Sách » Thể loại khác » Nghìn lẻ một ngày

Chương 24: Các cuộc phiêu lưu kỳ thú của Bunphauari, biệt danh nhà du hành vĩ đại (tiếp theo)


CHUYẾN ĐI THỨ HAI
Vậy là nàng Canzat thuộc về tôi.  Hai chúng tôi quý yêu nhau, cuộc sống vô cùng hòa hợp.  Chúng tôi không cầu xin gì hơn được kéo dài những ngày hạnh phúc trời cho chúng tôi hưởng.  Nhưng than ôi! Người trần gian hay ngộ nhận, khi đã phong lưu những tưởng mình sẽ được phong lưu đời đời.  Bình sinh cuộc sống chúng ta chen lẫn ngọt ngào và cay đắng, khi ta cảm thấy hạnh phúc lên đến đỉnh cao chính là lúc ta bắt đầu những bước vào những ngày hoạn nạn nhất.
Mấy tháng sau lễ thành hôn của tôi, thân sinh tôi qua đời.  Tôi và em trai tôi chia nhau gia tài cụ để lại.  Em trai tôi, tên là Hua, muốn phần gia tài mình được hưởng chóng sinh lợi, muốn làm nghề thương mại.  Chú ấy tậu một con tàu, đem tất cả vốn liếng của mình mua nhiều loại hàng hóa xếp đầy cả một con tàu ấy, đưa sang bán tại vương quốc Malaba.  Tuy nhiên công việc kinh doanh chẳng lấy gì may mắn, tàu chú ấy bị đắm gần thành phố Ocmu.  Vốn liếng mất sạch, chỉ còn mình chú mau sao sống sót.
Chú trở về gần như trên người không còn manh áo, tình trạng thật khốn cùng.  Thương hại, tôi cho chú về nhà, cấp vốn cho đủ mua các thứ hàng hóa khác.  Nhưng chuyến đi nàng chẳng may mắn hơn lần trước.  Chẳng những không bù đắp được mất mát trước đây, tàu lại đắm.  Một lần nữa mất sạch, chỉ còn sót lại trơ mỗi cái thân chú.  Chú lại tìm về Basra gặp tôi, thưa với anh tai họa lại ập lên đầu em lần nữa.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI

Thông cảm với bất hạnh của em trai, tôi không từ nan bất cứ điều gì để có thể an ủi chú.  Tôi bảo với chú:
-          “Thôi, em trai à, em biết rồi đấy, trên đời này số ai giàu sang, số ai nghèo khó, tất cả đều do tiền định.  Em buồn phiền phỏng được ích gì?  Đáng ra em nên thâm tạ trời đất đã cho em được sống đến hôm nay.  Thôi, hãy bỏ việc buôn bán ấy đi, em hãy về đây sống với anh, em chẳng lo thiếu thốn thứ gì.”
Chú thuận theo ý kiến của tôi.  Chú chuyển về sống tại nhà tôi.  Nhưng rồi nhàn cư vi bất thiện, ngày này qua ngày khác chú chỉ còn việc đi lang thang hoặc chơi bời đàn đúm cùng bè bạn.  Về phần mình, tôi quá bận lo chăm bẵm nàng Canzat, tìm mọi cách bày ra cho nàng tiêu khiển.  Tính tôi vốn thích tiêu pha, khoản lợi tức của tôi tuy khá lớn thật đấy song không sao đủ cung phụng cho lối sống quá phong lưu của hai vợ chồng.  Sau mấy năm, tôi nhận ra gia sản mình đã vơi đi đáng kể.  Sợ đến một lúc nào đó có thể trở nên quẫn bách, tôi tính cách phòng ngừa.  Tôi quyết định liên doanh với một thương gia giàu có, cùng nhau sang buôn bán bên vương quốc Gôncông.
Thật khó khăn lắm mới thuyết phụ được vợ tôi cho tôi tiến hành một chuyến đi xa như vậy.  Tuy nhiên, tôi nói mãi nàng cũng nghe ra, với hy vọng rồi đây khi tôi sẽ trở về Basra sẽ mang theo vô vàn của cải, lúc đó hai vợ chồng tha hồ hưởng những ngày còn lại chẳng có gì phải lo âu.
Vậy là tôi chung vốn làm ăn với một đồng nghiệp tôi biết là người trung hậu.  Chúng tôi cất hàng hóa mang sang bán tại thành phố Xurat, định bụng sau đấy lại mua tiếp các đặc sản ở Xurat đưa sang đổi chác tại Gôncông.  Ngày khởi hành, tôi gỡ vòng tay của nàng Canzat đầm đìa nước mắt, ôm hôm chú em trai và bảo:
-          “Em trai của anh ơi, tạm biệt.  Anh giao cho em việc chăm non gia đình và quản lý công việc của anh.  Em hãy cố gắng giữ gìn uy tín, cũng như dè sẻn số tài sản anh để lại nhà.  Trên tất cả mọi sự, anh nhờ em trông nom chị, chị là người đức hạnh, không phải lo chi về mặt ấy.  Cái chính là chú ý để chị khỏi bị những kẻ sấu xưa nay vốn ghen ghét anh tìm cách làm hại.  Tóm lại, anh ký thác chị dâu cho em, sao cho đến khi anh trở về, mọi sự đều nguyên lành tốt đẹp như ngày anh ra đi.”
