh tháo cho tôi ăn, tôi tới. Bây giờ chị nầy nói, tôi mới nhớ mấy lần đi coi hát Tây hay chớp bóng, nó cũng giành mua vé, và khi vào ngồi trong lôi (loe) nó cố ý ngồi sau lưng tôi đặng có chờm tới trước kề bên vai tôi mà kiếm chuyện cắt nghĩa tuồng kia tích nọ sát bên tai bên lỗ nhĩ. Ý cái thằng, sanh bụng nguỵ mà mình không hay! Chị chủ sự nói nhắc sơ sơ như vậy thử coi tôi có nhớ chừng. Chớ thằng nọ thường than thỉ ỉ ôi với chỉ, thú thiệt mối tình éo le trong trắng nầy và thề rằng nó mà không lấy được tôi làm vợ chồng, thì nó sẽ phế hết sự đời, đi tu cho mát dạ. Chỉ khai thiệt rằng xưa nay nhờ nó cũng nhiều, nên nếu tôi không thương hại xuất tiền cho chỉ bổn thân đi điếu tang, thì chỉ cũng rán xuống tận Sốc Trăng mà đưa đám, cho vẽ mặt vẽ mày cho thằng đó. Trời đất ơi! Việc nầy mới khó cho tôi nhứt! Chị chủ sự nói đà hết tiếng mà tôi vẫn lưỡng lự như con cù lần! Cái tình thương lạ thương lùng làm vậy, khó cho tôi đáp lại được. Vô lý quá một già một trẻ, một thành thạo “con đi thầy”, một non măng đang mài đũng quần trong trưởng chưa rách? Mà suy nghĩ lại cho kỹ: tham thì bụng cũng có tham thật, vì tôi biết tía và anh thằng Như Phước là tay cự phú miệt Ba Thắc, chỉ kém chút ít ông hội đồng Trần Trinh Trạch, chớ nào thua ai. Anh nó, ông Như Gia đã ra riêng, bà già nó đã mất sớm, sự nghiệp của cha để lại, thế nào cậu công tử mũi trắng(1) nầy rồi sẽ phanh phui. Nghĩ cuộc phá su, thì đâu cũng là phá su! Vậy thì dụ nó phí của ấy với mình, còn hay hơn để lọt tay khác? Lập tâm rồi, tôi liền đưa chìa khoá tủ sắt cho chị chủ sự, biểu mở ra lấy năm chục đồng bạc trắng, đặt đồ đi lễ điếu ba chục, còn lại hai chục làm tiền ăn đi đường. Chỉ mở tủ, thấy một xấp hình của tôi, nhà Khánh Ký mới chụp, rôm lắm. Chỉ lấy ba chục đồng và một tấm hình, nài tôi bằng lòng cho chỉ đem hình ấy xuống cho Như Phước, còn hai chục đồng sở phí dọc đường, xin để cho chỉ chịu, rằng kẻ công người của, chỉ tỏ tình biết ơn Phước trót thể. Tôi thấy mụ nầy mấy lúc sau nầy tỏ ra rất khác lúc trước, vả lại nghĩa chị tình em, muôn việc chị nầy vẫn tính phần lợi cho mình hơn là cho chỉ, nên không biết nói làm sao, đành ừ đại cho chỉ đi.

Cậu công tử vừa chôn cha, sắp đặt việc nhà, làm mồ làm mả đâu đó xong xuôi, làm hai mươi mốt ngày vừa rồi, tom góp được trên muôn đồng (10.000$00), tuốt lên Sài Gòn, gởi một mở vô băng, còn phân nửa gói ôm lại nhà chị chủ sự cậy chị ta nói cho tôi chịu giữ giùm. Lúc nầy có máu mặt, nặng túi hơn lúc trước, nên coi dèo cậu ta dạn hơn lóng trước nhiều. Gởi bạc tôi chịu rồi, lại một hai nài tôi xin cho ở đậu. Tôi nghĩ khó xử quá, nên còn dùng dằng không nhứt quyết. Kế chị chủ sự chỉ rước nói để chỉ tính cho. Chỉ mới kêu tôi mà bỏ nhỏ rao Nam như vầy: “Chị biết bây giờ nó rảnh tay rảnh chơn, nên quyết tình với em lắm. Nếu em nói dứt khoát, rủi nó dại không kịp suy nghĩ, làm nư tự vận, có phải cái quả báo đó đổ dồn cho chị em mình mang hay không? Chi cho bằng em cứ cho nó ở đậu nhà nầy, rồi để chị kiếm một đứa sạch sẽ, cặp cho nó, cùng chung chạ tại đây, thì tự nhiên em tránh đặng khỏi tiếng đời dị nghị, nhà đông người thêm vui, lại bớt được tiền chợ phần nao.

