Sách » Lịch Sử » Lịch sử Việt Nam » Nhân vật lịch sử Việt Nam

Bùi Viện

ImageBùi Viện (Tân Sửu 1841 – Mậu Dần 1878)

Danh sĩ đời Tự Đức, hiệu Mạnh Dực, quê làng Trình Phổ, tổng An Hồi, huyện Trực Định, thuộc Kiến Xương, tỉnh Nam Định.

Năm Bính Thìn 1856, có an khoa, ông đỗ cử nhân, Ất Mão 1855 trước năm ông thi đỗ. Quốc tử giám tế tửu là Võ Duy Thanh biết tài ông, tiến cử ông với Tham tri bộ Lễ là Lê Tuấn trong việc bình định các nhóm Cờ đen, Cờ vàng khuấy rối ở miền Bắc.

Doanh điền sứ Doãn Tuấn nghe tiếng ông, mời ông cộng sự mở mang bến Ninh Hải thành cửa bể Hải Phòng ngày nay. Hoàn thành công tác, ông lại đảm nhiệm trách vụ dẹp loạn quân Tề tức Quảng Văn Tế phát động ở Quảng Yên.

Có lòng yêu nước, ông cùng Hoàng Phan Thái, Nguyễn Tư Giản, Đặng Đức Thuận, Nguyễn trường Tộ lập Tân đảng, chú ý khuyến cáo triều đình nên duy tân cải cách chính trị, quân sự, văn hóa…

Lòng bất vụ lợi và yêu quí của ông, được chứng tỏ trong mấy lời ưu ái của vua Tự Đức ban khen ông: “ Trẫm ư tử vị hữu nhâm ân nghĩa, tử nãi dĩ quốc an, nãi bảo gia an, thâm đồ viễn lự, quỉ thần đương diệc giám chi”. Nghĩa là: “Trẫm đối với người chưa có ân nghĩa gì mà người đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi lo lắng, quỉ thần ắt cũng chứng cho”.

Chính ông là nhân vật xuất ngoại đầu tiên vận động bang giao với nước Mĩ, ông lên đường trong năm Quí Dậu 1873.

Đến Hoa Thịnh Đốn, ông được Tổng thống Abraham Lincoln tiếp kiến; nhưng vì ông không có quốc thư để chứng minh đành phải trở về. Nhưng khi có quốc thư trong tay, sang Mĩ lần thứ 2, chính tình nước Mĩ đã đổi, Tổng thống Lincoln đã bị ám sát. Vị Tổng thống mới là Ulysse Simpson Grant bận đối phó với lắm cuộc nội chiến, ông lại đành trở về không. Đã thế, về đến Hoàng Tân (Nhật) ông được tin mẹ mất, xúc động, ngậm ngùi, ông có bài văn tế cực kỳ thống thiết.

Vua Tự Đức vẫn trọng dụng ông, bổ làm Tham tri, rồi đổi làm Tham chính thương biện, cùng với Nguyễn Tăng Doãn coi về việc quan thuế ở Bắc Kì. Ít lâu, đổi làm Chánh quản đốc Nha tuần tải, ông liền thực thi kế hoạch chỉnh đốn hải quân, thành lập đội tuần dương quân đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ông.

Đến Mậu Dần 1878, ngày 1 tháng 11 âm lịch, ông mất. Triều đình và dân chúng đều thương tiếc. 

Nguồn:Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế 2006, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, Tr. 67.