Nghe lời dặn dò, chú Hua khoe khoang mình là người xử sự lúc nào cũng đàng hoàng, tinh tế, và hứa sẽ cố gắng là tốt mọi việc tôi giao phó.  Chú còn nói thêm, do tình nghĩa, anh em ruột thịt, chú chăm nom việc nhà của anh trai như chăm lo công việc của chính mình.  Tin vào lời hứa của chú em, tôi yên tâm lên đường cùng với người bạn kinh doanh.
Tàu giương buồm, lên đường đến thành phố Xurat bình yên vô sự.  Chúng tôi bán mọi thứ hàng hóa mang theo trên tàu, rồi lại mua các sản phẩm khác có thể rất ăn khách ở Gôncông để sang đấy bán; rồi giương buồm ra khơi đi tiếp.
Tôi xin miễn không thuật lại những lần gặp gió to sóng lớn cũng như những ngày trời yên biển lặng trên đại dương; dù sao rốt cuộc cũng cặp được bến cảng Gôncông sớm hơn cả thời gian mong đợi.  Chúng tôi bán hàng, thu đựơc một khoản lợi nhuận khá lớn.  Ông bạn hàng của tôi là một người rất am tường các loại ngọc ngà châu báu, mà chúng tôi lại đang có mặt ở vươg quốc Gôncông xứ có những viên kim cương đẹp nhất trên đời, chúng tôi liền quyết định đưa phần lớn vốn liếng ra mua kim cương, với hy vọng về thành phố Batđa có thể bán lại với giá đắt gấp bốn lần giá mua vào.  Hài lòng với số lãi đã thu được qua việc buôn bán các hàng hóa trước, và hy vọng với một khoản hời nữa thu được sau khi bán kim cương, chúng tôi chẳng có việc gì nấn ná lâu ở Gôncông.  Vậy là chẳng bao lâu sau khi xong công việc, chúng tôi lên đường trở về Basra.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI MỐT

Con tàu chạy hết tốc độ.  Cũng như mọi hành khách trên tàu, chúng tôi hy vọng mau chóng trở về tới thành phố uớc mơ.  Thế nhưng, một đêm, một cơn bão cực kỳ dữ dội nổi lên.  Mặc cho hoa tiêu và các thủy thủ ra sức vật lộn, cuối cùng đành chịu thua gió bão, chúng tôi để mặc cho sóng dữ đẩy con tàu đi lạc khá xa hải trình.  Cuối cùng, sau nhiều ngày bị gió dập sóng vùi, con tàu xô vào một mỏm đá và vỡ tan không xa bờ một hoang đảo.
Tất cả thủy thủ đoàn đều thiệt mạng, trừ có ông bạn hàng của tôi và tôi.  Nhờ xuống kịp chiếc xuồng cứu nạn, chúng tôi thoát khỏi chết chìm.  Nhưng hỡi ôi!  Một nỗi hiểm nghèo ghê gớm chẳng khác nào bão tố đang chờ đợi chúng tôi.
Chiếc xuồng con cập bở, chúng tôi sắp lên đảo, chợt một con cá sấu to khủng khiếp lao đến chỗ chúng tôi.  Con vật ghê sợ ấy chống lên hai chân trước, quẫy mạnh cái đuôi, đạp chiếc xuống cứu nạn ra hàng nghìn mảnh.  Ông bạn tôi và tôi chưa kịp lên bờ, đều rơi tõm xuống nước.  Ngay lúc ấy, con cá sấu há mỏm đớp.  Chúng ngoạm được ông bạn tôi, trong khi nó mải bận nhai ngấu nghiên để nuốt cái mồi ấy, tôi thừa cơ bơi được vào bờ, ba chân bốn cẳng chạy sâu vào đảo trốn cá sấu.
Thoạt tiên tôi gặp một con suối, nước suối nhìn trắng tựa sữa.  Tôi uống, thấy ngon tuyệt vời, tưởng như đang uống nước trái cây ép loại thượng hảo hạng.  Tiếp đó tôi hái một ít lá cây cỏ mọc bên bờ suối ăn, và cảm thấy ngon như dùng sơn hào hải vị.  Thiên nhiên ở đây thật phong phú, đa dạng làm sao, cho nên mới sản sinh ra nhiều loại kỳ thú đến thế, tôi nghĩ.  Mặc dù lúc này đã tan gia bại sản hoàn toàn, tôi vẫn thầm cảm tạ trời đất đã cho tôi dạt lên một hoàn đảo không đến nỗi phải chết đói chết khát.  Tuy nhiên, tôi rất sợ gặp thú dữ, bởi vậy mặc dù rất buồn ngủ, vẫn không dám chợp mắt, chỉ sợ sơ ý làm mồi cho chúng.
Tôi đi sâu vào một khu rừng.  Trong rừng toàn cây gỗ lô hội hoặc trầm hương quý.  Đi khoảng ba trăm bước, gặp một bãi cỏ non, có rất nhiều hoa tươi đủ màu tỏa hương thơm ngát.  Chính giữa bãi cỏ non ấy, mọc lên một cây cổ thụ cao dễ đến cả trăm thước, vươn dài những cành cây vững chãi mang bộ lá um tùm, tạo nên một khoảng bóng râm rất rộng.  Cạnh gốc cây, dưới một chiếc lều lợp bằng gấm thêu, một người đàn ông nằm có vẻ như đang ngủ trên một chiếc sập.  Tay phải người đàn ông ấy đặt lên một cái hộp nhỏ bằng vàng.  Bên cạnh ông, một con rồng lớn nằm canh, mõm nó ngậm một cọng cỏ thơm, thỉnh thoảng lại đưa ngọn cỏ thơm vào mũi người đang nghỉ.
