Sách » Lịch Sử » Nước Nhựt Bổn - 30 năm Duy Tân

Chương 5: Công phu giáo hóa

Ai nấy đã biết tới giữa thế-kỷ 19 vừa qua, dân-tộc Nhật-bổn vẫn đang là một dân-tộc còn hèn yếu quê mùa, bo bo thủ-cựu, chẳng hơn gì những dân-tộc khác ở Đông-phương nầy cùng trong thời đó ; thế mà chỉ có một mình Nhựt-bổn vụt chốc đổi mặt thay da, xăng xái nhảy vọt lên đài văn-minh phú-cường được, là tại sao vậy ?

Chắc có nhiều người trả lời mau mắn :

-         Tại dân-tộc họ biết thời thế mà tỉnh-ngộ tự-tân.

Chính phải vậy rồi, song tôi tưởng câu trả lời ấy chưa đủ tỏ hết ý-nghĩa, tất chưa làm thỏa lòng những người muốn hiểu rộng biết xa được. Nếu có ai cắt-cớ lại hỏi vặn ta : “Cùng ở trong cái trình-độ thấp hèn gần giống như nhau, và cùng gặp cảnh-ngộ đại-khái như nhau, thế sao chỉ có một mình dân-tộc Nhựt-bổn biết thời-thế mà tỉnh-ngộ tự-tân, còn các dân-tộc khác thì không ?”, vậy thì ta liệu trả lời ra sao cho được đây ? Thiệt vậy cùng trong cái thời-gian xấp-xỉ lối đó, Đông-phương có mấy xứ cũng vì lẽ đóng cửa tuyệt giao, hay là vì lẽ chém giết tín-đồ Thiên-chúa, mà gây nên có cớ cho liệt-cường Âu Mỹ đem súng đồng tàu trận tới hỏi tội ra oai, chớ nào phải riêng mình xứ Nhựt mới có cái cảnh-ngộ ấy đâu ! Nhưng sao mấy dân-tộc khác đều phải chìm đắm suy vong vào trong tay người, trừ ra một mình Nhựt-bổn là vẹn vẽ nguyên lành, lại mau mau đổi thay tấn-tới cho kịp thời bằng người được, vậy thì ở trong tất-nhiên họ phải có một cái gốc nguồn, một cái lực-lượng sẵn sàng làm sao đó rồi tới nay họ mới nảy ra tỉnh-ngộ tự-tân được như thế chớ.

Ấy là một vấn-đề quan-hệ, chúng ta nên tìm tòi suy xét.

Chính là vấn-đề giáo-hóa.

Nhựt-bổn trở nên một quốc-gia dân-tộc như ta thấy ngày nay, có thể nói rút lại một câu, là chỉ nhờ cái thành-hiệu của việc giáo-hóa khôn khéo mà ra. Giáo-hóa của lịch-sử dân-tộc, giáo-hóa của quan giỏi vua hiền, giáo-hóa của các bậc chí-sĩ tiên-giác, mấy cái nguyên-tố đó chồng chất lên nhau, kết thành tinh-ba rồi sanh ra đứa con quý-báu, tên là : Duy-tân tự-cường.

Bởi vậy, nếu ta muốn biết rõ lịch-sử duy-tân của Nhựt-bổn có gốc nguồn từ đâu phát ra, thì ta phải xét tới công-phu giáo-hóa của dân-tộc họ mới được.

Kể ra có hai phần quan-hệ nhứt :

Một phần là công-phu từ trong lịch-sử dân-tộc.

Một phần là công-phu của các bực chí-sĩ tiên-giác.

Chủ-ý chương nầy cốt đem những cái đặc-sắc giáo-hóa có dính dấp bồi bổ hơn hết cho cuộc duy-tân của nước Nhựt mà bày tỏ ra, để cho chúng ta phải nhìn biết rằng việc giáo-hóa có quan-hệ lớn lao cho cái vận mạng nhục, vinh, còn, mất của một dân-tộc một nước ra thế nào ? Còn có chủ ý thứ hai là để giải nghi cho ít nhiều người mình thường băn khoăn không hiểu tại sao bốn năm nước ở góc trời Đông-phương nầy cũng là học trò văn-hóa Trung-quốc, nhưng rốt cuốc lại Trung-quốc, Cao-ly và Việt-nam mình dính chùm với nhau một lũ yếu hèn đến nay, còn Nhựt-bổn kia thì trổ ra đi được một ngả khác hết sức oai-vệ vẻ vang ?

VIỆC GIÁO-DỤC TỪ ĐỜI MINH-TRỊ TRỞ VỀ TRƯỚC

Ngay từ khi mới kết-hiệp nhau thành dân-tộc, xây-dựng lên quốc-gia, Nhựt-bổn đã có cái gốc quốc-dân giáo-dục rồi.

Cái gốc ấy là Thần-giáo.

Thần-giáo là nền tôn-giáo tự-nhiên của dân-tộc Nhựt-bổn, do nơi tư-tưởng nhứt-định “nước là nước thần sáng-tạo, vua là con thần trị-vì” mà lập nên. Bởi đó từ xưa người Nhựt lấy đạo thờ cúng tổ-tiên, tôn vua yêu nước, làm cội rễ giáo-dục. Tuy đời thượng-cổ chưa có chữ nghĩa sách vở chi để làm phương pháp giáo-dục, chớ trong hương-tộc gia-đình, trong phong tục tập-quán, người ta vẫn lấy lời lẽ truyền dạy khuyên răn nhau về đạo xử-thế lập-thân cho đúng với Thần-giáo. Trung hiếu, nhơn nghĩa, trong sạch, thẳng ngay, cang cường, võ dõng, ấy đều là những tôn-chỉ tinh-ba của Thần-giáo mà mỗi người Nhựt nào cũng phải trau dồi gìn giữ ở đời.

Nhơn vì tôn-chỉ của Thần-giáo như thế, cho nên về sau lần lần giao-thông với đại-lục rồi có Nho-giáo và Phật-giáo truyền sang Nhựt-bổn, càng giúp ích mở mang cho họ trở nên có văn-hóa rực-rỡ và có phương-pháp giáo-dục hẳn hòi chớ không có chống chỏi trái nghịch với những tư-tưởng sẵn có của họ một chút nào. Không như lúc sau, Cơ-đốc giáo ở Tây-phương đem qua, gây ra đến sự xung đột đổ máu rồi tới đỗi Nhựt-bổn đóng cửa tuyệt giao.

Nho-giáo sang Nhựt nhằm đời vua Ứng-thần Thiên-hoàng ( 應神天皇 - ??), vào khoảng năm 200 của Tây-lịch. Sau đó ít lâu thì tới Phật-giáo.

Dưới xa, sẽ có một chương nói riêng về Nho-giáo và Phật-giáo ở nước Nhựt, vì là một vấn-đề cần dùng quan-hệ, phải nói tách riêng mới được. Đây chỉ có ý kể sơ Nho-giáo và Phật-giáo có ảnh-hưởng cho việc giáo-dục của Nhựt-bổn thế nào mà thôi.

Người Nhựt rất hoan-nghinh Nho-giáo Phật-giáo truyền vào xứ họ, là vì họ thấy tôn-chỉ đại-cương của hai giáo ấy không khác xa gì tôn-chỉ Thần-giáo của họ xưa nay, nghĩa là đều dạy người ta về những đạo-lý trung quân ái quốc, nhơn nghĩa liêm sĩ như nhau. Nhứt là Nho-giáo đem chữ Hán qua cho họ có cách giáo-dục bằng sách vở chữ nghĩa rất lợi tiện phân-minh, chớ trước kia nước họ không có chữ riêng.

Bấy giờ trong nước mới mở ra trường học - có đại-học tiểu-học, có công-lập tư-lập - lấy Nho-học làm chánh-học, và lấy Hán-tự làm quốc-văn.

Chủ-ý giáo-dục, với hạng dưới là cốt dạy dỗ những chuyện thông-thường cần biết, còn với hạng trên là cốt rèn tập những người thông-thái làm quan giúp nước.

Việc phổ-thông giáo-dục, tuy có một lúc bày ra hạn chế, chỉ có mấy ông thầy chùa tu đạo Phật mà giảng đạo Nho thì mới được mở trường dạy học, nhưng sau rồi nhà-nước để dân tự-do, ai muốn mở trường dạy trẻ, nhà nào muốn nuôi thầy dạy học cũng đặng. Các trường phổ-thông nầy gọi là Tự-tử-ốc ( 寺子屋 - Terakoya), tức như mấy thầy đồ trong xóm ở xứ ta ngày xưa, mà đạo thầy trò nghiêm trang kính mến cũng thế. Duy có cách dạy ở Nhựt-bổn khác : Con trẻ vô học ở Tự-tử-ốc từ tám chín tuổi đến mười hai mười ba tuổi, bắt đầu học tam tự kinh trước rồi lần hồi học tới Tứ-thơ, song ngoài việc học sách tập chữ ra, còn phải học làm toán, học viết thơ, học nói chuyện, và học buôn bán giao-thiệp v.v… tùy theo chức-nghiệp gia-đình của đứa trẻ ra sao thì thầy đồ dạy cho môn học thích-dụng đó.  

Té ra về mặt tiểu-học của người Nhựt đời xưa đã biết dạy lối chuyên-khoa thích-dụng rồi, chớ không phải ròng dạy hư-văn như ta trước kia.

Đến như đại-học giáo-dục cũng đã chia riêng ra nhiều khoa : Văn-chương, nghệ-thuật, chánh-trị, pháp-luật ; ai học khoa nào chuyên riêng khoa nấy, nhà-nước nuôi cơm may áo cho và học-sanh có quyền mượn sách để đọc, vì đời xưa kinh sách chưa có bản in, nhà trường chỉ có ít bộ viết bằng tay, người học phải chuyền tay nhau mà coi.

Té ra về mặt đại-học ở nước Nhựt cổ-thời cũng đã biết cách tổ-chức hơi giống như đời nay rồi.

Dầu là bực học nào thì việc giáo-dục cũng là thu vào trong một mục đích : Hòa-hồn Hán-tài (和魂漢才 - Yamatodamashi Kanzai).

Thế nào là Hòa-hồn ( 和魂 - Yamatodamashi)

Hòa-hồn là tinh-thần sẵn có của quốc-dân.

Thế nào là Hán-tài (漢才 - Kanzai) ?

Hán-tài là kiêm thông tri-thức của ngoại-quốc.

Tóm lại tôn-chỉ giáo-dục, phải lấy Hán-văn Nho-học làm lợi khí để mở-mang học-thuật, bồi bổ trí-thức cho họ, nhưng họ là dòng dõi người Đại-hòa vốn có tinh-thần đặc-sắc rất quý báu tốt đẹp vậy thì tinh-thần đặc-sắc ấy họ phải quý chuộng gìn giữ luôn luôn, không vì học khôn học chữ của người mà bỏ cái hay của mình đi được.

Thế là việc giáo-dục ở nước Nhựt đời xưa, tuy có thâu-nhập Nho-học của Tàu và triết-lý của Phật làm cốt, nhưng đến cái gọi là tư-tưởng tinh-thần riêng của Nhựt-bổn đã có sẵn-sàng, thì họ vẫn còn giữ, chớ không hề để cho bị xâm phạm tiêu tan đi.