Thiệt ba mươi đời, tôi có cái tật hay thương hại người lận đận, và hễ ai đờn êm tai thì tôi thích nghe, vì vậy mà oan oan trái trái nó buộc hoài không thôi. Rồi chị chủ sự lại bày vẽ, kiếm được con sáu Quế Anh học trưởng áo tím bị đuổi, đang chới với, chỉ cột cho thẳng công tử ruộng muối Bạc Liêu nầy, con nhỏ mén mà cũng sạch đời đúng bực, chưa chi xúi thằng nọ sắm cái xe Mi-lo (Milord) kiểu mới, mua ở nhà Laurent Gay ở góc đường Pellerin và La Grandière (Pasteur- Gia long cũ) chiều chiều thắng ngựa Bắc thảo, hai đứa nó cặp nhau đi dạo mát, coi hát xướng tới khuya lơ khuya lắc mới về... ngỡ là tánh con nít, vui đâu chúc đó, khuây lảng mối tình éo le và quên mình được: Ai dè, đêm nào như đêm nấy, canh khuya thức giấc vẫn nghe cậu ta than thở bên phòng:

- Cô Hai ơi! Cô Hai! Cô chích đôi, tôi lẻ bạn, cô ngại nỗi gì, ty hiềm làm sao, mà cái tình thương của tôi đã quá năm trời, cô nỡ dạ nào phủi đi cho đặng.

Ý! Cái thằng bình thường mủ mỉ ít ăn ít nói, mà ngót mười mấy đêm vẫn đờn một bản “tương tư xang xừ líu” tiếng nào tiếng nấy ân hậu thâm trầm... đời tục xưa nay thường ví: “Đàn bà hay lạt lòng”. Chớ tôi xuống núi là để báo oán thù ân, tôi là nguôi ngoai sự oán hờn cuộc thế kia đâu, mà hòng đáp tình xử nghĩa với ai bây giờ cho đặng.

Lúc nầy tôi đang tích trữ sự bất công của xã hội đối với hạng đàn bà yếu đuối như tôi, cho nên từ ngày cậu nầy đến ở đậu trong nhà, hễ gặp dịp nào xẻ anh ta đặng thì tôi không hề bỏ qua, như nài bán hột xoàn, xúi sắm ăn sắm mặc, nhưng tôi để ý, khi mua chác vật chí, tôi nói mấy thì cậu ta tin bằng lời, chẳng bao giờ có một tiếng chê mắc chê rẻ. Vậy mà cậu ta còn ít bữa mua món nầy, ít bữa sắm món kia, bày biện trong nhà tôi còn hơn nhà đấu xảo. Cho đến cái xe ngựa nó mua tiền của nó mà cái phắc tua (facture) sau tôi hay được cũng để tên tôi đứng.

Ăn xài như vậy chưa đầy năm tháng, mà tiền gởi băng đã tiêu sạch. Con sáu Quế Anh thấy cậu không còn chi để gặm, đã sớm hát bài “tẩu mã”, quất ngựa truy phong. Mà ngộ, cậu công tử rảnh đặng cục nợ do chị chủ sự gán cho, coi bộ mừng chớ không buồn.
Cậu ta từ giã tôi nói về dưới lo việc nhà, định bán một mở ruộng nào đó và hẹn lối chừng nửa tháng hoặc hai mươi ngày sẽ trở lên và căn dặn tôi cái phòng xin để vậy đừng cho ai khác vô ở, vì cậu ta chí quyết ở đó chớ không ở chỗ nào khác hết, dẫu cho ở nhà hàng Tây Continental (Đại lục khách sạn) cũng không thèm!

Chú thích:

 (1) Mấy chục năm về trước, lối 1920, miệt Hậu Giang chưa có hát cải lương, vẫn coi hát Tiều (Triều châu) làm môn giải trí lành mạnh. Thường diễn tuồng Tàu trên rạp vải cao cẳng và lộ thiên, thí coi không tiền và thường diễn tích con quan ra đường gặp gái. Con quan trung thì ưa việc nghĩa hiệp, tế khốn phò nguy, công tử nầy để mặt thiệt đẹp đẽ môi son răng trắng, con quan mình thì thích chọc gái, bắt cóc, hiếp dâm, vẫn giặm mặt có một bệt phấn dày nơi mũi, vì hun gái quá nên ra cớ đỗi, rửa không ra, gọi "bạch tỹ công tử" (công tử mũi phấn).