Cảnh tượng ấy làm tôi khiếp đảm.  Tôi tự bảo:
-          “Có ích gì cho ta thoát khỏi hàm cá sấu, để rồi bị con rồng này chồm đến vồ ăn thịt?”
Không dám tiến đến gần chiếc lều nữa, tôi vội chạy lùi nấp sau bụi rậm, từ đấy quan sát người đàn ông nằm nghỉ và con quái vật.  Một lát sau, tôi thấy con rồng ra khỏi cái lều, bay bổng lên bầu trời rồi nhanh chóng biến mất khỏi tầm mắt tôi.
Con rồng đi khỏi, tôi cảm thấy yên tâm.  Rất hiếu kỳ muốn biết người nằm nghỉ kia là ai, tôi hồi hộp tiến đến thảm cỏ, rồi lần vào trong lều.  Người nằm nghỉ ấy là một cụ già ước chừng một trăm hai mươi tuổi, trông hình dong tươi tốt tưởng như người vẫn còn sống, mặc dù cụ yên nghỉ đời đời nơi đây đã bao thế kỷ rồi.  Tôi đứng yên ngắm dung nhan cụ hồi lâu, rồi gỡ bàn tay cụ để lấy chiếc hộp bằng vàng.  Mở hộp ra, thấy bên trong xếp nhiều tấm thiếp ghi những dòng chữ như sau:
“Axep, con trai của Bakia, và là tể tướng của đại đế Xalomon, là cụ già nghỉ dưới cái lều này.  Vị đại thần ấy, khi cảm thấy sắp phải từ giã cõi trần, đã chọn hòn đảo hoang này để cho quàn thi hài của mình.  Ngài cho dựng lên cái lều chính giữa bãi cỏ tươi này, tự tay viết những dòng chữ ấy, cho vào cái hộp bằng vàng, sau đó nằm lên sạp và từ trần.  Những người nào sau này đặt chân được tới đây cần phải biết, họ sẽ chẳng bao giờ còn nhìn lại được gia đình và cố quốc và rồi sẽ bỏ mạng nơi đây, trừ phi những người ấy có đủ dũng khí để trải qua những gian nan thử thách ghê gớm.  Nếu những người ấy không biết sợ bất cứ điều gì, thì hãy mau mau đi về hướng tây.  Đến chân một quả núi, họ sẽ nhìn thấy một cái hang.  Hãy mạnh dạn đi sâu vào cái hang ấy, và chỉ dừng bước khi nào gặp một đồng cỏ non cực kỳ ngoạn mục.  Chỉ có đi đến tận nơi ấy, họ mới sẽ đạt được cực đỉnh của ước mong.”.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI HAI
Sau khi đọc những dòng chữ trên, tôi kính cẩn hôn lên các tấm thiếp của ngài cố tể tướng Axep, rồi quỳ xuống, ngước mắt lên trời cầu nguyện:
-          “Lạy Thượng đế, Người không muốn cho con phải bỏ mạng ở hòn đảo chết chóc này, Người đã chỉ cho con nhìn thấy lối ra.  Lạy Đấng tiên tri của những người Hồi giáo, nhờ có Ngài nên con mới được Thượng đế đoái thương, xin Ngài hãy tiếp tục phù hộ cho con.  Ngài đã lôi con từ đấy cái giếng sâu của lão Hyzum lên, xin Ngài chớ từ bỏ con khi con dấn thân vào những hiểm nguy mới.”
Không để mất thời gian, tôi theo hướng tây bước tới.  Chẳng bao lâu đến chân một quả núi.  Tôi nhìn thấy quả có một miệng hang đen ngòm khiến bất kỳ ai trông thấy cũng không khỏi ngại ngần.  Nhưng tôi quá tin vào các thiếp chữ của ngài Axep đến nỗi chẳng còn biết lo sợ là gì.  Không ngần ngại, tôi mạnh dạn bước vào hang, nói là bước nhưng vừa đi vừa mò mẫm bởi trong hang tối đen như mực.
Lối đi trong hang theo chiều dốc đổ xuống, tôi cứ đi không nghỉ như vậy, sau chừng mườilăm, hai mươi tiếng đồng hồ cứ tục dốc hoài, tôi đồ chừng có lẽ mình đã đi sâu xuống tận âm phủ.  Cuối cùng, bóng tối tan dần.  Tôi lại nhìn thấy ánh sáng mà tôi ngỡ đã vĩnh viễn mất đi.  Trước mắt tôi là một đồng cỏ non, trong đồng mọc muôn loài hoa thơm trái quý chưa từng được nhìn thấy bao giờ.
Tôi đến gần các cây ấy hái mấy quả ăn, rồi nằm xuống nghỉ trên thảm cỏ non.  Tôi ngủ thiếp đi một giấc ngủ rất sâu.  Khi tỉnh dậy, mở choàng mắt, tôi ngạc nhiên nhìn thấy chung quanh chó khoảng mười hai đến mười lăm vị hung thần đen đủi, thân xác gầy nhom, những đôi mắt đều nảy lửa.  Tôi nhìn thấy mặt họ gần giống mặt người, nhưng một số vị chính giữa trán lại mọc lên một cái sừng và bên dưới có một cái đuôi giống đuôi chó, một số vị khác từ thắt lưng trở xuống lại nhìn giống như phần đuôi những con tắc kè.  Một hung thần ồm ồm cất tiếng hỏi:
-  Hỡi anh chàng con người trần thế kia, tại sao mày có mặt ở chốn âm ti này?