Về việc võ, thì có phép giáo-dục gọi là Võ-sĩ-đạo ( 武士道 - Bushido).

Muốn biết việc giáo-dục ở nước Nhựt cổ-thời, không thế nào không nói đến Võ-sĩ-đạo ; cũng như muốn biết giáo-dục của Âu-châu đời trung-cổ, thì ngoài giáo-dục nhà tu ra, tất phải nghiên-cứu đến giáo-dục kỵ sĩ (chevalerie) của họ nữa.

Chuộng võ vốn là tinh thần cố-cựu của dân-tộc Nhựt-bổn, nguyên-do từ trong sự tín-ngưỡng Thần-giáo, và lại bởi địa-lý, bởi dân-chủng buộc phải phấn-đấu mà ra, ở chương thứ 1 đã có nói rõ. Đến giữa thế-kỷ 12 (theo Tây-lịch) trở đi, có Võ-sĩ-đạo lập ra, tức là nền giáo-dục về việc võ. Nhà võ sĩ phải giữ gìn bổn-lãnh, trao dồi nhơn-cách của mình rất nghiêm rất khó ; kính Thần, mộ Phật, tập võ-nghệ, giảng văn-học, lấy đức thẳng-ngay kiệm-ước làm tôn-chỉ, coi lời nói mình nặng như Thái-sơn, không được sai chạy. Nhứt là không biết tránh nguy sợ chết là gì, kẻ nào nhút nhát tránh nguy sợ chết là kẻ trái nghịch Võ-sĩ-đạo.

Lúc bấy giờ, khắp nước đều lấy việc võ-dõng khuyên răn tranh-cạnh nhau, ai nấy gắng gổ làm cho rạng rỡ gia-môn của mình. Tới lúc chúa Nguyên là Hốt-tất-liệt (忽必烈 ) từ đất Mông-cổ dấy lên, đã thôn-tính được Trung-quốc mà làm vua rồi, liền thừa thắng đem binh ròng thuyền chiến tràn qua đánh Nhựt-bổn, bọn tướng-sĩ hải-phòng của Nhựt tuy là yếu thế, mà cũng lăn nhào ra đánh binh Nguyên rất là can-đảm, rốt lại phía Nhựt chỉ còn có ba mạng sống sót. Trận nầy làm rúng động tấm lòng dân Nhựt đối với việc chống giặc giữ nhà, thúc giục cho Võ-sĩ-đạo càng thêm phấn phát.

Từ đó, võ-sĩ rán sức tập rèn giáo-dục, bên trong lấy quan-niệm sống chết để trau-dồi tinh-thần, bên ngoài lấy những thuật cung mã đao kiếm để luyện-tập gân cốt, trở nên hạng người đứng trên hết tứ dân, làm bức thành đỡ ngăn che nhở nhà nước. Võ-sĩ tự gánh lấy công việc dẹp loạn an dân, coi là nghĩa-vụ trách-nhiệm của mình, hai cây gươm của võ-sĩ đeo bên mình, là cái dấu tỏ về danh-dự, sánh với sanh-mạng, danh-dự còn quý báu hơn. Võ-sĩ mà bị tịch-thâu mất hai cây gươm đó, rồi cấm mang trọn đời, ấy là cực-hình, chớ tử-hình còn là hạng thứ. Nhưng đã là võ-sĩ, thì ai cũng có tinh-thần dõng-cảm, thà chịu bay đầu nát thân, không khi nào chịu để cho mất song kiếm.

Võ-sĩ-đạo có cái cao-phong bỏ mình vì nghĩa, gan dạ xông pha, khiến cho Nhựt-bổn lừng lẫy oai danh ở hải-ngoại. Phong-thần Tú-cát ( 豊臣秀吉 - Toyotomi Hideyoshi) làm tướng quân đem binh vượt biển đánh Triều-tiên, tung-hoành oanh-liệt, làm cho vua nhà Minh nước Tàu phải giựt mình, chính là cái công của Võ-sĩ-đạo. Lúc nầy người Tây-dương đã bắt đầu qua Nhựt, những người Nhựt có chí đang muốn thâu thái văn-minh Tây-dương, chẳng may bọn ngoại-nhơn truyền-đạo làm cho Mạc-phủ sanh nghi, mới có chánh-sách khóa cửa từ lúc ấy mãi cho đến đời Minh-trị duy-tân, ròng rã 300 năm, nếu không vậy thì Nhựt-bổn đã chịu ảnh hưởng giáo-dục Tây-phương sớm lắm rồi.

Tuy vậy, trận Phong-thần Tú-cát đánh Triều-tiên cũng có ảnh hưởng lợi ích cho quốc-dân Nhựt, là được văn-hóa nghệ-thuật của Trung-quốc do ngả Triều-tiên mà truyền sang.

Sau tới họ Đức-xuyên làm tướng-quân, nhứt-thống toàn-quốc, thiên-hạ thái-bình, không phải dùng tới võ-lực nữa, bèn ra sức mở mang về văn-hóa. Thời kỳ nầy trải hơn hai thế-kỷ rưỡi, việc học-thuật giáo-dục mở-mang phát-đạt lắm ; chẳng những về mặt cổ-học mà thôi, cho đến tân-học cũng đã có một hạng người kiến-thức để tâm nghiên-cứu, khươi đào ra cái nguồn khai-quốc duy-tân sau nầy.

Việc giáo-dục ở Nhựt-bổn hồi xưa lai-lịch biến-thiên đại-khái là thế, ta chỉ xét sơ vậy cũng đủ, nhưng có một vài cái đặc-sắc lạ lùng kể ra sau đây, ta nên chú ý.

KHÔNG PHẢI NHƯ KHỈ THẤY AI LÀM GÌ CŨNG BẮT CHƯỚC Y

Sự thiệt, trước khi chưa có Hán-tự truyền sang, Nhựt-bổn cổ-thời không hề có văn tự riêng.

Có mấy nhà cổ-học Nhựt-bổn nói rằng xứ họ thuở xưa đã có chữ riêng gọi là chữ A-tỳ-lưu (阿毗留文字 - ??), có 47 âm, hình-dáng gần giống như Ngạn-văn (諺文 - )  là cổ-tự nước Hàn (tức là Triều- tiên hay Cao-ly ngày nay). Người Nhựt cho thứ chữ nầy là “Thần-đại văn-tự (神代文字 - ??), nghĩa là thứ chữ ở đời Thần mới dựng nước trị vì, hiện nay không còn thấy dấu-tích ở đâu nữa.

Song, một nhà bác-học ở đời Duy-tân là ông Đằng-cương Thắng-nhị ( 藤岡勝二 - Fujioka Katsuji) , đã có công khảo-cứu kỹ-lưỡng về quốc-ngữ Nhựt-bổn, nói rằng cổ thời Nhựt-bổn không có chữ riêng nào cả. Chẳng qua đời trước, khi đã có Hán-tự truyền sang rồi, có mấy nhà học-giả háo sự, lấy cớ Nhựt-bổn cổ thời không có chữ riêng là sự xấu hổ, bèn đoán chừng mà bày vẻ ra chữ A-tỳ-lưu cho có chuyện đó thôi. Dầu phải cổ-thời thiệt có thứ chữ ấy đi nữa, thì nó cũng chưa được thông-dụng cho dân, mà cũng chưa thành hình-thể, chưa đúng tư-cách một thứ chữ. Tóm lại, Đằng-cương nói quyết rằng thuở xưa Nhựt-bổn không có văn-tự riêng của mình bao giờ.

Tôi muốn nhắc tích xa xuôi như thế là để chỉ rõ ra rằng Nhựt-bổn bắt đầu có lịch-sử trở đi, tới 900 năm không có chữ riêng mà dùng ; việc giáo-dục lúc ấy chỉ là một cách mẫu-giáo khẩu-truyền, đại-khái cũng như nước Nam mình về đời Hùng-vương vậy. Đến lúc được 1000 năm dẫn tới (nhằm thế-kỷ thứ hai của Tây-lịch), có Hán-tự vượt biển truyền sang thì Nhựt-bổn mới có văn tự.

Từ đây, sự giáo-dục trong xứ đã có phương-pháp truyền-bá : Họ lấy ngay Nho-giáo làm quốc-học, Hán-tự làm quốc-văn.

Nho-giáo, Hán-tự của ông thầy Trung-quốc có ba cậu học-trò ruột : Cao-ly, Nhựt-bổn và nước Nam mình.

Nhưng mà giống người Nhựt có cái đặc-tánh tự-lập lạ lùng ; họ cần phải bắt chước ai về chuyện gì thì cứ bắt chước, mà vẫn giữ nguyên cái đặc-tánh tự-lập của họ, chớ không phải bắt chước như khỉ, thấy ai làm sao thì cũng làm theo y như vậy.

Người mình học theo đạo Nho chữ Hán, chỉ trừ ra đọc âm là khác Tàu một chút thôi, còn thì bao nhiêu chế-độ văn-vật của Tàu bày đặt thế nào, mình đều rước lấy và phỏng theo giống y như thế ấy. Từ áo-mão phép-tắc chốn trào-đình, lễ-nghĩa luật-lệ giữa dân-gian, cho đến mọi việc từ-chương, khoa-cử, tang-tế, phẩm-hàm v.v… nhứt thiết chuyện gì mình cũng in khuôn, ráp kiểu của Tàu, không sai một mảy. Trải mấy ngàn năm, hể Tàu vẽ vời thay đổi cái gì, ta đều bắt chước đúng y cái đó, làm như theo đuôi dính gót người Tàu, không khác gì hình với bóng. Khổ nhứt là cúi đầu nhắm mắt mà bắt chước cả cái học-vấn luân-lý của bọn Tống-nho và rước lấy cái độc hại mê-mộng khoa-cử, khiến cho dân-khí hèn-yếu, quốc-vận suy-vi, rồi thì thầy sao trò vậy, dính chùm với nhau một lũ hư hèn chìm đắm như ngày nay. Cao-ly cũng thế, vì họ cũng bắt chước Tàu một cách “chụp hình” như ta.

Nhựt-bổn đâu có phải vậy. Cũng thì học-trò văn-hóa Trung-quốc, nhưng mà họ biết lựa lọc điều hay, xa lánh mối tệ, để lập nên một tinh-thần cốt-cách riêng. Ta coi nội một chuyện học theo chữ Hán đạo Nho đủ tỏ ra giống người Nhựt có đặc-tánh tự-lập lớn lắm.

Một là không thèm chuộng hư-văn.

Chỗ cốt-yếu của họ trong sự lợi-dụng Hán-tự là để làm phương-pháp giáo-dục, mà giáo-dục chỉ chuyên thực-dụng, chớ không ham-chuộng hư-văn. Trong xã-hội cũng có một hạng là bác-học danh-nho, ưa mài dũa văn-chương, ngâm-nga thơ-phú bằng Hán-tự ; còn dân-chúng thì chỉ cốt nhờ nơi Hán-tự để học cho biết về lịch-sử, về đạo-lý, cùng là các việc nhựt-dụng thường-thức, nghệ-thuật, chức-nghiệp mà thôi ; đến việc văn-chương đối với họ chỉ là dư-sự, biết hay không biết cũng chẳng lấy làm khinh trọng gì.