* * *

 

27

Mánh lời nhà giàu Sài Gòn chọi với phương pháp làm giàu dân Sóc Trăng

Thiệt là ở đời không nên liệu trước, và việc đời qua mau còn hơn mây bay trên trời. Tôi chưa kịp ân báo, oán đền, bỗng đột ngột hay tin má Tư Hớn chết. Còn gì nói chuyện trả thù, vả lại bà Hớn đã lìa đời, thì mối oan nghiệt kia đã tiêu tan, tôi từng ăn cơm nhà Phật, lẽ nào nhỏ vặt. Lại phải sắm sanh lễ vật, cùng chị chủ sự đến nhà cũ, chỗ người ta bán máu mình lấy bẻ tiền phá trinh, nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu khóc người má cũ. Nghe thuật lại chuyện cũng trớ trêu. Má có nuôi một tay tứ chiếng già, để gọi là chồng. Mỗi lần má đi vắng, bọn em nuôi trong nhà, để trả thù má một cách gián tiếp, bèn dụ lão già dịch, chồng của má, cho lão tê lê mê và nhơn dịp ấy, bọn nó trút lọp của lão hết trọi, tức là làm cái việc trong truyện Phản ường, trong trận giao chiến đầu tiên, Hồ Nguyệt Cô thâu hết tinh lực của tướng Đường là Tiết Giao, khiến đến chừng má về, rảnh rang biểu lão lấy xe chạy chơi, thì xe đã hết xăng, còn chạy đâu được, má tức ấm ách, lâu ngày hoá ra đứt gân máu, nên chết thình lình. Và nghĩ đâu lão già nầy đã kiệt quệ hết sinh lực, nay định bán hết sự nghiệp, để vào chùa, nghe kinh gõ mõ niệm mấy câu sám hối chờ ngày xuống âm cung tìm má Hớn.

Chuyện chưa hết, là kế đó, chị chủ sự lại nhà, từ giã, báo tin chồng là Tây đoan tào cáo, nay ở Pháp trở qua, được thuyên chuyển về Bãi Xàu, cho coi thâu thuế lò nấu rượu Tàu, gọi công xi (công ty) rượu nếp Sốc Trăng, chỉ nói nay đã già, bay nhảy không lại ai, thà theo chồng, lấy hèm công-xi nuôi heo sướng hơn cho tiền góp bị em út giựt. Tôi hỡi ôi, như chim gãy cánh, chị nầy đi rồi là vi kiếng không còn, không khác ông trời cảnh cáo tôi nên cải ác tùng thiện là hơn. Vả chăng thằng lính kiểm tục gì đó, năm xưa, cho mình lọt nhà số, thì mình không biết tên họ nó là gì. Nhớ đến anh hạch giữ cửa nhà máy Chợ Lớn, rồi thầy hội đồng bán xoàn, nhớ thằng Tư “trời đánh” mà khiếp oai của nó, nhớ anh Tiều, vân vân, bỗng rùng mình rợn ốc, nếu luật nhơn quả là có, thì cái gông chờ mình dưới địa ngục âu cũng nặng to lắm rồi, thôi, hãy quên hết chuyện cũ, vả có cây sào Như Phước, mau mau vớ lấy lúc nầy là thượng sách.-

 Trong khi tôi hồi tâm trông chờ cậu công tử trở lên, xin thuật lại đây kỷ niệm chị chủ sự, và sự tích sau nầy là viết theo lời thuật lại của chị nầy khi đi điếu tang tía chàng công tử trở về.

* * *

 