Tôi thuật cho họ nghe đầu đuôi câu chuyện.  Một hung thần nói:
- Vậy mày hãy đến sống cùng bọn ta.  Chúng ta chẳng làm hại mày đâu.  Sau khi phục dịch chúng ta vài năm, để trả công, chúng ta sẽ mang mày đến bất kỳ nơi nào mày muốn đến.
Tôi vừa đáp tôi thuận tình, họ đã bảo luôn:
-  Mày biết điều đầy.  Mày không thuận tình, chúng ta cũng bắt mày phải đi theo.
Nói xong, các hung thần cắp tôi vào nách, bay lên không trung, vượt qua muôn ngàn núi rừng và biển cả mới đến được nơi nọ sống quây quần.  Ở đây có vô số hang động.  Cũng có những hung thần không sống trong hang mà chọn đầu ngọn suối hoặc dưới vực thẳm.
Tôi ở cả một năm trời cùng với các hung thần ấy, chỉ sống nhờ cây cỏ.  Đối với các hung thần ấy, bữa ăn thường ngày là các khúc xương người ta đã ăn hết phần thịt: đấy là những món ăn tuyệt vời của họ.  Tôi nhớ nhiều lần nghe họ vừa xuýt xoa thốt lên ngon quá, tuyệt quá.  Các hung thần ấy còn chê bai loài người ngu dốt, sao lại thích ăn thịt hơn gặm xương.  Để khỏi thiếu thực phẩm, một số trong bọn họ được giao việc chuyên đi mọi nơi lùng xục kiếm về cho đủ số xương dùng hằng ngày.  Những thần này tìm kiếm xương từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt được ưa chuộng là xương ngựa xứ Tartari, món họ rất ham thưởng thức.
Sự ăn uống kham khổ, cũng như nổi buồn phải làm nô lệ cho lũ hung thần không làm tôi đau khổ bằng khi thấy bọn chúng tỏ ý khinh miệt Thánh kinh Coran của Đấng Mahomêt nhà tiên tri chúng ta.  Chúng cấm tôi không được đọc kinh cầu nguyện cũng như thực hành các nghi lễ hằng ngày.  Biết mình không tuân lệnh chúng sẽ nguy hiểm lắm đấy, tôi vẫn tìm được cách thực hành lễ tiết tôn giáo trong vòng bí mật.
Một hôm, đang ngồi trong một cái hang mà tôi có nhiệm vụ phục dịch, trong lúc tôi âm thầm đọc nhẩm một vài vần thơ trong Kinh Coran, chợt nghe trên không trung có nhiều lời ca và tiếng hát khá rõ ngợi khen Thượng đế tối cao.  Ngạc nhiên sao có chuyện lạ lùng, tôi vội ra khỏi hang xem có điều gì đang xảy ra.  Tôi nhìn thấy có nhiều vị thần mặc đồ trắng và khoác bên ngoài các tấm áo choàng giống như áo tu sĩ thần học.  Những vị thần này to lớn béo tốt, chứ không còm nhom như các hung thần kia.  Hóa ra các hảo thần áo trắng vừa đánh nhau với các hung thần màu đen.  Các thần áo trắng toàn thắng, lên tiếng ngợi ca Thượng đế tôi thiêng liêng.  Một số hung thần đen đủi bị bắt trói, một số khác vội vàng cao chạy xa bay.
Không chỉ bằng lòng ngắm cảnh tưởng ấy, tôi hòa lời ngợi ca của mình vào lời các hảo thần.  Tôi cố gắng lấy hết hơi sức, gào thật to: “Trên đời này chẳng có thần linh nào ngoài Thượng đế, và Mahômêt là đấng tiên tri của Ngài.”
Một nhóm thần vừa chiến thắng nghe tôi xướng như vậy, liền xúm quanh lại:
-          “Mày là ai?” Một thần hỏi.  “Ai đã dạy cho mày lời ngợi ca ấy?  Chúng ta không ngờ có một tín đồ Hồi giáo ở chốn này.  Mày từ đâu đến, và làm sao mày đến được tận đây?”
Tôi đáp ứng sự hiếu kỳ của các vị thần ấy, họ dẫn tôi đến gặp vị có vẻ như là nhà vua của tất cả bọn họ.  Vị thần này lại hỏi tôi những câu tương tự vừa rồi, tôi lại trả lời y chang như cũ.  Thần hỏi tôi theo tôn giáo nào.  Tôi vừa đáp tôi là người Hồi giáo, vị thần linh ấy đã thốt lên: “Hạnh phúc thay cho ai là tín đồ của Mahômêt.”  Rồi thần lại hỏi tôi tên họ là chi.  Sau đó, thần ấy bảo:
-          “Anh Abunphuauri này, ta rất hài lòng đã giải thoát anh khỏi bàn tay hung thần vô đạo.  Nếu không, một ngày nào đó bọn chúng sẽ hãm hại anh.  Lúc này anh có thể tha hồ mừng vui, bởi anh đang được sống cùng các vị thần linh tất cả đều đã quy theo Hồi giáo, giống như anh.”

NGÀY MỘT TRĂM THỨ TÁM MƯƠI BA

Nhà vua của các vị hảo thần ấy tự nhiên có cảm tình với tôi.  Thấy tôi am hiểu tường tận nhiều điều thuộc về giáo lý, cả những việc cần làm cũng như những điều cấm kỵ trong đạo Hồi, vua lập tôi làm giáo chủ.  Như vậy, tôi trở thành người chăm lo mọi công việc thuộc về tôn giáo cho các thần.  Những ngày tôi nhịn ăn, các vị thần cùng nhịn như tôi.  Hằng ngày, tôi đọc Kinh Coran cho họ nghe và thuyết giảng giáo lý cho họ.  Dần dần tôi gây được lòng kính trọng của mọi thần, tôi có uy tín đến mức chẳng bao giờ họ làm việc gì không tham khảo ý kiến của tôi.  Tất cả đều kính trọng các fatua (quyết định của giới tu sĩ. ND) tôi ban ra.