Sự thiệt, Nhựt-bổn học chữ Hán mà không chịu nô lệ phục-tòng nó quá lố như Cao-ly với nước Nam nhà mình. Bởi vậy, khi chữ Hán đã truyền rộng ở trong dân-gian rồi, ngày nào người ta cũng phải thường viết thường dùng tới, có mấy nhà học-thức cao-kiến, thấy chữ Hán rằn-ri nhiều nét quá, vừa khó đọc khó viết cho người ta, và e bất tiện cho việc học-vấn giáo-dục, nên chi mấy ổng tìm cách sửa-đổi cho giản-tiện dễ-dàng. Rồi đó có lối chữ gọi là Bình-giả-tựPhiến-giả-tự ở trong trí riêng của họ đẻ ra. Nghĩa là họ nhơn chữ Hán mà tạo-thành một lối văn-tự riêng của Nhựt-bổn vậy.

Bình-giả-tự ( 平假字 - Hiragana ) là mượn lối chữ viết tháu mà biến ra chữ thiệt, để viết cho đỡ tốn nét.

Phiến-giả-tự ( 片假字 - Katagana) là lối chữ chỉ muợn lấy một “mảnh” của chữ Tàu, hoặc một bên, hoặc một góc, hoặc trên đầu, hoặc dưới cẳng, để viết cho được giản tiện, kẻo nguyên-chữ rắc rối nhiều nét quá.

Hiệp lối chữ mượn nầy với một phần Hán-tự còn để y-nguyên, lập thành ra lối văn-tự riêng của Nhựt-bổn, gọi là Hòa-văn ( 和文 - Wabun), nghĩa là chữ của dân-tộc Đại-Hòa. Có thể nói là “riêng”được hẳn hòi, là vì ta thấy ngoài Hòa-văn ra, những chữ Hán nào họ còn để y-nguyên mà dùng, thì khi viết ra mỗi chữ Hán ấy đều có thể chua theo âm Nhựt ở bên cạnh. Vả lại chính Hán-văn người Nhựt cũng viết theo thể-cách mẹo-luật riêng của họ, chớ không giống như hơi văn kiểu đặt của người Tàu. Mình đây học chữ Hán, đã từng có các cụ thơ hay văn giỏi, bóc lấy cái dọng  Hán Đường khiến cho người Tàu xem phải kỉnh phục, nhìn nhận không thua gì họ ; Nhựt-bổn thì khác, có người Nhựt đã nói : “Chúng tôi có lắm ông chuyên trị Hán-văn, viết ra dầu hay mấy mặc lòng, cũng vẫn có chứa cái khí-vị Nhựt-bổn trong đó”.

Có lần tôi được tiếp chuyện một ông lãnh sự Nhật ở Saigon, là Cao-trạch Trinh-nghĩa (高澤卓義 - Takazawa ???) , Consul Takasawa ), nhơn hỏi tại sao văn-pháp chữ Hán của người Nhựt viết khác người Tàu ? Ông Cao-trạch nói : “Có lẽ tại chúng tôi học chữ Hán từ đời cổ thế nào, sau vẫn tôn-trọng giữ gìn thế ấy ; còn chữ Hán ở bên Tàu thì trải nhiều lớp biến-thiên sửa-đổi  về những lề lối dùng chữ đặt câu mới tới ngày nay, tự nhiên văn-pháp hai đàng khác nhau nhiều”.

Tôi tưởng lời ông Cao-trạch (Takazawa) có lý.

Ngay đến Hòa-văn từ xưa truyền lại, cũng từng trải nhiều phen sửa-sang bồi-bổ cho tới nay, mới thành ra một thể-văn hoàn-toàn phổ-thông. Sách văn báo chí đều biên chép bằng lối chữ riêng đó, xen lộn với ít nhiều Hán-tự, nhưng thường bên cạnh Hán-tự có chua quốc-âm tức là Hòa-văn, rất là lợi tiện, dễ hiểu cho dân, đã không mất lâu công-phu học-tập và cũng không phải viết quá phiền phức như là Hán tự để nguyên hình thể. Thử coi một dân-tộc có tánh-cách tự-lập đến đỗi đi mượn chữ người ta cũng biến-hóa thành ra chữ mình như thế, đáng phục biết bao !

Nói tới đây tôi chợt nhớ lại ông bà ta xưa cũng từng dựa theo Hán-tự mà đặt ra lối chữ Nôm, nhưng chỉ vì cái óc mình quá sùng-bái, quá nô-lệ Hán-tự, cho nên chữ Nôm không có thể biến-hóa trọng-dụng mà thành ra một thể quốc-văn có lợi ích cho việc học-vấn giáo-dục như là Hòa-văn của Nhựt kia được, thật là đáng tiếc !

Hai là Nhựt-bổn không nhiễm cái độc khoa-cử làm quan.

Nước Tàu, từ đời Hán-đường trở đi, bày ra lề lối khoa-cử thi đậu làm quan, là cốt để lung-lạc cám-dỗ đám văn-nhơn say-mê cặm-cụi vào đó cho dễ cai trị, không ai còn tâm-tư trí-não để nghiền ngẫm suy cứu hầu có  nảy ra tư-tưởng nào rộng xa, lý thuyết gì cao kỳ được nữa. Vì bọn làm vua - hầu hết những kẻ sáng-nghiệp quân-chủ là hạng võ-nhơn - rất sợ những tư-tưởng cao, lý-thuyết lạ, có thể làm rúng động dân-tâm, bất lợi cho cái ngai vàng của họ. Như đời Châu về trước, là đời chưa có khoa-cử nhử mồi, trói óc người ta, thành ra tư-tưởng học-vấn được tự do phát-triển, có phải đời ấy đã nảy ra được lắm triết-lý cao, nhiều học-thuyết mới, và có những bực thánh-triết hiền-tài như Khổng, Mạnh, Trang, Mặc v.v… kế tiếp nhau nổi lên đó. Thử hỏi từ Hán-đường trở xuống, có khoa-cử bày ra rồi, nước Tàu có những tư-tưởng và nhơn-tài như thế mọc ra nữa không ?

Ai cũng phải trả lời : không !

Xét nội chỗ đó đủ thấy nọc độc khoa-cử là ghê gớm.

Nước Nam mình rước văn-hóa Tàu và rước luôn cả nọc độc ấy nữa, lại còn khéo vẻ vời châm chế cho độc thêm, hèn chi suốt cả lịch sử dân-tộc trải mấy ngàn năm, người mình không hề có ai sáng-tác xây dựng ra được một thứ gì gọi là cốt riêng, vẻ lạ ; rất đỗi tới lúc có những súng đồng tàu trận giàn ra ở trước cửa nhà mình rồi, thế mà các cụ danh-nho học-giả mình cũng còn mê mộng vào khoa-bảng từ chương, còn ỷ y vào cái đạo trị-quốc an-dân của Nghiêu-Thuấn Võ-Thang mới khổ !

Đem minh chứng ra như vậy để tỏ cho biết người Nhựt là khôn.

Thiệt, họ đón rước văn-hóa chế-độ của Tàu đủ thứ, chỉ trừ ra cái chế-độ khoa-cử là không. Nói cho phải, thuở xưa họ cũng có đặt ra phép thi để kén hiền-tài, nhưng cách thi giản-tiện tự-nhiên, chớ không quá trương-hoàng tô-điểm như khoa-cử bên Tàu để làm cho say đắm lòng người. Vả lại theo thường, họ trọng sự tấn hiền cử-tri như lối kén chọn nhơn-tài đời xưa, và cũng gần giống như lối đầu phiếu tuyển-cử đời nay, nghĩa là ai phải hiền tài, thế nào quan-trưởng sở-tại cũng phải tâu bày tấn cử để cho phiên-chúa hay tướng-quân bổ-dụng.

Huống chi bổn-ý giáo-dục của họ, bao giờ cũng có ý cốt huấn-luyện cho dân có nhơn-cách trước, có học-thức sau, hơn là có ý rèn tập người ta mai sau làm quan. Họ lấy tài võ-dõng ra tranh-hành phấn-đấu, để làm cho rạng tỏ gia-môn, lập nên công-nghiệp là phần nhiều. Có lẽ nhờ đó mà họ không vương nhằm cái độc hư-văn khoa-cử, và chính vì chỗ tránh khỏi cái độc nầy, nên chi ngay từ hồi xưa, nghệ-thuật công-thương của họ đã mở-mang khá lắm.

Ba là sớm biết Hán-học thiếu sót.

Dân Nhựt vốn giàu cái khí-tượng hăm hở tấn-thủ luôn luôn, không chịu ngồi một nơi, đứng một chỗ. Nội một việc bóc lột Hán-văn đặt ra thứ chữ riêng, như đoạn trên đã nói, chính là một cái khí-tượng tấn-thủ tỏ bày rõ ràng.

Đến đỗi sau khi Hán-văn truyền-bá tới một bực cao và lại có Hòa-văn đặt ra, lợi tiện cho việc học-vấn giáo-dục lắm, nếu như dân-tộc nào khác chắc lấy làm tự-mãn tự-túc rồi, nhưng dân-tộc Nhựt-bổn lại có ý bất-mãn về Hán-học đã lâu, cho là Hán-học hãy còn thiếu sót. Bởi bất-mãn về Hán-học, nên chi hồi xưa đã có những người chú ý chuyên-tâm về sự học khác.

Buổi đầu Mạc-phủ Đức-xuyên (trước đời Minh-trị duy-tân lối 250 năm) đã có năm ba người Âu-châu, nhứt là người nước Hòa-lan, lần mò sang Đông-phương buôn bán, nhiều nhà trí-thức ở Nhựt-bổn cùng họ giao-thiệp, xét biết cái học của Tây-phương là hay, rồi cặm cụi học-tập với mấy người Hòa-lan đó. Ấy là Lan-học ( 蘭学 - Rangaku). Chớ chi lúc sau đừng có mấy ông cố-đạo làm cho Mạc-phủ sanh nghi mà phải thi-hành chánh-sách khóa cửa, thì chắc học-thuật Tây-phương đã có thể tràn vô Nhựt-bổn từ sớm kia rồi.

Dầu sao mặc lòng, giữa đời Đức-xuyên là đời Hán-học toàn thạnh và Tây-phương bị nghi, thế mà trong nước vẫn có năm ba nhà học-vấn đã sớm giác-ngộ về chỗ hơn kém của hai thứ học Đông Tây, mà biết khuynh-hướng về thứ hơn, rồi lần lần giác-ngộ cảm-hóa khắp nước, thành ra một nền dân-gian giáo-dục mới, mở đường đi và lên tiếng trước cho cuộc duy-tân khai-quốc sau nầy. Ta nên biết cái hạng học-vấn tiên-giác có ảnh-hưởng lợi-ích cho nước non nòi giống là vậy đó ! Có đâu quá nô-lệ phục-tòng Hán-học như nhà nho nước mình, hèn chi có lúc Phố-hiến tụ tập ngoại-nhơn đông đảo, là lúc có kỹ-sư Pháp đóng tàu đúc súng dùm cho vua Gia-long, chớ hề có nhà học-vấn nào biết mở mắt dòm người, động lòng tự-giác một chút !.