28

Câu chuyện bán ruộng giữa nhà giàu Sài Gòn

Và chủ điền lớn Sóc Trăng

Trước đây lối đầu thế kỷ 20, khoảng 1920-1950, nơi mé sông Chợ Quán, có một nhà lầu, nay vẩn còn, và lúc đó là hãng dệt lụa lãnh Lê Phát (manufacture de tissage Lê Phát), chủ nhà là một đại điền chủ tân thời, dòng ông Lê Phát Đạt (nay còn để lại dấu tích là nhà thờ huyện Sĩ), ông nầy tên Vĩnh, có ruộng lớn ở Tân An và có một sở ruộng thật lớn ở Sốc Trăng, làng Phụng Hiệp (ném về tỉnh Cần Thơ) nhưng về địa thế đi chợ Sốc Trăng gần hơn, nên ông chọn địa chỉ ở Sốc Trăng. Ông Vĩnh là người rời rộng, lịch duyệt tình đời, xử thế rất được lòng người tá điền của ông và khi chết (sau 1945) vẫn để tiếng thơm hơn là tiếng xấu. Ông biết chữ Nho và học lực chữ Pháp đến bực tú tài, người như ông, lớp xưa, thiệt là hiếm có. Ông lại rất rành về hát bội, và có một gánh hát, nhớ như là lấy hiệu Kim Thành. Khi ông học ở Pháp thành tài về nước, ông có thiện chí muốn đem phương pháp tân tiến Âu Mỹ áp dụng cho xứ sở. Nhờ ông có Pháp tịch, nên ông xin khẩn đất dễ dàng. Ông xuống Phụng Hiệp khi con kinh xàng nầy vừa đào, nối liền sông Cần Thơ (Hậu giang) với sông Sốc Trăng (Ba xuyên), ông mua lại của điền chủ sạt nghiệp bán rẻ và ông khẩn thêm vùng hậu bối là đất mới trước là rừng tràm, sở ruộng của ông lớn không ruộng ai ví bằng, rộng lối một ngàn mẫu tây (1.000 ha) liền lạc một miếng vuông vức, đặc biệt là ruộng không có bờ mẫu, khiến nên khi có gió lớn, đánh ngọn lúa dợn sóng, trông như biển xanh ba đào sóng dậy. Khi làm đất mới, ông cho dân đốt rừng sạch cỏ năn và lác sậy, còn lại gốc tràm và cây khác cháy chưa sạch, ông có máy trục nhổ bứng không chửa một gốc rễ, sạch bót như bàn cờ. Nhưng ông làm ruộng liên tiếp mấy mùa đều hoàn toàn thất bại. Sau rõ lại chung qui vì ông đi trước thời gian quá sớm, vì ông chỉ có một mình dùng phương pháp ấy, khiến nên ông làm không lại ông trời già. Muốn chiến thắng luật thiên nhiên, chỉ có lối áp dụng phương pháp làm tập thể, mà lúc ấy chưa ai biết để cùng ông thực hành. Bởi ông cô thân lấy tải chánh và sức lực một người mà khai hoang đến ngàn mẫu ruộng giữa rừng tràm còn cây cối cỏ rậm chứa nào chuột bọ nào chim chóc, và như vậy ông làm sao chống nổi thiên tai liên tiếp năm dài... Năm nào cấy lúa sớm thì chuột đồng ra cả bầy muôn thiên cắn ăn hết lúa vừa trồ mộng và mạ non vừa cấy. Đến khi lúa vừa ra lá xanh tươi, chiều ra xem mừng chưa kịp no, đến sáng ngày ra thấy mà thảm não, vì thừa đêm tối trời cua đồng ra cắn nát không chừa một cọng lúa non, và nếu rán giữ khỏi nạn chuột nạn cua, tránh được cá không ăn, đến lúc lúa trổ đòng đòng, bắt lần đến lúc lúa có hột... vừa mừng một đỗi như vầy năm nay thế nào cũng có tiền trang trải xởi bớt nợ thiếu, ngờ đâu giấc chiêm bao của chị bán sữa hiện ra. Ngủ một đêm sáng ngày ra xem ruộng thì hỡi ôi, chim trích và chim mỏ nhát và đủ thứ chim phá hoại khác (sẻ sẻ, óc, cau, chàng nghịch) từ rừng U Minh và chỗ khác bay lại, vì đánh hơi một ngàn mẫu của cậu Hai Vĩnh có lúa chín, sẵn đang đói, bèn làm một đêm, sáng ngày sạch bách không còn một hột trên cọng hôm qua dịu oằn đầy hột. Như đã nói, vì cậu Hai tiến bộ quá sớm, làm ruộng khác hơn người ta, ỷ sức mình biết dùng cày máy trục máy nhổ gốc cây và có nhiều tiền, nên tưởng như vậy là đủ thắng thiên, không ngờ trồng lúa cô lập trong một vùng còn nhiều rừng bụi chuột chim, thì chim chóc và thú rừng vì đói nên chúng đến cắn phá không chừa hột nào, lối làm tập thể chỉ có hiệu nghiệm là phải làm thật đông người, đồng hè một lòng khai hoang cùng làm một lúc, thì khi lúa trổ hoặc khi lúa chín, dầu có bị chim chuột phá phách, chúng cũng không ăn hết được và làm gì cũng có dư cho chủ ruộng ít nữa thu hồi vốn liếng lại được đúng với danh từ “đủ ăn đủ xài”.