Một đêm, tôi nằm mơ thấy mình đang ở trong vườn thiêng razua  ở thánh địa Mêđin, chợt nàng Canzat bước vào vườn.  Bộ dạng nàng như người sắp chết đến nơi.  Nàng tiến đến bên lăng mộ của đấng tiên tri và cất lời cầu nguyện như sau:
-          “Hỡi Đấng tiên tri Mahômêt!  Vì Người, con đã từ bỏ ma giáo của con để quy theo đạo của Người.  Xin Người hãy rủ lòng thương một nữ tín đồ vốn thực hành đầy đủ mọi lời người răn dạy.  Xin Người hãy trả về cho con người chồng của con, con không sao chịu đựng sự thiếu vắng quá lâu ngày của chàng.  Xin Người hãy cho chồng con được trở về Basra để bảo vệ trái tim người vợ đã hiến dâng trọn vẹn cho chàng, và đang bị một kẻ tình địch rắp tâm chiếm đoạt.”
Những lời cầu nguyện ấy làm tôi choàng tỉnh giấc, lòng vô cùng băn khoăn.  Tôi cảm thấy ở giấc mơ này một điềm chẳng lành.  Tôi hình dung vợ tôi đang chống chọi trước một âm mưu buộc nàng phải mất tiết hạnh.  Tôi không sao dứt khỏi đầu óc ý nghĩ ám ảnh ấy, và tự nhiên trở nên buồn rầu không thể nào tả xiết.  Nhà vua các thần linh nhận thấy nỗi buồn lộ trên vẻ mặt tôi, liền hỏi:
-          “Ngài giáo chủ, ngài có việc gì không vui?  Từ nhiều ngày nay, ta nhìn thấy đôi mắt ngài đầy vẻ u sầu.  Phải chăng ngài buồn chán phải ở lâu chốn này?”
-          “Tâu đức vua vĩ đại,” tôi đáp, “tôi chịu ân huệ quá sâu của ngài.  Tôi quá quý tình thân hữu các vị hảo thần tín đồ Hồi giáo dành cho tôi.  Tôi không đến nỗi bất nghĩa để xin từ biệt ngài cùng các vị thần linh ấy.  Nhưng tôi không dám giấu giếm ngài một nguyên nhân khác khiến cho cuộc sống của tôi không được bình yên.”
Tôi thuật lại nhà vua nghe giấc mơ, và thú thật đấy là nguyên nhân đích thực khiến tôi luôn ưu phiền.  Nhà vua đáp:
-          “Ta làm  sao nỡ chê trách ngài về việc ngài có được một phu nhân ngài hằng quý yêu, hằng tưởng nhớ, hằng ước mong gần gũi.  Ngài có biết từ đây về thành phố Basra quê hương của ngài mất bao nhiêu thời gian đi đường không?  Chín mươi năm trời ròng rã, xin ngài hiểu cho.  Nhưng Thượng đế đã cho phép chúng ta đủ phép thần thông coi những xứ sở xa xôi nhất cũng trở nên gần gũi.  Bởi vậy, cho dù vô cùng xa ngái, ta sẽ giao cho một thần linh nhiệm vụ đưa ngài trở về thành phố sinh quán của ngài, và rồi ngài sẽ được nhìn thấy tận mắt trên thực tế nàng Canzat ngài đã nhìn thấy trong giấc mơ.”
Nói xong, nhà vua cầm tay dắt tôi đến bên bờ một biển, nước biển màu đỏ rực, chỉ cho tôi nhìn thấy một hòn đảo ngoài khơi, và hỏi:
-          “Ngài có nhìn rõ hòn đảo, trên đó có một ngọn núi đá đỉnh cao chạm tới mây xanh?”
-  Tâu bệ hạ, tôi có nhìn thấy.Tôi đáp.
-  Ngọn núi cao giống hệt một pháo đài ấy, rỗng ở bên trong.  Đó là nơi giam cầm các thần linh theo tà giáo sa vào tay ta, hoặc những kẻ nào không chịu khuất phục ý chí của ta.
Vua nhấc bổng tôi và bay đến hòn đảo ấy.  Đến chân núi thấy một cửa dày bằng thép khóa chặc.  Vua ra lệnh mở cửa.  Tôi theo vua bước vào trong, nhìn hấy vô vàn hung thần đang bị xiềng bằng xích sắt, trong đó tôi nhận ra có cả tên từng bắt tôi làm nô lệ cho nó.
Trong số tù nhân, có một hung thần tà giáo hết sức cao lớn, bộ mặt xấu xí khủng khiếp.  Y không mang xiềng sắt như những hung thần khác.  Tay chân y bị những chiếc vòng thép níu chặt vào vách đá, khiến y không thể cử động chút nào.  Nhà vua thần linh hỏi y:
-  Tên khốn kiếp, mày có nhớ mày đội ơn tao bao nhiêu lần không?
-  Tâu đức vua vĩ đại,”hung thần đáp, tôi không quên tôi đội ơn ngài nhiều lần lắm lắm.  Tôi một nghìn lần đáng xử tội thật nặng nề thật đau đớn, thế nhưng ngài đều ân xá cho tôi.
-          “Vậy lúc này đây, ta sẵn sàng cho mày được tự do lần nữa,” nhà vua nói.