Đó, ta coi dân-tộc Nhựt-bổn từ xưa, về mặt văn-hóa giáo-dục vẫn giữ tinh-thần bổn-chơn và có tánh-cách tự-lập, chẳng những là bắt chước người, mà khéo cân-nhắc lợi hại, lụa chọn dở hay, lại còn muợn chữ người để đặt ra chữ riêng của mình được, ấy là một sự cổ lai hình như chẳng thấy dân-tộc nào có. Cái cơ sở Minh-trị duy-tân dựng lên được mau, chính là nhờ có sẵn cốt-cách đời trước đó vậy.

 

ĐẠI-KHÁI VIỆC GIÁO DỤC TRONG ĐỜI MINH-TRỊ   

Trên đây đã có đoạn nói sơ về sự-nghiệp giáo-dục của Nhựt-bổn cựu thời cùng là chỉ tỏ ra mấy cái đặc-sắc về văn-hóa trước đời Minh-trị duy-tân. Đoạn nầy nói về sự-nghiệp giáo-dục của chính đời Minh-trị, cố nhiên cũng chỉ nói lược những điều cốt-yếu mà thôi.

Trước hết, có một điều ta nên nhìn biết ngay, là trong cái quy-mô lớn lao của Minh-trị Thiên-hoàng nhứt-định cải-cách duy-tân, việc giáo-dục chính là việc chú trọng đầu hết. Bởi vậy, bữa hôm Thiên-hoàng hạ chiếu duy-tân, ngài ngự ra điện Tử-thần, hội các công-khanh chư-hầu làm lễ tế cáo trời đất và tổ-thần, rồi thề-nguyền năm điều, ta thấy hai điều quan-hệ về giáo-dục. Điều thứ 4 thề bỏ hết những thói hư tục lệ ngày xưa, và điều thứ 5 thề phải cầu học những trí-thức mới trong thế-giới, mở mang tân-học cho quốc-dân. Thế là tỏ ra chủ-tâm của vua Minh-Trị chuyên trọng việc giáo-dục lắm.

Việc giáo-dục đã đành cần phải mở mang sắp đặt cho đủ các trường các khoa như bên Âu Mỹ, nhưng ý vua Minh-trị ân-cần thứ nhất về chỗ giáo-dục bình-dân, hầu cho trong nước không sót một tên dân nào mà không có học, không biết chữ. Nguyên là việc giáo-dục ở nước Nhựt thuở xưa tuy có hồi đã tổ-chức hẳn hòi, khá lắm, nhứt là về đời cận-kim, đời Mạc-phủ Đức-xuyên, văn-hóa giáo-dục rực rỡ đáo để, nổi lên nhiều bực danh-nho bác-học không phải là vừa, nhưng vậy mà công ơn giáo-dục chỉ hạn ở trong đám hoa-tộc và sĩ-tộc được hưởng nhiều thôi, chớ đám thứ-dân còn sót Thú-dân thì quanh quẩn có mấy trường học “thầy đồ lối xóm” gọi là “Tự-tử-ốc (寺子屋 - Terakoya) để học tập viết chữ đọc sách và làm toán, chỉ có ba món đó thôi, ngoài ra không học trí-thức cao xa gì khác. Nay vua Minh-trị muốn cho hết thảy thứ-dân đều có học-thức như ai, cho nên ngài rất lưu-tâm vun bón từ dưới gốc, nghĩa là mở mang tiểu-học thật rộng. 

Khi công-bố thể-lệ việc học ra, trong tờ dụ của Minh-trị Thiên-hoàng có câu :

- “Từ nay trở đi, chúng thứ nhơn dân, không kể hoa-tộc sĩ-tộc cùng là các hạng cày ruộng, làm nghề, đi buôn, cho đến đàn bà con gái cũng vậy, tất sao trong làng đừng còn một nhà nào không học, trong nhà đừng còn một người nào không học (********************).

Xuống tới chặng khác, có câu dụ nầy càng tỏ ra ý vua Minh-trị hết sức ân-cần về việc tiểu-học :

- “Duy có môn học cao xa, là tùy theo tài-năng của mỗi người, chớ như hạng tuổi nhỏ trẻ con, thì không hạn là trai gái, tất phải cho chúng theo học tiểu-học hết thảy, nếu không thế thì trách lỗi ở những kẻ phụ huynh (******************).

Nói rồi làm liền. Việc sắp đặt chỉ trong ít tháng, toàn-quốc mở ra trường học lối mới đầy dẫy, cộng có 8 trường đại-học, 256 trường trung-học, 53.760 trường tiểu-học. Tính ra mỗi chỗ có chừng 6 trăm dân cư, là có một trường tiểu-học. Nghĩ coi buổi đầu duy-tân mới có năm sáu năm, mà bổng chốc sáng-lập ra trên 5 muôn trường tiểu-học như thế, đủ biết Minh-trị Thiên-hoàng dốc lòng về việc giáo-dục lắm vậy.

Từ đó trở đi, không năm nào chánh-phủ không lo mở thêm nhiều trường học, và sửa sang lại Học chế (学制 - Gakusei), khuôn-phép, thể-lệ của việc học), lựa lọc những cái hay Tây-phương giáo-dục mà bồi-bổ vào, càng ngày càng hoàn-thiện. Rồi tới năm Minh-trị thứ 20, thì có các trường thực-nghiệp chuyên-khoa như trường dạy đào mỏ, trường dạy công-nghệ, trường dạy cơ-khí, trường dạy canh-nông, thương-mãi, cùng là trăm nghề ngàn nghiệp khác, mỗi mỗi đều có trường lập ra nhan nhản, như bên Âu Mỹ. Trước sau mới có vài chục năm, mà việc giáo-dục tổ-chức đầy đủ như thế, thiệt là mau chóng lạ đời !

Có một điều nầy ta nên chú ý, - phải chú ý một cách đặc-biệt - là từ đời đó, cái đời Nhựt-bổn mới bắt đầu duy-tân tự-cường, họ đã sớm biết rằng thế-giới mai sau, vấn-đề kinh-tế càng ngày càng sanh-tử quan-hệ, cho nên ngay từ đời đó, họ đã ra sức mở mang về kinh-tế giáo-dục lắm rồi. Sở dĩ trong một lúc họ lo sắp đặt phổ-thông giáo-dục, lại cho sắp đặt cả thực-nghiệp chuyên-khoa giáo-dục nữa, ấy là vì nội-tình cần dùng đã đành, mà cũng là vì biết trước đại-thế thiên-hạ nữa vậy.

Chắc có người không tin, muốn hỏi :

-         Chứng cớ của sự tiên-giác ấy ở đâu ?

Sao lại không có !

Sum-hữu-Lễ (森有??) làm Văn-bộ đại-thần, (tức là thượng-thơ bộ-Học) ở trào Minh-trị duy-tân, từ năm Minh-trị 19 đến năm 23, vốn là tay có hoài-bão xa kiến-thức rộng về việc giáo-dục ; các trường thực-nghiệp chuyên-khoa  mở ra nhan nhản lúc nầy, chính một tay ông ta chủ trương tổ-chức. Có lần, họ Sum nói với người ta như vầy :

-         Nếu có ai cố hỏi cái chủ-nghĩa giáo-dục của nước nhà nên ra làm sao, thì tôi xin đáp rằng “kinh-tế giáo-dục” mà thôi.

Đó, coi Nhựt-bổn có dòm trước đại-thế thiên-hạ hay là không ? Hèn chi ngay từ lúc mới duy-tân và nhứt là từ lúc Âu-chiến đến giờ, Nhựt-bổn cố sức mở mang kinh-tế, cạnh tranh kịch liệt với các nước Âu Mỹ : Nào công-thương, nào lý-tài, nào cơ-khí chế-tạo, nào sản-vật kinh-doanh, không có thứ nào mà họ không mở mang ra có quy-mô rộng lớn, có thực-lực gớm ghê. Rất đỗi mấy năm nay họ đem các đồ chế-tạo của họ bày đầy trên thị-trường thế-giới mà bán được cái giá rẻ mạt, làm cho các nhà chế-tạo ở Âu Mỹ phải sợ, phải rèn. Tôi nhắm kinh-tế nước Nhựt tấn-phát như ngày nay không lạ gì, bởi họ đã thấy trước và định trước từ 50 năm trước kia mà !

Một chỗ khác nữa, ta cũng nên chú ý, ấy là tôn-chỉ của tiểu-học giáo-dục ở đời Minh-trị. Ông vua minh-quân thánh-chúa nầy xướng lên cái tôn-chỉ lấy sự trao-dồi đạo-đức và chỉ-bảo thực-dụng cho trẻ con làm gốc. Bởi vậy hồi năm Minh-trị 23 và 24, sau khi Nhựt-bổn đã sửa sang lại chế-độ giáo-dục theo kiểu Đức-quốc rồi, Minh-trị Thiên-hoàng hạ dụ đinh ninh khuyên bảo các thầy giáo tiểu-học trong nước một điều quan-hệ thứ nhứt, như vầy :

- “Việc giáo-dục nên để ý hơn hết, là sự trau dồi uốn nắn đức-tánh “của trẻ nhỏ. Phàm một chuyện gì quan-hệ tới đạo-đức cùng là nghĩa-vụ “quốc-dân, thì nên dạy dỗ cho khéo, cho kỹ. Thường thường phải lựa “chọn những công-chuyện nào có dính líu và có lợi ích tới cuộc sanh-hoạt “hằng ngày cần dùng mà dạy bảo ; rồi phải nhắc nhủ rèn tập hoài, kỳ cho “thích-hiệp với thực dụng mới được”.

Thiếu chút nữa tôi quên nói rằng vua Minh-trị định lệ giáo-dục, rất trọng hậu cái địa-vị của các thầy giáo tiểu-học. Các thầy được đối đãi tử-tế, lương bổng lãnh nhiều. Trái hẳn với nhiều nước khác, nhứt là những nước bị cai-trị, càng là hạng thầy giáo trường nhỏ, dạy trẻ nhỏ chừng nào, thì càng bị bạc-đãi và ít lương chừng ấy mới kỳ !

Đời Minh-trị, nhứt thiết việc gì cũng canh-tân sáng-tạo, kể từ việc giáo-dục mà đi, cho nên công-cuộc mở-mang sắp đặt giáo-dục ở đời Minh-trị là một công-cuộc tổ-chức to lớn bộn bề lắm, nói sao cho cùng được, ta chỉ nên biết ít nhiều điều cốt-yếu đặc-biệt như trên đây là đủ.

Còn việc tư-học trong đời nầy cũng thạnh-hành phát-đạt rất mực. Tay chủ-trương tư-học đều là những bực chí-sĩ anh-hùng, vì thấy cuộc duy-tân quan-hệ ở việc giáo-dục, cho nên họ đứng ra lập nhiều trường tư, để giúp sức với nhà nước mà giáo-hóa nhơn-dân cho mau hùng-cường tấn-hóa. Sự-nghiệp tư-học nầy là sự-nghiệp “dân-gian giáo-dục”, có công-lao có ảnh-hưởng với cuộc duy-tân của nước Nhựt-bổn lớn lắm, lát nữa sẽ nói riêng một đoạn dưới đây.