Tôi nghe đến đây, buồn ngủ quá, ngắt lời chị chủ sự rằng việc cậu Hai nầy có dính dấp gì với cậu công tử kia chăng, và có ăn nhậu gì vào đời tôi mà chỉ kể dài dòng chán quá. Chị ta không để tôi nói hết câu lại kể tiếp rằng hãy nghe cho đủ ngọn ngành rồi sẽ hiểu. Số là cậu Hai biết nhiều phương pháp hay ho, ngặt nổi nói cách mấy cũng không ai làm theo, tỷ như muốn trừ chuột, cậu khuyên đừng bỏ đất hoang, và khi không còn chỗ trốn thì số chuột đồng sẽ bớt. Muốn trừ nạn cua còng, thì nên nuôi vịt, vịt con kiếm ăn ngoài đồng sẽ rỉa từ cọng lúa ăn hết trứng mén luôn và con rầy con sâu phá hoại, còn như chim trích và mỏ nhát thì nên sắm súng vân vân, tóm lại phương pháp làm ruộng tập thể như vậy, không lo gì thất bại. Khi cậu Hai thấy nói mà không có người hưởng ứng nghe theo lời, cậu day qua kế khác là rủ ren những người vô tích sự và thất nghiệp xuống Phụng Hiệp với cậu, sẽ có phương thế làm ăn lành mạnh, như làm “tằng khạo”(1) giữ ruộng, trừ nạn cướp trộm, ăn cắp vặt. Nội cái biết làm và siêng năng thiếu chi cách làm ra tiền: nuôi heo, nuôi vịt, mót lúa, rau muống mọc tràn trề không làm gì cho hết, và cái luật thiên nhiên con thú nầy nuốt con thú kia, nhỏ hiếp bé, bé làm mồi cho con lớn là luật trời sanh coi vậy mà hay hơn thuốc hoá học, tuy có lợi mà vẫn có hại, lâu ngày sanh nhiều bịnh bất ngờ và ô nhiễm bộ máy tiêu hoá, v. v. Không mời rủ được bằng cách làm ăn lương thiện, thì cậu nhem thèm trai chưa vợ bằng gái dư thừa, giỏi việc tề gia: “Hãy xuống dưới tha hồ mà lựa vợ. Thiệt thà như đất cục, biết tiện tằn giữ của không ăn xài như gái Sài Gòn”.

Tội nghiệp cho cậu Hai Vĩnh, làm ruộng ên thì thất bại, cho hoá đất thì lỗ lã đến phải xuất tiền nhà đóng thuế điền. Rốt cuộc, cậu ngã lòng, nên treo bảng bán: “Bán một sở đất nguyên miếng, diện tích 1.000 ha, trị giá 80.000$00. Ruộng tốt, gần chợ Phụng Hiệp, trên quốc lộ số 4 đường Cần Thơ đi Sốc Trăng. (Hỏi ông Lê Văn Phát, nhà số... đường mé sông Cầu Kho (Sài Gòn)”.

Bảng treo khá lâu mà trong xứ đang hồi kinh tế khủng hoảng, một trăm đồng bạc kiếm gần đỏ con mắt không ra, dễ gì có tìm chục ngàn đồng hầu mua đất nầy, lại còn tiền trước bạ, cầu chứng là khác. (Nên nhớ một trăm triệu ngày nay còn dễ kiếm hơn một trăm ngàn hồi đó).

Cậu Hai rao trong nhựt trình bán ruộng, rồi từ ấy cậu lên lên xuống xuống ở Cầu kho nửa tháng, hai mươi ngày, thì đi xe hơi nhà xuống Sốc Trăng vài bữa để tìm người bán đất. Cũng lạ, cậu từng sống lâu bên Pháp, và ngày thường vẫn ăn ở phong lưu theo Pháp, nhưng khi xuống Sốc Trăng, cậu không khi nào ghé băng-ga-lô (bungalow) có đủ tiện nghi và vẫn thích trú ngụ nơi khách sạn An Nam của ông Ba Hùng vì ở đây dễ bày mâm hút giỡn cợt với ả Phù dung thêm có tẩm quất (đấm lưng) mỗi khi mỏi mệt. Khách sạn nầy nằm trên một con đường hẻo lánh, yên tịnh lại được gần chợ búa, đêm khuya mì cháo đều gần. Một khi nọ, cậu xuống nhằm mùa mưa, tiếng ảnh ương đòi bắt cặp khiến cảnh thêm buồn, và để giải cơn sầu, cậu đốt cây đèn dầu lạc bày trên bộ ván trong phòng, rồi sai anh bồi đi mời cô Sáu C. mà cậu nghe tiếng đồn và nay cậu muốn làm quen. (Đoạn nầy, trong tập hồi ký bà V.A. viết tên S.C. khiến tôi nhớ đến hình dung cô nầy, hiện lên trú ngụ và lấy chồng ở khu Chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng và Cao Thắng, tôi có ý muốn gặp lại, nhưng suốt mấy phen tìm mãi chưa gặp nhà. Những ai như tôi từng ở Châu thành Sốc Trăng, lối bốn mươi năm về trước, khoảng 1935-1936, đều biết mặt biết danh cô Sáu C., nếu gọi là hoa khôi thì hơi quá đáng, vì cô có đấu sắc đẹp trong cuộc nào đâu, nhưng những trai tuy đã có vợ (như tôi) mà lòng còn khao khát món lạ, và luôn luôn “xôi chợ ngon hơn cơm nếp nhà”, đã sẵn máu 35, thì ai như nấy, đều nhìn nhận cô Sáu có đôi hàm răng trong trắng và đều đặn như bắp non, như ngà mới, như hột dưa, mỗi lần cô cười thật là quyến rủ. Gương mặt cô không xinh lắm, nhưng nhìn lâu tựa hồ có một ma lực khuyến mới lạ lùng, nhứt là tướng cô đi như thách đố, mỗi sáng cô đi dùng điểm tâm ở góc đường Đại ngãi và thả một vòng thành phố thì bao nhiêu khách trong quán trong tiệm buôn, đứa quên băm thịt xíu mại, đứa quên lắc bàn toán cầu tài, cặp đùi ếch dính sát vào quần lãnh mới vừa láng mướt vừa no tròn, cô Sáu không to không bé, vẫn vừa vặn theo thể cách con người mình dây, trời ơi, ngày nay cách đã trên ba bốn mươi năm, tuổi đà gần xuống lỗ, thế mà làm sso tả lại cho đúng, mỗi bước uyển chuyển của cô nó khiêu gợi làm sao và bắt nhớ và thèm thuồng. Ngực của cô chu choa, ngực của cô, tuy năm đó cô đã trên hai mươi cái xuân đang độ, và gió sương tắm gội đã nhiều, nhưng phong độ vẫn đầy đủ hơ hớ còn y, hoặc nói cho đúng điệu, còn nở nang “thấy bắt thèm”, còn sáng như cặp đèn pha xe Hốckích (Hotchkiss) (thuật y lời S.C nói). Cô Sáu từng nói với tôi, một cách vô tội vạ, rằng: “Ngày nào cặp đèn pha (nhũ hoa) của cô còn, thì cô vẫn còn”. Câu nầy có nhiều nghĩa, và cô đã xưng tên cô rồi đó Sáu Còn. Thêm cô đã dí dỏm sánh ngực cô với cặp đèn xe hơi thuở ấy và hiệu xe Hotchkiss, là hiệu đắc khách nhứt của thời 1935-1940 nầy. Tuy ít học, nhưng cô ăn nói rất có duyên, tuy cô không đẹp hơn ai, nhưng trong giới yêu hoa chợ Sốc Trăng, cô ăn khách vào bậc nhứt.