-          “Tâu bệ hạ, phúc đức của bệ hạ lần này không phải là lần đầu.  Ngài đã nhiều lần cho kẻ này được tự do.”
-          “Giờ ta cho mày được tự do lần nữa,” nhà vua nói, “nhưng với điều kiện.  Trước hết mày phải quy theo đạo Hồi, hai nữa, mày đưa vị tín đồ Hồi giáo này đến thành phố Basra.  Ta muốn mày làm việc ấy trong thời gian ngắn nhất.” 
-     “Tâu bệ hạ, tôi sẽ đưa vị ấy đến tận nơi nội trong ba tiếng đồng hồ,” hung thần đáp, “và tôi xin hứa sẽ nhất nhất tuân thủ mọi mệnh lệnh bệ hạ truyền.” 
Nhà vua quay lại nói với tôi: 
-          “Ngài cần luôn luôn ghi nhớ trong lòng: hung thần này là một tên độc ác, xảo quyệt, phản trắc, đểu cáng.  Ta không dám tin vào các lời hứa hẹn của nó.  Ta lại sợ rồi đây nó sẽ dở trò ra với ngài.  Bởi vậy, ta truyền cho ngài một câu thần chú, khi ngài cưỡi trên lưng lão hung thần ấy, ngài phải luôn miệng niệm thần chú, ngài có thể tin chắc nó không dám dở trò gì ra hãm hại ngài.” 
Nói đến đây, nhà vua hạ giọng truyền cho tôi câu thần chú. 
Sau khi tôi thuộc lòng câu thần chú, nhà vua ra lệnh tháo các vòng thép cho tên hung thần.  Rồi tự tay nhà vua thần linh đặt tôi lên lưng nó, sau khi đã lấy vải bịt mắt tôi, bảo như vậy cho tôi đỡ sợ hãi khi sẽ nhìn thấy những gì trên đường đi.  Tiếp đó, vua dặn dò tôi như sau: 
-          “Abunphauari, để ngài đền đáp những việc tôi đã làm cho ngài, tôi chỉ yêu cầu ngài có một việc.  Sau khi đã gặp gỡ gia đình ngài ở thành phố Basra, nhờ ngài nhân danh ta đến yết kiến Đấng Thống lĩnh các tín đồ, hoàng đế Oma và Aly Ben Aly Talep, con rể của đức Mahômêt.  Ngài hãy trình với các vị ấy, dưới âm ti cũng có một quốc gia gồm các tín đồ Hồi giáo.  Họ không bao giờ quên không đọc kinh bismila trước mỗi bữa ăn, không quên làm lễ tắm gội cũng như đọc các kinh khác của mọi tín đồ; và họ đang ngày đêm chiến đấu chống lại các hung thần vốn bài xích đạo Hồi.”
Tôi thề sẽ thực hiện đầy đủ việc nhà vua thần linh yêu
cầu. Rồi tôi ra khỏi cái hang đá, chễm chệ trên lưng lão hung thần. Nhà vua gọi với dặn dò:
        - Này chàng trai trẻ, chàng đừng chớ quên niệm câu thần chú. Tên hung thần này chỉ chịu phục chàng khi chàng niệm câu thần chú , nếu chàng quên không thực hiện lời ta dặn, thì ngài khắc gặp nguy cơ phải bỏ mình.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI TƯ

Nhà vua thần linh dặn đi dặn lại tôi điều ấy không phải không có lý do. Chẳng bao lâu tôi đã nhận ra hệ quả. Khi tôi vừa ngừng câu niện thần thú trong chốc lát, tên hung thần liền gào lên những tiếng khủng khiếp, khi tôi niệm chú lão im ngày. Tôi nhận thấy hung thần khi khi bốc lên cao khi thì sà xuống thấp, miệng lầu bầu thốt ra những điều kinh khủng, tưởng như vậy sẽ làm cho tôi sợ hoặc ngã lộn nhào. Nhưng mặc cho lão làm gì thì làm, tôi vẫn ngồi vững chãi trên lưng lão.
        Tuy nhiên dù luôn để tâm vào việc niệm thần chú nhằm đảm bảo an toàn cho mình, tôi vẫn không thể tự ngăn mình chú ý đến một mớ lời lẽ hỗn độn phát ra từ trên không trung. Hơn thế, tôi còn tháo tấm khăn bịt mắt để thỏa mãm tính hiếu kỳ. Nhìn thấy rất nhiều thần linh, mỗi vị mang một dáng vẻ đặc biệt, đánh nhau loạn xạ giữa trời. Mải nghe tiếng họ thét, mãi xem các đón họ choảng nhau, tôi quên không niệm chú, lão hung lợi dụng cơ hội ấy, hắt tung tôi xuống biển rồi xông vào tham gia cuộc chiến bát nháo với các thần linh kia.
        May lúc ấy rơi gần bờ, và vốn giỏi bơi lội, tôi vào được trong đất liền. Tôi hôm vào mặt đất ở đấy nhiều lần, hết lòng tạ ơn trời đất đã cứu nạn cho. Tuy nhiên, nếu được cái vui không phải bỏ mạng trong sóng dữ, thì lại phải chịu cảnh một thân một mình giữa sa mạc; và đau đớn hơn tất thảy mọi điều, là không bao giờ con có hy vọng gặp lại người vợ thân yêu cùng quê  hương xứ sở.