Tư-học lập ra ở đời Minh-trị chính là để bổ vào chỗ bất-túc của chánh-phủ và tỏ ra sự cầu học tư lập của dân, cho nên chánh-phủ đối với tư học, chỉ khuyến-khích thì có, chớ không hề kiếm cớ ngăn cản, mà kiểm-đốc cũng có, nhưng không bắt buộc phải học theo chương trình nhà nước. Trừ ra chánh-phủ nào chẳng muốn cho dân mau khá thì mới cản ngăn thắt ngặt tư-học mà thôi.

Để cho tư-học tự-do mở mang, đó cũng là một cái đặc-sắc giáo-dục của đời Minh-trị. Dưới đây, độc-giả sẽ coi tư-học có ảnh-hưởng lợi-ích cho bước tấn-hóa của dân-tộc Nhựt-bổn ra thế nào ?  

SỰ-NGHIỆP GIÁO-DỤC CỦA DÂN CÒN LỚN HƠN

Ta nên biết cái lâu-đài Nhựt-bổn duy-tân, rất ngắn ngày giờ mà dựng lên được nguy-nga đồ-sộ, vốn không phải chỉ nhờ một mình sức “chánh-phủ giáo-dục” của đời Minh-trị mà nên đâu ; kỳ thiệt, xét tới cội nguồn, thì có nhờ cả sức “dân-gian giáo-dục” từ trước hồi khai-quốc cho đến giữa lúc duy-tân, đóng góp công-phu đào-tạo vào đó nhiều lắm.

 

Dân-gian giáo-dục là gì ?

Dân-gian giáo-dục ( 民間教育 - Minkankyoiku) là cuộc giáo-dục của dân tự lo tự làm lấy, không đợi gì chánh-phủ phải chỉ bảo lo toan. Ngó thấy sự nào hay, việc nào phải, tự trong óc họ phát ra cái tánh khôn trí sáng, chịu khó học hỏi bắt chước, rồi lo truyền-thọ cảm-hóa những người khác cũng được mở khôn sáng biết như mình, thế là tự dân họ dạy-bảo khai-hóa lẫn nhau ; dân-gian giáo-dục tóm-tắt là vậy đó. Một nước muốn tấn-hóa, cần phải có dân-gian giáo-dục bổ thêm vào chỗ thiếu sót của chánh-phủ giáo-dục, chớ một mình chánh-phủ giáo-dục không khi nào đầy đủ trọn vẹn được.

Có khi dân-gian giáo-dục có công-phu và có quan-hệ lớn hơn là chánh-phủ giáo-dục, tức như sự thiệt đã thấy ở nước Nhựt mà tôi đang nói đây.

Đông-phương mình có hai nước lớn là Trung-hoa và Ấn-độ, từng có văn-minh rực-rỡ lâu đời, thế mà ngày nay đều lụn-bại hư-hèn ; còn Nhựt-bổn là nước nhỏ xíu lại trở nên hùng-cường vĩ-đại, là tại sao vậy ? Tại hai cậu Trung Ấn đều ỷ cái văn-minh sẵn có lâu đời của mình, tưởng mình thành rồi, đủ rồi, không biết thâu-dụng những giáo-hóa hay của ngoại-quốc mới đem lại, chớ Nhựt-bổn thì không thế. Người họ từ xưa vốn có chí-khí tấn-thủ rất mạnh, luôn luôn biết lựa lọc đón rước những cái hay của nước khác, khiến cho hóa nên hồn nước thói nhà của họ, thành ra rốt lại họ lấy cái sức quốc-dân đồng-hóa, khác hẳn người hai nước Trung Ấn, mà dựng lên được cái cảnh tốt-đẹp vẻ-vang như ngày nay. Ta có xét tới gốc nguồn, mới biết rằng không phải hết thảy do nơi chánh-phủ chỉ vẻ dìu dắt mà ra đâu, chính thiệt nhờ có hạng chí-sĩ cao-minh khẳng-khái đã ra tay sắp đặt gây dựng phần nhiều hơn ; ấy đó là công-cuộc dân-gian giáo-dục, hồi xưa đã vậy mà đến hồi khai-quốc duy-tân cũng vậy. Chủ ý đoạn nầy chỉ nói về dân-gian giáo-dục ở đời cận kim, cùng là giữa lúc khai-quốc duy-tân, cho biết cái chỗ công cao nỗi khổ của ít nhiều bực tiền-hiền chí-sĩ nước Nhựt đã đón rước Tây học và tô điểm nền lịch-sử Nhựt-bổn tân-thời ra thế nào ?

BỐN ÔNG TỔ ÂU-HỌC CỦA NƯỚC NHỰT

Từ hồi thế-kỷ 16, Phong-thần Tú-cát (豊臣秀吉 - Toyotomi Hideyosi) làm tướng-quân đã nghi bọn truyền-giáo Thiên-chúa mà cấm người Âu-châu lui tới rồi, đến đời Đức-xuyên Gia-khang (徳川家康 - Tokyogawa Ieyasu) dựng Mạc-phủ lại còn cấm gắt hơn nữa. Năm 1639 (Tây-lịch), Mạc-phủ Đức-xuyên ra lịnh “khóa nước” thật nghiêm :

1* - Cấm chỉ ghe tàu của người các nước Tây-dương vào đất nước Nhựt-bổn, trừ ra có người Hòa-lan thì được Mạc-phủ rộng phép cho vô buôn bán tại Tràng-kỳ mà thôi, chớ không được đi lung-tung qua các nơi khác.

2* - Cấm chỉ người trong nước học chữ đọc sách Âu-châu, trừ ra có phép riêng của Mạc-phủ và trừ ra y-học Hòa-lan thì cho học-tập.

Sau khi có lịnh nghiêm-cấm như vậy rồi, có đến ngót một trăm năm, trong nước cũng chưa có ai biết Âu-học là hay mà hòng phạm cấm, cầu học. Trong khoảng đó tuy có người làm chức Hòa-lan thông-sự (tức là thông-ngôn tiếng Hòa-lan) ở Tràng-kỳ, nhưng kỳ thật không hiểu Âu-văn là gì ; lại có thầy thuốc xưng là biết ngoại-khoa Hòa-lan, nhưng chẳng qua chỉ nghe lóng học mót vậy thôi, chứ thiệt chưa bao giờ từng nghiên-cứu y-học Hòa-lan bao giờ.

Mãi sau lâu lắm, mới có người bắt đầu học-tập Lan-học, mà công-phu học tập của họ buổi đầu khốn khổ biết bao !

Khởi-sự là năm 1716, hai viên Hòa-lan thông-sự ở Tràng-kỳ là Thiện-tam-lang (三郎 - Zensaburo)Cát-hùng Hạnh-tác (吉雄幸作 - ??), tiếng làm thông-sự mà đều bất thông chữ Lan, bèn phát-phẩn xin được Mạc-phủ cho phép học-tập. Rồi Thiện-tam-lang thì xin người Lan cho một cuốn tự-điển tóm tắt, về cặm cụi học đêm ngày và tính dịch ra để cho người sau, nhưng dịch dở-dang thì chết già. Còn Cát-hùng Hạnh-tác thì học làm thuốc với người Lan, tuy rành nghề thuốc, trở về dạy với 600 học-trò, nhưng chính Hạnh-tác cũng chưa biết chữ Lan là gì, bởi khi học thuốc, người Lan lấy tiếng Nhựt mà dạy cho.

Tới năm 1739, Mạc-phủ cho phép hai vị thuộc-quan của mình là Thanh-mộc Văn-tàng 青木文?- Aoki ??)Giã-lữ Huyền-trương ( 野呂玄丈- Noro ??) học-tập Lan-học. Hai người cầu học một cách gian-nan vô cùng ! Mỗi khi nghe tin có tàu Hòa-lan tới Giang-hộ, thì rủ nhau xuống tàu kiếm người Lan mà hỏi dò từng tiếng rồi lẩm nhẩm học đi học lại hoài. Học lạ buổi đầu, mà chữ Âu khó hiểu,  vả lại lúc bấy giờ mỗi năm mới có tàu Lan ghé vào Giang-hộ một chuyến mà thôi, thành ra hai người học-tập luôn ba bốn năm chỉ biết có mấy chữ số Hòa-lan là hết. Vừa tức vừa thẹn, nên qua năm 1744, hai người rủ nhau đế tận Tràng-kỳ là chỗ có người Lan buôn bán mà dốc lòng học-tập, có cả Cát-hùng Hạnh-tác cũng đi theo học cho có bạn nữa.

Ở học luôn vài năm, mới ghi nhớ được trên 400 tiếng Lan nhựt-dụng và biết điệu nói cách viết chút đỉnh, rồi phải bỏ về Giang-hộ, không được học thêm. Tuy vậy, mỗi người cũng viết ra một tập sách nhỏ về Lan học, hoặc về tiếng nói, hoặc dịch vị thuốc.

Người Nhựt nói : “Có thể bảo Thiện-tam-lang, Hạnh-tác, Văn-tàng, Huyền-trương, là bốn ông tổ giảng-cầu học-thuật Âu-châu trước hết ở nước Nhựt vậy”.

 

MỘT NGÀY KỶ-NIỆM VỀ CÔNG-PHU HỌC-TẬP TÂN-HỌC KHÔN XIẾT GIAN-NAN

Đã nói Mạc-phủ không cấm sự học thuốc của Âu-châu, vả lại, trong lúc nầy thầy lang nào học giỏi chữa tài, thì được Mạc-phủ và chư-hầu kính-trọng tin dùng, cho nên những người có chí nghiên cứu học thuật Âu-châu, đều đua nhau nghiên-cứu y-học hết thảy. Thế là học-thuật Âu-châu truyền sang Nhựt-bổn, y-khoa được đón rước trước hết, rồi sau mới lần lần tới các khoa-học khác.

Các thầy lang Nhựt lúc bấy giờ rán học y-khoa Tây-phương, cốt bồi-bổ vào chỗ bất cập của y-khoa Trung-quốc, để chữa bịnh cho đồng-bào trước mắt, mà chính là các thầy tìm phương kiếm thuốc chữa bịnh cho quốc-gia sau nầy trở nên cường-kiện đó vậy.

Trong hạng tiền-bối đã gia-tâm học-tập y-khoa Âu-châu rất đông, có ba người xuất-sắc dị-thường và trong việc họ cầu học, có câu chuyện lạ-lùng ngộ-nghĩnh đáng nên thuật ra. Ấy là Tiền-giả Lương-trạch ( 前野良澤 - Maeno Ryotaku, Bân-điền Huyền-bạch (杉田玄白 - Sugita Genbaku) Trung-xuyên Thuần-am ( 中川 淳庵 - Nakagawa ??).