 Kể về bụng dạ và cách cư xử ở đời, cô là người sáng suốt. Đầu buổi kháng chiến 1945-1946, cô nhập ban cứu thương để chống Pháp.

 Lúc vận đảo bên ta thất cơ rút lui, cô bị quân đội Pháp bắt trên một chiếc tam bản cô cùng đi với hai du kích, Tây xuống xét tam bản, gặp một cây súng lục chôn trong nồi thịt kho, nếu nói của hai thanh niên kia thì mấy mạng cũng không còn, cô có can đảm nhìn nhận là của cô, toà Pháp chỉ phạt cô ba tháng tù... Ấy con người cô Sáu C. là thế đó, tuy trong giới ăn sương, nhưng lòng thương nước ít ai bì kịp.

 Khi hôm ấy bồi phòng đến mời cô “đi khách”, cô ngồi xe kéo, đến nơi, bước vào phòng, thấy một ông già khô đét mặc bộ áo ngủ nhục nhục, trông dáng điệu “hết xài”, cô chào hỏi lơ là, ngồi chưa nóng đít, đã xin về không ở lại.

Cậu Hai thấm mật, hiểu cô chê mình, nên vội sai bồi trở lại nhà cô Sáu, gọi cho được một ả khác, không cần xinh hay không.

 Nằm nốt đêm với cậu, chỉ tiêm thuốc cho cậu xơi, trò chuyện ít tiếng, suốt đêm hoàn toàn cậu không đá động đến, và rạng ngày, như thường lệ, cậu hỏi: “Em muốn mấy miếng?”
Như đắng thì khỏi hỏi, cô ả đáp. Tà-líp của chúng tôi đã định, suốt đêm là hai miếng (cô ta hiểu miếng là một đồng bạc giấy thuở ấy). Còn như ngọt, thì hơn số đó bao nhiêu cũng tốt!
- Chà! Chà! Biết sao mới là ngọt? Cho là đắng đi? Và hai miếng là vừa!

 Rút ra hai miếng trao tận tay cô ả, cười tình, nựng cằm cô gái rồi đưa ra cửa phòng. Cô ả lầm lì không nói gì, lên xe kéo về thẳng, chừng ấy xem lại mới biết lúc nãy ông già nói hai miếng đã vừa, nay hai miếng là hại trăm bạc (200$00) và hai trăm thuở ấy giá trị sánh với bạc năm 1982, đáng bạc ngàn chớ chẳng chơi.

Cô ả mừng quá đỗi mừng, vội vã chạy kiếm cô Sáu C. để khoe!

 - Lão già coi vậy mà ngọt ghê, đi với lão một đêm, lão bê đơ xăng (deux cénts) đây nè!
Cô Sáu cười gượng nhưng không nói lời nào.