        Trong khi đang âu sầu như vậy, tôi bắt đầu oán trách vị cố tể tướng của đại đế Xalomon, có lẽ tại những tấm thiếp của ông nên mình lâm vào cảnh ngộ này. Bỗng nhìn thấy từ ngoài biển một con chim nhỏ đang bay về phía tôi. Tôi chưa bao giờ thấy một con chim kì là như thế này: đầu máu xanh lam, đôi mắt đỏ, đôi cánh vàng và cái đuôi màu là cây. Con chim sải cánh bay đến tận miệng tôi, và ghe mỏ xinh xinh của nó nhả vào mồm tôi một thứ nước mát rượi và ngọt ngào. Tiếp đó con chim nói với tôi:
        - Hỡi chàng tín đồ trẻ tuổi, chớ nên nản chí. Chàng được chọn để nêu gương cho nhưng người cùng theo đạo với chàng. Chàng phải sống để sau này còn kể lại cho họ nghe câu chuyện phiêu lưu của chàng để mọn người lấy đó làm bài học.
        - Hỡi chim con xinh xắn,- tôi ngạc nhiên thốt lên- hỡi chim con xinh xắn mang lại điều tốt lành, làm sao biết nói tiếng như người?
        - Tôi là con chim của đấng tiên tri Isaac(1) [Isaac: Một vị giáo trưởng trong Kinh Thánh. Ismeal cũng là nhân vật trong Kinh Thánh tưởng truyền ông là tổ tiên của người Arập Béđuin(PQ).]
; tôi được trao sứ mệnh trông nom vùng biển này hòng cứu giúp những người lâm nạn, đặc biệt các tín đồ Hồi giáo. Bởi vậy, xin ngài chớ nên phiền não, xin tự khuây nguôi, xin hãy tin chắc Đấng tối cao vào giờ phán xét bao giờ cũng có tính đến những trần luân mà người trần thế trung hậu phải chịu đựng trong cuộc sống của mình.
        Sau khi nói xong nhưng lời ấy, con chim chỉ đường cho tôi quả quyết rằng cứ theo đường ấy đi tiếp chẳng lo gặp phải những rùi ro.
        Tôi cứ theo đường chim chỉ mà đi. Điều kỳ diệu hơn cả là tôi đi ròng rã bốm mươi ngày trời không cần ăn không cần uống; hẳn nhờ có nước thần com chim nhả vào mồm giúp cho tôi không cảm thấy đói khát. Cuối cùng, tới đặt chân một ngọn núi nắm chính giữa sa mạc. Leo lên tận đỉnh, tôi nhìn thấy ở đây có một tòa lâu đài khá đẹp xây bằng đá hộc. Tòa lâu đài tuyệt nhiên không có cửa sổ, chỉ có môt cái cổng bằng đồng, lại bị khóa chặt.
        Tôi ngồi xuống nghỉ hóng mát cách cánh cổng chứng hai bước chân, chợt tai tôi nghe một gióng nói ồm ồm:
        - Này con người trần thế kia, anh tới đây lúc này thật đúng lúc cho anh và cả cho tôi đấy.
        Tôi quay mình về phía có giọng nói, thấy một hung thần ma giáo đang nằm trên mặt đất. Tên này còn cao lớn hơn, di dạng hơn tên hung thần phản trắc đã hắt tôi xuống biển. Nó có một cái vòi dài tựa vòi voi, mắt phải đỏ như lửa, trong phi mắt trái xanh lè. Nó nói tiếp:
- Hãy đến bên cạnh ta và chớ nên sợ hại.
        Tôi phải vận dụng tất cả can đảm trong người để không co giò chạy trốn trước con quỷ sử khủng khiếp. Tuy nhiên, cho dù bộ mặt của nó đáng tớm, tôi vẫn đủ bình tĩnh bước tời gần và nằm xuống bên cạnh. Nó tỏ vẻ mừng rỡ. Nó hỏi tôi:
        - Này chàng trai kia, anh theo đạo nào?
        - Đạo của đấng tiên tri Mahômêt- tôi đáp.
        - Càng tốt- nó nói tiếp- Ta đang cần một người đúng như anh. Ta đanh tính toán một công trình rất lớn ta không thể thực hiện một minh. Với sự cộng tác của anh, hy vọng có thể thành đạt. Anh có thể tin chắc, nếu ta đạt được điều ước mong, ta sẽ ban cho anh vô vàn quang vinh và của cải. Khi ta đã làm bá chủ tất cả mọi vương quốc trên trần gian, để tỏ lòng cảm ơn, ta sẽ làm cho anh một nước để làm vua.
        - Tôi đồng ý giúp ông,- tôi đáp.- Tôi không đòi hỏi phải có một nước để làm vua, tất cả những gì tôi đòi hỏi, là nhờ ông sau khi đấy đưa tôi về thành phố Basra. Ông có hứa với tôi vậy không?
        - Nhất trí- hung thần đáp.- Ta xin thề trước tất cả những gì thiêng liêng nhất của đạo giáo ta:
        - Vậy giờ đây ông chi cần bảo trước cho ta biết càn phải làm những gì, tôi sẽ cố gắng thực hiện sao cho tốt nhất,- tôi bảo lão.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI LĂM
        Tên hung thần mừng rỡ nghe tôi đồng ý làm việc lão đang cần. Nhưng cảnh giác lão, sợ nó lại rở trò ma giáo gì chăng, tôi không quên lầm rầm niệm câu thần chú, Trong lúc ấy, hung thần rút từ trong túi cua nó ra một nắm viên đạn trì đặt nó vào bàn tay tôi , và bảo:
- Hãy cầm lấy những viên chì này. Anh chớ quên mỗi lần thấy ta ngã vật ra hay không biết trời đất gì nữa thì anh hãy ném cho ta một viên.