Ba người vớ được sách thuốc Hòa-lan mấy cuốn và một tấm hình vẽ cơ-thể trong người, gọi là “Nhơn-thể nội-cảnh-đồ 人體内景圖 - (**)”, biết là vật quý, có ích cho nghề thuốc và sự học của mình, nhưng khốn nỗi không có thầy nào chỉ vẽ, họ bèn rủ nhau gắng-gổ công-phu, tự nghiên-cứu lấy được mới kỳ.

Nguyên là trong ba người, chỉ có Lương-trạch đã từng thọ-nghiệp với Thanh-mộc văn-tàng (một nhà Lan-học đầu hết, nói ở đoạn trên) mà biết được năm sáu trăm tiếng Hòa-lan, còn Huyền-bạchThuần-am thì chưa biết. Cả ba đều là y-sanh, bình-nhựt vốn không quen biết nhau, may sao bữa đó tại Giang-hộ có mổ thây một tên tù tử hình, ba ông cùng đến coi, mở tấm hình “nhơn-thể nội-cảnh” đã mua của người Hòa-lan ra đối-chiếu, thấy đúng từ ly từ chút, cùng nhau thán-phục Lan-học là tài, rồi đó làm quen nhau, Huyền-bạchThuần-am thở than rằng mình mua được sách thuốc và hình vẽ nầy, nhưng tiếc vì dốt chữ Lan, thành ra không nghiên-cứu đặng, thật lấy làm tức. Lương-trạch nói :  

- Tôi có chí nghiên-cứu Lan-học đã lâu, nhưng tiếc nỗi không có bè bạn cùng nhau rèn tập. Trước kia tôi có học chữ Lan chút ít, nay ba chúng ta hiệp sức nhau lại mà nghiên cứu, lý nào không thành-công. Vậy thì ngày mai, tôi mời hai anh ở lại nhà tôi, để anh em ta ra sức rèn tập với nhau ít lâu, chắc là phải được. Hai anh nghĩ sao ?

Hai ông kia mùng rỡ lắm, chịu liền.

Người Nhựt cho cái ngày ấy là một ngày tân-học kỷ-niệm ; cuộc tấn-hóa của nước Nhựt, thiệt là phôi-thai từ ngày ấy mà ra.

Sau Huyền-bạch viết sách tỏ bày sự Lan-học buổi đầu gian-nan ra thế nào, nghĩ mà đáng thương đáng phục ; trong sách có đoạn thuật chuyện như vầy :

“… Qua hôm sau, anh em tụ hội ở nhà Lương-trạch mở cuốn sách “dạy sơ cách mổ xẻ ra xem, nghĩ mình đây chẳng khác nào một chiếc “thuyền, sửa soạn chèo lái chưa đủ, mà đánh liều vượt biển ra khơi, ngó “thấy trời biển minh mông, bao xiết lo ngại. Song may có Lương-trạch “trước kia đã học chữ Lan ít nhiều, hơi biết câu văn và cách đọc, vả lại “lớn hơn anh em tới 10 tuổi, nên anh em đều tôn Lương-trạch làm chủ-“tịch và thờ làm thầy học.

Huyền-bạch hăm-hở quyết học, nhưng mà 25 chữ cái cũng chưa “biềt hình thù kêu gọi ra sao ; bây giờ phải gắng gổ học 25 chữ cái, rồi ít ‘lâu mới học chữ một và năm ba tiếng nói bập bẹ. Dầu là một câu ngắn “ngủi trong sách, Huyền-bạch cũng gắng công tìm tòi ngẫm nghĩ cho tới “hiểu hết nghĩa-lý mới thôi ; nhiều khi một câu làm cho Huyền-bạch ngồi “cặm cụi tối ngày sáng đêm, quên ăn bỏ ngủ.

“Bữa kia, đọc sách tới khoảng nói về bộ phận cái mũi, có tiếng “verheffen mà không hiểu là nghĩa gì. Thuở đó làm gì đã có tự-điển lớn “đâu, chỉ có một “cuốn nho nhỏ, của Lương-trạch đã mua tại Tràng-kỳ về. Chúng tôi liền “mở ra tra, thấy chữ Verheffen có nghĩa là cái dấu-tích của những nhành “cây chặt ra, lại quét sân mà tụ đất cát lại thành đống, cũng gọi là “Verheffen. Ngoài hai nghĩa nầy ra không thấy chua nghĩa gì khác nữa, “giờ chúng tôi suy nghĩ không biết phải hiểu nghĩa chữ đó thế nào cho “phải.

Huyền-bạch bèn tán rộng với anh em rằng : Nhành cây chặt ra, lâu “ngày thành đống, mà quét nhà rồi, đất cát tụ lại cũng thành đống, vậy cái “mũi nổi cao lên ở trên mặt người ta, thì chữ Verheffen đây cắt nghĩa là “đồng, anh em liệu có được chăng ?

“Chúng tôi suy nghĩ phải lẽ, rồi nhứt định theo cái nghĩa đó. Lúc “bấy giờ chúng tôi tự tìm tòi bàn tán ra nghĩa chữ nầy rồi, ai nấy hớn hở “vui mừng, xem như là khi không mà bắt được cục ngọc Liên-Thành vậy “v.v…”

Ta coi như thế, thì biết ngày xưa bọn chí-sĩ Nhựt-bổn nghiên-cứu tân-học thật là gian-nan và dụng công khắc khổ biết sao mà nói cho cùng. Ấy vậy mà họ học thét phải thành-công kết-quả mới ghê ! Về sau một nhà duy-tân chí-sĩ có danh-vọng công lao nhứt, là Phúc-trạch Dụ-cát (福澤 諭吉 - Fukuzawa Yukichi), mỗi khi đem cuốn sách nói trên đây ra đọc, tới đoạn “nghĩ mình chẳng khác một chiếc thuyền sửa soạn chèo lái chưa đủ, mà đánh liều vượt biển ra khơi, ngó thấy trời biển minh mông, bao xiết lo ngại” thì Phúc-trạch than rằng :

- Ta tưởng nhớ lại tiền-nhơn khổ-tâm như thế, bắt ta phải ghê chỗ dõng-cảm, phục tấm nhiệt-thành của các cụ ngày xưa.

Thở-than vậy rồi Phúc-trạch nhỏ sa nước mắt khóc vùi.

Than ôi ! Người khổ-tâm học trước, kẻ cảm-động khóc sau, chan chứa cái tinh-thần và cái đặc-sắc ái-quốc của dân-tộc Nhựt-bổn biết mấy !

 

CÓ NGƯỜI NGỒI TÙ HAY MỔ BỤNG VÌ TÂN-HỌC

Câu chuyện vừa thuật ra trên đây là câu chuyện tân-học từ cuối thế-kỷ 18, nghĩa là lúc tân-học ở Nhựt-bổn mới phôi-thai.

Từ đó trở đi, số người tiên-giác nối gót nhau nghiên cứu Lan-học càng ngày càng đông. Những người học trước, chịu khó dịch sách thuốc của Hòa-lan và làm sách dạy văn-tự Hòa-lan, để truyền thọ cho những người học sau cũng nhiều.

Nhơn vì giao-tiếp người Lan, nghiên-cứu học Lan, tự nhiên đám chí-sĩ Nhựt mỗi ngày thêm nghe biết những cái học hay sức mạnh của Tây-phương, mà so sánh lo ngại cho cái thế nguy sức yếu của mình, nên chi phong-trào tân-học mở tung ra lớn rộng ; bây giờ không phải chỉ có những người học tập làm thuốc lối mới như thuở nay mà thôi, lại có người xem xét học hỏi tới các khoa vật-lý, hóa-học, chánh-trị và binh cơ của Âu-châu nữa.

Muốn nghiên-cứu tân-học, mà cứ học-tập y-khoa thì Mạc-phủ dung, chớ động tới chánh-trị thời-sự thì Mạc-phủ vẫn cấm. Là vì bọn chấp-chánh lúc nầy còn là hạng hủ-nho thủ-cựu. Nhưng cấm thì cấm, vẫn có người nghiên-cứu, không sợ. Cho biết thứ dân lúc họ muốn học, muốn mạnh, muốn khôn, thì quyền-thế nào cũng không cản nổi. Dầu có người nọ chết, thì có kẻ kia nổi lên tiếp liền.

Hồi đó ở Nhựt-bổn có người bị lao-tù hay phải mổ bụng vì ham hố tân-học.

Ví dụ hồi năm 1792, có chí-sĩ là Lâm-tử Bình 林子平 - ?? đến Tràng-kỳ giao-du dọ hỏi người Lan, biết được công việc các nước Tây-phương có cái lối đi chiếm đất thực-dân. Trở về, Lâm-tử-Bình suy nghĩ tới việc nước mình không thể quên lãng phòng-bị được, tức thời viết ra cuốn sách “Hải-quốc binh-đàm, 海国兵義 - ??” và một cuốn khác nói về chánh-trị, để thức-tỉnh người trong nước. Mạc-phủ cho là tà-thuyết hoặc dân - cũng như trào-đình nước ta xưa cho là yêu-thơ, yêu-ngôn đó, - nên chi cấm-tuyệt hai cuốn sách của Lâm-tử-Bình và giam cầm Lâm-tử-Bình tới chết.

Bước qua đầu thế-kỷ 19, có hai nhà thanh-niên chí-sĩ là Cao-giã Tràng-anh 高野長英 - Takano ChoueiĐộ-biên Hoa-sơn (渡辺華山 - Watanabe Kazan, viết ra nhiều sách nói về các vấn-đề cứu-quốc, luyện-binh, chánh-trị, kinh-tế, và kêu gào nhà-nước nên mở cửa ra cho ngoại-nhơn vô giao-thông. Năm 1839, Mạc-phủ ghét bọn Lan-học dám nói động tới chánh-trị, bèn bắt Tràng-anhHoa-sơn trị tội. Tràng-anh bị xử chung-thân cấm-cố ; Hoa-sơn ban đầu bị xử trảm, nhưng sau được giảm xuống chung-thân cấm-cố ; ở trong ngục ít lâu, Hoa-sơn tự-vận chết.

Còn Tràng-anh bị giam trong ngục, bữa kia ngục phát cháy, liền thừa cơ trốn ra ngoài được. Sau lần mò trở về Giang-hộ, biến đổi họ tên hình-dáng đi, vẫn ra sức dịch sách Tây và viết sách hô hào khai-quốc. Đến năm 1850, bị lộ chuyện ra, Mạc-phủ sắp nắm đầu được thì Tràng-anh tự mổ bụng ra chết rồi !

Tuy có nhiều người vì cổ-động tân-học mà mang họa sát thân như ba người trên, nhưng vậy mà phong-trào tân-học và chủ-nghĩa khai-quốc cứ bồng-bột mãi.