Qua đêm kế cậu Hai cho mời ả ấy nữa và đêm thứ ba cũng vậy, cũng đòi cho được ả ấy, vẫn không rờ đốn một chút da, và cứ mỗi sáng bê hai tờ, theo tà-líp cô ả nói. Ba đêm đếm đủ sáu trăm đồng. Từ ấy danh cô Sáu vẫn còn, tuy có mất một mối ngon, và cô ả vô danh kia được tặng cái tên ngộ nghĩnh “Cô Hai Xít xăng” để kỷ niệm ba đêm đi khách được sáu trăm đồng tức six cents piastres (600$00) ngon lành nhứt hạng. Tiền trong hộp Bó-ti-bơ (Petit beurre) là tiền cậu Hai bán sở ruộng Phụng Hiệp. Bán cũng cam go lắm chớ không vừa. Cậu Hai dùng thì giờ đi thăm và mời các nơi làm ăn lớn từ Cần thơ đến Sốc Trăng, Bạc Liêu, sâm banh cơm Tàu đêu nếm, đâu đâu cũng tiếp đãi tử tế nhưng thảy đều than muốn thâu gọn sự nghiệp lại, chớ không muốn kinh dinh ra lớn, kinh tế khủng hoảng quá, lúa bán không chạy.

Sau đó có người mở hơi muốn mua nhưng trả sụt còn 60.000$00 thay vì 80.000$00 cậu Hai chê người ấy chưa đáng mặt đại tư bản, tuy khích thì giận nhưng rốt cuộc cậu Hai đấu trí không lại người ấy. Đi đòn thẳng thắn không xong, cậu Hai trở qua dùng kế độc. Cậu Hai trở về Cầu Kho, đọ hai tháng sau, một buổi trưa nọ, người trả giá 60.000$00 đang nằm hút tại nhà, bỗng có một ông Pháp ăn mặc sang trọng, đi xe mới hiệu Alpha-Roméo ghé trước nhà, trao danh thiếp xin ra mắt:

Robert Grémieux

Représentant de la Société Rizicole d Transbassac

 C/o Hôtel Continantal (Sai gon)

 Siège social N..., boulevard Haussmann, Paris

dịch là:

Ông Robert Grémieux, đại lý hãng ruộng Hậu Giang, tạm ngụ nhà Đại lục ở Sài Gòn, trụ sở chánh, nhà số... đại lộ Haussmann, Paris.

Chủ nhà ra tiếp, khách bày tỏ mình là đại diện hãng đề trong danh thiếp, nay hãng tính mở một đồn điền lớn ở Hậu giang, hôm trước coi theo báo đã tiếp xúc với cậu Hai nơi nhà ở Cầu Kho, nhưng cậu Hai cho hay sở đất đã thương lượng với chính ông mà tôi đang nói chuyện đây, và dặn tôi hỏi ý ông nhứt quyết thế nào, rồi cậu Hai mới định đặng. Như nay ông đây sẵn lòng nhượng quyền mua sở ruộng cho hãng Pháp thì khách ký liền một ngân phiếu mười ngàn (10.000$00) gọi tiền thế chưn, lời giao hãng Pháp ưng mua 1.000 ha ruộng Phụng Hiệp với giá bạc là 100.000$ hạn kỳ nội trong sáu chục ngày, sẽ xuống làm giấy tờ dứt khoát và 10.000 nầy là tiền cọc, quá sáu chục ngày không thực hiện tờ đoạn mãi thì kể như mất luôn.

Nói dứt lời, khách ký một ngân phiếu một muôn bạc để trên bàn, bắt tay chủ nhà từ giã lên xe đi thẳng.