Lòng dân đã muốn vậy, dầu Mạc-phủ có quyền-lực ngăn-cản thế nào cũng không lại ; có giết bất quá chỉ giết được ít nhiều người thôi, chớ cái tư-tưởng ở trong đầu của cả bọn tiên-giác khá đông, làm sao mà giết nổi. Rồi qua tới năm 1853, có tàu binh Mỹ tới bắn súng ra oai lôi đình ở Phố-hạ, và sang năm sau, 1854, hai nước Nhựt-Mỹ ký tờ ước thông-thương, kế tới ba nước Anh, Nga, Pháp cũng đòi ký ước như thế ; bấy giờ Mạc-phủ đã tỉnh-ngộ, liền đổi chánh-sách : Trước kia “tỏa-quốc nhương-di” bao nhiêu, thì bây giờ hiểu biết sự “khai-quốc ngoại-giao” là cần dùng bấy nhiêu. Mặc dù có đám nhà nho thủ-cựu sôi nổi phản đối, Mạc-phủ cũng cứ hăng hái khai-quốc, có bọn tân-học tiên-giác giúp sức vào cho. Bọn nầy tuy có ít, nhưng là một sức rất mạnh.

Tới đây, bọn tân-học kế tiếp nhau mở ra trường tư để dạy học mới, và xướng lên “Thái-tây tân-học” một cách công-nhiên.

Ấy là những chí-sĩ duy-tân.

Trong đám nầy có những người như Thắng-lân Thái-lang 勝麟太郎 - Katsu Rintarou, Tự-phương Hồng-am (紡方洪庵 - (**), Tá-đằng Thái-nhiên 佐藤泰然 - Satou Taizen v.v… đều là những bực anh-tài xuất sắc, có công lao to lớn về việc dân-gian giáo-dục, tức là gốc nguồn của cuộc duy-tân. Nhứt là Tự-phương Hồng-am dạy học-trò rất đông, nhiều người có công-danh to lớn ở thời-kỳ trước sau duy-tân là học-trò của Hồng-am đào-tạo ra. Phúc-trạch Dụ-cát là một.

Người nầy, ta nên biết rõ : Không dự chánh-trị bao giờ, không có chức-quyền gì hết, chỉ là ông thầy dân-gian giáo-dục thôi, thế mà chính là tay thợ khai-quốc duy-tân, được trào-đình nhơn-dân đều kính-tôn trọng-vọng, có công-nghiệp lớn với quốc-gia, có thanh-danh truyền về hậu-thế ; người nầy thiệt là một nhà giáo-dục ảnh-hưởng cho thế-đạo nhơn-tâm, quan-hệ tới quốc-gia đại-kế vậy.

PHÚC-TRẠCH DỤ-CÁT

(**)

------------

Phúc-trạch Dụ-cát sanh ra năm 1853 ở nước phiên Trung-tân 中津 - Nakatsu ; thuở nhỏ học Hán-văn tới tuổi trưởng-thành, nảy ra cái chí muốn cho nước nhà được thoát chế-độ phong-kiến và thống-nhứt tự-cường, bèn bỏ Hán-học mà đi cầu Lan-học, tới Đại-bản vô thọ-giáo ở trường tân-học của Tự-phương Hồng-am. Phúc-trạch cố-gắng công-phu mấy năm, Lan học khá lắm.

Năm 1859, do theo điều ước, Hoành-tân trở nên một đô-thị chung cho 5 nước Âu Mỹ buôn bán, Phúc-trạch tới xem sự-tình buôn bán của người Tây-phương, xét thấy tiếng Anh rất thiết-dụng, liền quyết ý học tiếng Anh. Nhờ sẵn thông-minh, thêm có chí-khí, nên chi vài năm ra công gắng sức, Phúc-trạch học được tiếng Anh ít nhiều.

Gặp dịp Mạc-phủ Đức-xuyên sai sứ đi qua Mỹ, Phúc-trạch được cử đi theo (1860). Cách hai năm sau (1862), Mạc-phủ lại sai sứ đi sang thông-hảo với các nước Âu-châu, Phúc-trạch cũng được đi theo nữa.

Hai lần được theo sứ-thần như thế, chính là cơ-hội tốt cho Phúc-trạch được xem xét và ngó thấy văn-minh Âu Mỹ tận nơi. Sau khi ở Âu-châu về nước, năm 1866, Phúc-trạch góp nhóp mọi sự kiến-văn của mình mà viết ra cuốn sách “Tây-dương sự-tình 西洋事情 - Seiyou Jijou ”.

Cuốn sách nầy ra đời, làm như một tiếng sét đánh rung động tâm-hồn người Nhựt. Thuở nay, trừ phái tân-học hiếm hoi ra, không ai biết rõ văn-hóa và tình-thế phương-Tây ra thế nào ; nhờ cuốn “Tây-dương sự-tình”, người trong nước mới hiểu đại-thế thiên-hạ cùng là văn-hóa Thái-tây. Lúc nầy trong trào ngoài quận, trên quan dưới dân, ai là hạng kiến-thức, nếu bàn bạc tới những vấn-đề văn-minh khai-quốc, thì trên án bên mình đều có một bổn “Tây-dương sự-tình” để mở ra xem, coi như là lời vàng tiếng ngọc vậy.

Qua năm sau là năm 1867, Mạc-phủ trả quyền-chánh về trào-đình, rồi đức Minh-trị Thiên-hoàng cả quyết duy-tân cải-cách. Lúc bấy giờ chánh-phủ Minh-trị sửa-sang thi-thố công việc gì cũng đều châm chước ở trong sách của Phúc-trạch. Bởi vậy, người Nhựt thường nói chánh-sách duy-tân của đời Minh-trị, có thể cho là phôi-thai ở trong bộ sách “Tây-dương sự-tình” mà ra cũng đúng.

Tôi quên nói từ hồi năm 1858, sau khi Phúc-trạch đi nghiên-cứu Lan-học ở Tràng-kỳ rồi trở về Giang-hộ, tự mở ra một trường tư để dạy tân-học, gọi là “Khánh-ứng Nghĩa-thục, 慶応義塾 - Keiou Gijuku”. Lấy sự lâu bền mà nói, cùng là cách-thức dạy học mới, khắp nước Nhựt-bổn không có trường công, trường tư nào sánh kịp trường Khánh-ứng của Phúc-trạch được.

Ban đầu mới lập ra, chuyên dạy Lan-văn, đến khi Phúc-trạch biết Anh-văn thông-dụng mà tự cặm cụi học-tập rồi, năm 1863 trở đi, nhà trường thay đổi, dạy ròng Anh-văn.

Mấy năm mới mở, có lối 100 học-trò. Kịp đến năm 1867, Mạc-phủ trả lại quyền-chánh, Minh-trị xuống chiếu duy-tân, trong nước có việc biến-loạn xôn xao (tức là chuyện phe đảng Mạc-phủ nổi lên chống-cự trào-đình), vì đó mà một lúc trường Khánh-ứng giảm số học-trò, chỉ còn vỏn vẹn có 18 mống. Tuy vậy, Phúc-trạch không ngã lòng chút nào, cứ việc dạy học như thường, lại đem cuốn “Kinh-tế học” đã mua hồi qua Mỹ quốc mà giảng cho học-trò, tỏ ý rằng mình chỉ dốc lòng mở mang giáo-dục, un đúc nhơn-tài cho nước nhà mà thôi, chớ sự quyền-chánh đổi dời, nội tình rối loạn đi nữa, cũng không thể ngưng việc học lại một giờ nào đặng.

Thiệt, lúc đó có việc Mạc-phủ trả quyền, Minh-trị cải-cách, là một việc đại-biến chưa từng thấy có ở trong lịch sử Nhựt-bổn, bởi vậy phần thì dân chúng còn đang sửng sốt lao xao, phần thì binh trào đang đánh binh loạn, thời-cuộc ấy làm cho các trường công tư đều đóng cửa nghỉ học hết thảy. Duy có Khánh-ứng Nghĩa-thục vẫn đứng sững một mình, cứ việc giảng dạy tân-học Thái-tây, chưa từng có một ngày nào ngưng bỏ ; xem vậy thì biết Phúc-trạch nhiệt-tâm về việc dân-gian giáo-dục ra thế nào ?

Phúc-trạch chỉ cặm cụi lo toan hai việc : Một là làm sách để giáo-dục tất cả xã-hội, hai là dạy học để giáo-dục đoàn em hậu-tấn, tâm-tư sự-nghiệp trọn đời tiên sinh dồn cả vào hai việc đó. Từ năm 1854, mở ra Khánh-ứng Nghĩa thục, cho đến năm 1897 (năm Minh-trị 34) qua đời, trước sau 43 năm, cầm một cây viết, khua ba tấc lưỡi, tự nhận lấy công việc mở mang ra vận-hội mới cho nòi giống nước non làm công việc thiêng-liêng của mình phải gánh, phải làm, mà chỉ giữ vững cái bổn-lãnh của mình là nhà giáo-dục, chớ không hề bon chen vào con đường cầu-danh vụ-lợi một chút nào hết. Lúc mới khai-quốc, lắm người khoe tài dựa thế, cho được có quan sang chức trọng, lấy thế làm vinh, thế mà Phúc-trạch dửng dưng, ngoài ra chỉ có hai lần đi theo sứ-thần của Mạc-phủ sang Âu Mỹ làm viên thông-ngôn, chẳng khi nào dính líu tới việc chánh-trị. Đến đời Minh-trị duy-tân trở đi, tuy là được trên trào-đình dưới quốc-dân đều tôn kính nhờ cậy mặc lòng, Phúc-trạch chẳng có giây phút nào dính tới chánh-quyền hay là cầu lấy danh-lợi bao giờ. Phúc-trạch thật là một nhà giáo-dục chơn-chánh, thật là một nhà giáo-dục cứu-quốc !

Phúc-trạch làm sách nhiều lắm, góp lại có 50 bộ, cộng 105 cuốn, đều viết bằng lối văn rất bình thường giản dị, không ai coi không hiểu. Năm Minh-trị thứ 4, in ra một bộ sách nhỏ, tựa là “Học-văn chi khuyến, 学聞之勸 - ?? gồm 17 cuốn, quốc-dân hoan-nghinh hết chỗ nói, chỉ trong vài tháng mà bán hết 3 triệu 40 muôn bộ Mở-đầu, Phúc-trạch dạy : ”Trời ở trên người, không giúp người, lại ở dưới người, không giúp người 天在人之上。不作人。天在人之下。不作人。”. Câu đó tỏ ý khuyên-răn quốc-dân nên biết nhơn-quyền trời phú cho mình là đáng tôn, đáng giữ. Muốn tôn giữ được nhơn-quyền ấy thì mình phải học cho bằng người ta.

Lần hồi, Phúc-trạch đem sự tích các anh-hùng dõng-sĩ ra viết sách đặt tuồng để cổ võ nhơn-tâm, và bày đầu tổ-chức ra các cuộc diễn-thuyết trước hết. Đến năm Minh-trị 15 (1881), Phúc-trạch sáng-lập ra tờ báo “Thời sự tân-báo, 時事新報 - Jiji shinpou”, mỗi ngày xuất-bản, tờ báo nầy tới nay vẫn còn.

Thế là Phúc-trạch tuy không phải người ở ngôi cao, nắm quyền lớn, nhưng vậy mà dạy-học, làm sách, viết báo, là ba cơ quan trọng-yếu trong xã-hội, ông đều nắm đủ trong tay, cho nên có thế-lực đối với trào-đình và quốc-dân, có oai vọng hơn là nhà đại-chánh-trị nhiều. Năm Minh-trị 23, ông nâng cao cái địa-vị “Khánh-ứng Nghĩa-thục” lên hàng đại-học đường, dạy kiêm 4 khoa văn-học, lý-tài, chánh-trị, pháp-luật. Từ lúc mở trường nầy ra kể cho đến khoảng năm 1895 mà thôi, trước sau giáo-dục được tới 2 muôn học-sanh. Số học-sanh tốt-nghiệp rồi, hoặc ra làm quan to, hoặc được cử làm nghị-viên trong hai viện Quý-tộc và Chúng-nghị, cùng là hạng làm tổng-lý các công-ty lớn, tính lại đông không biết bao nhiêu. Vả lại, Phúc-trạch vốn trọng tinh-thần độc-lập tự-trị, cho nên học trò của ông bị cảm-hóa nhiều, sau khi thành-tài rồi phần nhiều để chưn vào trong cõi thương-mãi kỹ-nghệ. Nhờ vậy mà lợi-quyền thực-nghiệp của Nhựt-bổn lúc đó tấn-tới đáo để.

Mùng 3 tháng 2 năm Minh-trị 34, (nhằm 1897), Phúc-trạch tạ thế. Chúng-nghị-viện (tức hạ-nghị-viện) hết thảy bỏ thăm chuẩn-y lời ai-điếu chung, để tỏ ra cả nước cảm mến thương tiếc ông là người có đại-công giáo-dục dìu dắt nước Nhựt lên cõi duy-tân. Nhà-nước làm quốc-tang, bữa tống-táng có trên 2 muôn người đi đưa, ai nấy đều sụt sùi nhớ tiếc.

Trên kia đã nói sanh-bình của Phúc-trạch chỉ ham lo có hai việc, là dạy-học và làm sách. Trong hai việc đó có nhiều dật-sự thú-vị, nên nhắc lại một vài chuyện mà nghe.

Thường khi cùng ai bàn-bạc về vấn-đề giáo-dục thì Phúc-trạch nói tối ngày không chán. Phúc-trạch chê cái lối giáo-dục xưa nay ở Đông-phương là lối “dạy trên xuống dưới” chỉ lo đào-tạo ra một số ít thi đậu làm quan, còn dân-chúng dốt nát thây kệ. Nay Phúc-trạch đổi lại : “Dạy dưới lên trên”, nghĩa là lo dạy cho nhứt ban dân-chúng đều có tri-thức, thì nước mới văn-minh tấn-hóa được, chớ một nước chỉ có nhắm mớ người giỏi mà phần đông vẫn ngu dốt, thì cuộc văn-minh tấn-hóa đặt lên trên cái cơ-sở nào ? Phúc-trạch có tư-tưởng như thế, hèn chi cả đời cặm cụi về dân-gian giáo-dục.

Ngoài sự dạy-học, Phúc-trạch cũng chuyên viết báo soạn sách. Mà lạ ! Mỗi khi viết cuốc sách hay bài văn nào, Phúc-trạch cũng đọc cho bà vợ nghe và hỏi ý kiến ra sao ; vì lối văn của Phúc-trạch bao giờ cũng viết rõ ràng giản-dị, cho đàn bà con trẻ đều hiểu, hễ câu nào chữ nào, bà vợ nói chưa xuôi chưa đúng, thì Phúc-trạch cầm viết ghi ở dưới để sau sửa lại. Có người hỏi ông sao viết văn làm sách dạy đời, mà lại đi hỏi ý-kiến đàn bà như thế, ông cười và đáp :

- Người ta có ai cùng mình ăn ở thân cận lâu dài và hiểu biết mình cho hơn vợ mình được chớ ! Nếu một bài văn, một cuốn sách mình viết ra mà còn có chỗ chính ngay vợ mình phải chê, hay là không hiểu, thì bảo làm sao đời hiểu được mình và mình hòng dạy ai cho được ?

Tư tưởng của Phúc-trạch đại-khái ngộ-nghĩnh kỳ-khôi như thế.

Trường Khánh-ứng của ông lập ra, sau ông quá-khứ rồi, trường cũng vẫn còn khai-giảng như thường, lại càng ngày càng mở rộng và thêm vô nhiều khoa-học khác, ngày nay vẫn còn : Chính là Khánh-ứng Đại-học ở Đông-kinh bây giờ, một trường đại-học có tiếng ở phương Đông ta. Mấy năm gần đây ra sao không rõ, chớ vài chục năm trước, trong đám chí-sĩ Việt-nam qua cầu học bên Nhựt, hình như có nhiều người học thành tài ở Khánh-ứng đại-học ra. 

Năm 1907, ở Hà-nội ta có một trường tư-học do các cụ chí-sĩ tiền-bối lập ra, cũng lấy việc mở mang tân-học, thức-tỉnh quốc-dân làm mục-đích. Các cụ đặt tên trường là “Đông-kinh Nghĩa-thục”, chắc hẳn noi theo Khánh-ứng Nghĩa-thục 慶応義塾 của Phúc-trạch Dụ-cát để lo việc dân-gian giáo-dục. Thế mà cái vận-mạng của Đông-kinh Nghĩa-thục vắn või quá ; chỉ được một năm mấy tháng thì bị cấm mất ! 

MỖI NGƯỜI MỞ MANG DÂN-GIAN GIÁO-DỤC CÓ MỘT Ý-NGHĨA

Đã nói việc dân-gian giáo-dục ở trong lịch-sử Nhựt-bổn duy-tân có địa-vị to và có công-phu lớn lắm. Cái ý-nghĩa thứ nhứt của nó, là dân tự giáo-hóa cổ-lệ nhau để tự-cường.

Trong thời-kỳ duy-tân, sau Phúc-trạch Dụ-cát là người có công dân-gian giáo-dục thứ nhứt, còn có nhiều người khác cũng có công với cuộc tấn-hóa không phải là nhỏ.

Các trường tư-học mở ra tứ tung ; mà ngộ thiệt ! Mỗi người mở ra một trường tư đều chuyên về một khoa giáo-dục, có một ý-nghĩa riêng, đến cái mục-đích tối cao thì ai cũng như ai : Bồi-bổ vào chỗ bất-túc của chánh-phủ để rèn-đúc nhơn-tài ; giáo-hóa quốc-dân cho mau tự-cường tấn-hóa.

Bây giờ nếu muốn kể ra tường tận, thì không biết bao nhiêu giấy mục cho đủ, nên đây buộc tôi lại chỉ lược-thuật đại-khái mà thôi.

Tân-đảo-Tương (新島?)vốn là người có tánh-cách võ-sĩ Nhựt-bổn, mà theo đạo Gia-tô tân-giáo (Protestant), mở ra một trường học vừa cao-đẳng, vừa phổ-thông gọi là “Đồng-chí xã 同志社 - Doushisha”, cốt dung-hiệp cả hai mối đạo-nghĩa Đông-Tây.

Đại-ôi Trọng-tín (大隈重信 - Okuma Shigenobu) mở ra “Đông-kinh chuyên-môn học-hiệu, 東京専門学校 - Tokyo Senmon Gakkou”, để rèn-đúc thanh-niên về mặt chánh-trị ngay từ lúc đầu Minh-trị, hầu dự-bị cho quốc-dân có đủ tư-cách hưởng lấy chánh-thể lập-hiến của nhà vua sẽ ban cho vài chục năm sau. Trường nầy sau đổi tên là “Tảo-đạo-điền đại-học, 早稲田大学 - Waseda Daigaku”, hiện nay vẫn còn, vào hàng các đại-học lớn ở Đông-kinh.

Trung-thôn Kinh-vũ (中村 敬宇 - Nakamura ??) mở ra “Đồng-nhơn-xã, 同人社(**)”, vừa mở-mang giáo-dục cho phụ-nữ nhi-đồng, vừa giảng-giải cho quốc-dân biết Tây-phương cũng có đạo-đức cao quý, kẻo lúc đó nhiều người hăm hở về văn-minh vật-chất, đến đổi tưởng rằng sự tấn-hóa có thể khinh thường đạo-đức cũng được.

Tân-điền-Tiên (津田仙 - Tsuda Sen) mở ra “Nông-học-xã, (農学社 - Nougakusha)”, và xuất-bản “Nông-học tạp-chí “ để dìu dắt nông-dân cải-lương về nghề cày cấy trồng tỉa.

Đó là kể sơ ra một vài cơ quan giáo-dục để làm lệ-chừng vậy thôi, ngoài ra còn nhiều nhà dân-gian giáo-dục khác và nhiều trường tư-học khác, cũng có quan-hệ cho thời-cuộc, công lao với quốc-gia, nói sao cho hết. Rất đỗi có người như Cát-điên Tùng-âm (吉田松陰 - Yoshida Shouin ) mở trường dạy học trong xóm mà un đúc nên nhiều nhơn-tài trong lúc duy-tân ; học-trò Cát-diên sau làm đại-tướng hay được phong chức công hầu vô số. Lại cũng có người như Tây-hương Long-thạnh (西郷 隆盛 - Saigou Takamori) đang làm tới chức tướng-soái mà bỏ quan về làng mở trường dạy học. Ta có thể tóm lại một câu rằng : Nhựt-bổn duy-tân, chính là nhờ giáo-dục, mà giáo-dục mau được kết-quả tốt đẹp, là nhờ nơi chánh-phủ và nhơn-dân cùng ra tay gắng sức : Công-học lo mặt phổ-thông, ban bố thường-thức cho dân, tư-học lo mặt chuyên-môn, rèn-đúc nhơn-tài xuất sắc.

Nhưng ta nên biết các nhà dân-gian giáo-dục ở nước Nhựt, có một cái tôn-chỉ cao, ấy là “Học-vấn độc-lập”.

Ông Đại-ôi Trọng-tín  (大隈重信 - Okuma Shigenobu) muốn bày tỏ cái chủ-nghĩa tư-học như vầy : “Muốn cho quốc-dân có tinh-thần độc-lập tư-trị, thì trước hết phải lo sao cho học-vấn được độc-lập. Muốn học-vấn được độc-lập vững vàng thì ta nên mở ra một trường tư-học thật lớn, thoát hẳn sự trói buộc của quyền-thế, để cho học-sanh được tự-do, muốn nghiên-cứu về học-thuật gì cũng đặng cả, (tham khảo hình dưới)”.   

Ông lại chủ-trương rằng học-vấn nên dùng quốc-ngữ trước hết, rồi học kiêm tới văn-tự ngôn-ngữ của ngoại-quốc. Bởi vậy ông lại nói : “Phàm sự học-vấn giáo-dục của một nước, chẳng nên mỗi chuyện đều dựa nương nhờ cậy vào chế-độ của nước người ta hết thảy. Nếu cái học-vấn giáo-dục không lấy quốc-dân phẩm-tánh làm gốc, thì không thể bảo là độc-lập được, (tham khảo hình dưới).  

Mấy câu nói thống-thiết và lý-thú thay ! Chính là cái tinh-thần chung của các nhà dân-gian giáo-dục nước Nhựt từ trước khi khai-quốc cho đến giữa lúc duy-tân, do cửa miệng của họ Đại-ôi phát ra vậy.