Sáng hôm sau, chủ nhà lấy xe nhà trực chỉ lên Cần Thơ, nhà băng trả đủ 10.000$ theo ngân phiếu, ông ghé sở bưu điện đánh dây thép mời cậu Hai xuống gấp ông bằng lòng mua sở đất y giá 80.000$. Vì vậy cậu Hai hả hê mới có tiền bê cho cô ả tứ thời sáu trăm, trong khi ông mua ruộng về nhà nằm chờ mãi mà không thấy bóng hình lão Tây đi xe Alpha-Roméo tháng trước. Chuyện kể đến đây, ai ai cũng tin chắc ông nhà giàu ở Sốc Trăng bị ông nhà giàu ở Sài Gòn xuống gạt. Nhưng ông Sốc Trăng đáp tỉnh bơ: “Tôi lấy vốn trong nhà là 40.000$ thêm 10.000 của tên Tây nọ là 50.000$, nên chi tôi chỉ hỏi bạc chà 50.000$ là đủ cuộc tiệc. Nếu trời cho tôi trúng mùa, nội ba năm tôi đủ sức dứt nợ chà, và có thêm sở ruộng Phụng Hiệp nầy là đất tương lai còn phát nữa, hoa lợi còn lớn nữa, có sao mà sợ!”. Quả thật, ông ấy kinh nghiệm có thừa. Sau ba năm cần cù, ông trả dứt nợ chà và gọi em về giao cho coi sóc. Và mầy biết nãy giờ tao kế lễ dài dòng làm cho mầy sốt ruột và người mua ruộng cậu Hai Vĩnh là ai, mầy đoán đi: Đó là ông Như Gia, anh ruột thằng Như Phước của mầy. Bây giờ cho tao từ giả theo chồng xuống công ty rượu nếp Bãi Xàu dưỡng cái thân già. Mầy cũng nên cải tạo lấy thằng Như Phước cho yên thân! Cái già sồng sộc nó thì theo sau. Đã ba mươi tuổi đầu, còn kén chọn gì nữa. Gái nửa sạc vở được ông hoàng đòn như công tử Như Phước, tao mà ở địa vị mầy thì đã từ lâu không cho đám con Sáu Cúi Ên (Quế Anh) cướp nước nhứt. Nay cũng chưa muộn và không nên để dịp tốt trôi qua. Ngày nào trái đất còn xoay, đường đi vẫn còn dài và lo chi chị em mình không có ngày trùng phùng lại nữa. Thôi, văn hay chằng luận nói dài, au revoir, em nhé!

Tới đây, tôi cũng tạm chấm dứt thiên ký sự nầy và hẹn hồi sau phân giải. Dứt như vầy đột ngột thật, nhưng tóm tắt lại, bước đường lưu lạc khoảng đầu, anh nghe đã đủ, đến khoảng sau nầy, nhớ câu tái hồi đầu “thị bách niên xuân”, nay tôi tu bỉ, và gặp cảnh ngộ éo le, vừa sám hối thì người chồng trẻ, anh Như Phước vội tách đi trước bỏ tôi gãy gánh nửa đường và chỉ còn chút kỷ niệm mỏng manh chưa muốn cho người ngoại cuộc biết. Khoảng đời sau của tôi, xin cho tôi niêm phong và giữ lại: tôi còn sống ngơ ngờ nói ra thì chua chát quá. Ngày nào tôi buông xuôi hai tay trong ván sáu tấm, khi ấy mặc tình sẽ phanh phui. Vả lại đoạn sau đã hết hấp dẫn rồi, vì tôi đã thôi việc cướp của bỏ chồng... Người tốt trong xã hội nay kể ra vẫn có, nhưng đều lụt lụt thường tài, biết cho mình và không biết xây dựng cho chung, cho nên việc nắng mưa phong vũ khó tránh, chúng ta ngày nay phải chịu. Biết đời nào trở lại cảnh thuở xưa, coi vậy mà sướng hơn nay rất nhiều. Nơi đoạn mở đầu tôi có nhắc hai câu chót bài thơ ông Phủ Ba Tưởng. Ngày nay ít ai thuộc thơ ông vì có người chỉ trích ông là Việt gian phạm tội bán nước. Tôi đây là gái từng bị xé giấy không có quyền đính chính việc của đàn ông hiểu, nhưng tôi có quyền biểu biết theo tôi và tôn sùng Phủ Ba. Bài “Lão ky qui y” xin chép lại đây, gọi kết thúc đường đời một người như tôi nay trở về đường chánh! bài thơ ấy nguyên văn như vầy:

LÃO QUỴ QUY Y THƠ

Chày kình gióng tỉnh giấc Vu san,

Mái tóc kim sinh nửa trắng vàng!

Đài kính biếng soi màu phấn lợt,

 Cửa không đành gởi cái xuân tàn

 Chạnh niềm hoa liễu vài câu kệ,

An cảnh tang du một chữ nhàn!

 Ngảnh lại lầu xanh thương những tre

 Trầm luân chưa thoát nợ hồng nhan”

(theo Khuông Việt “Tôn Thọ Tường” do nhà in Ngày Nay Hà nội xuất bản 1942, trang 92).

Mấy người chê ông, làm thơ hay hơn ông không mà dám chê kia nọ? Tôi là đàn bà không phép đứng ra kêu oan cho Phủ Ba, nhưng tôi vẫn tôn sùng ông trong lòng.

Chào ông tác giả quyển “Sài Gòn năm xưa”.

Ký tên: Mme V.A.

(chép làm tập II “Sài Gòn năm xưa” ngày 23 tháng sáu dương lịch 1982).

 

Chú thích:

(1) Tằng khạo: tiếng Tiều châu, viết Hán tự là "đồng khảo" người coi ruộng thí cho chủ

* * *