- Tôi sẽ làm tất cả những gì ông truyền bảo,- tôi đáp- ông có thể tin lời tôi.
Hung thần đứng lên tôi cũng đứng lên theo và hai chúng tôi tiến bước đến tòa lâu đài. Lão hung thần cũng cầm ở tay một nắm viên đạn chì một nắm viên đạn trì y như tôi. Y nén mạnh một viên vào cổng bằng đồng, cánh cử tự động mở ngay tức khắc. Chúng tôi bước vào một cái sân lát đá vân thạch. Có hai con sư tử nằm canh vứa trông thấy chúng tôi, chúng gầm lên. Lão hung thần ném cho mỗi con một viên đạn chì, chúng năm yên không động đậy. Chúng tôi lại đi tiếp và gặp một cánh cổng nữa bằng đồng, khóa bới một ống khóa bằng bạc. Một viên đạn vừa ném trúng cái khóa, nó đã rơi xuống và cánh cổng đồng lại tự động mở ra ngay tức khắc. Trước mặt chúng tôi hiện ra một cái hang hết sức rộng, chính giữa hang có một con sông lớn cuồn cuộn chảy dòng nước đen xì, hai bên bờ phục hai con rồng to lớn dị thường.
  Vừa nhác thấy chúng tôi, hai cong rồng giương cánh, rít lên những tiếng dữ tợn, và bắt đầu há miệng phun ra những ngọn lứa rầm rập. Lão hung thần lại ném đạn vào, chúng nắm yên xuống đất và không gáo rít nữa.
Chúng tôi tiếp đến một cái sân rộng khác. Cái sân này lát bằng những tấm bạc khối, và chung quanh có tường rào hình như xây bằng những viên gạch vàng ròng, Chính giữa sân là một mái đình có vòm cao bằng gỗ trầm hương đỏ, do sáu cái cột đúc bằng thép Trung Hoa đỡ mái. Dưới mái hòm kê một chiếc sập bằng vàng khối. Trên sập đặt một cỗ quan tài bằng ngọc quý tỏa sáng long lanh làm tôi lóa cả mắt.
Chúng tôi vừa mon men đến gần, hai con quát vật thân giống hình sư tử song đầu và cánh giống đầu và cánh chim ưng đang nằm canh cái vòm, định xông tới xé xác chúng tôi ra. Nhưng các viên đạn chì buộc chúng thụt lùi. Nhờ vậy chúng tôi bước đến không gặp trở ngải, sát cỗ quan tài và nhìn vào bên trong.
Cỗ quan tài ngọc đựng thi hài một ông già đáng kính, có vẻ như cụ vẫn còn đang thở. Thần chết bao giờ cững làm biến dạng, khiến cho những con người khi đẹp nhất lúc sống trên trần gian trở thành những cái xác khủng khiếp sau khi qua đời, nhưng dường như có vẻ kiêng dè nhân vật đang yên nghỉ trước mắt chúng tôi.
Ngón tay cụ đeo nhiều chiếc nhẫn, có một chiếc rất lớn trên mặt có khắc đại danh Thượng đế tối cao(1) (Người Hồi giáo tin rằng Thượng đế có 101 tính danh, mỗi tính danh thể hiện một đức, như hiền từ, thành thiện, công minh… Đại danh của Thượng đế thể hiện đầy đủ mọi tính danh.) Lão hung thần định thò tay tháo chiếc nhẫn ấy, thì ngay lập tức sà xuống một con rắn thân dài có cánh, há miệng thổi vào lão hung thần, làm lão xuống bất tỉnh. Sực nhớ lời hung thần dặn, tôi ném một viên đạn vào người lão bừng tỉnh trong giây lát. Lão nói:
- Mày làm được việc lắm. Đấy là tất cả những gì ta đòi hỏi ở mày. Chớ quên mỗi lần ta cần lại ném cho ta một viên đạn trì như lúc nãy.
Nói xong, y lại thò tay cố ném chiếc nhẫn ra lần nữa. con rắn có cánh lại hà hơi, làm lão hung thần bất tỉnh, Với một viên trì nữa, tôi lại giúp cho lão hồi tỉnh. Lão kêu to, bảo tôi:
- Hỡi anh em tín đồ Hồi giáo ta hàm ơn anh biết bao nhiêu! Anh nên biết thi hài trong cỗ quan tài này là đấng tiên tri Xalomon. Ta muốn lấy được cái nhẫn của người. Lấy được ta sẽ làm bá chủ thế giới, và đến lúc ấy ta sẽ không quên công lao anh đã phò tá ta.
- Sao tự ông không dùng những viên đạn của ông để xua con rắn thần ấy đi?- Tôi hỏi lão.
- Những viên trì ấy chẳng có tác dụng gì đối với nó. Sau khi ta bất tỉnh, ta phải hồi sinh trở lại mới hay vọng thực hiện được ý đồ của ta.
- Nói đến đấy, hung thần lại cố gắng lần thứ ba, lão đã tháo chiếc nhẫn ra được một nữa đốt ngón tay của đấng tiên tri thi tối thiêng liêng, nhưng lần này cũng bị chính con rắn ấy thổi hơn khiến lão ấy ngất xỉu lần thứ ba.
Tôi định làm tiếp công việc của mình. Tây tôi đưa lên cao, sắp tung viên đạn cứu lão, thì con rắn cất lơi nói với tôi, với lời lẽ như sau:
- Hỡi chàng tín đồ Hồi giáo, xin chào chớ nên cứu vớt lão hung thần kia một lần nữa mà chi. Nó chính là một trong bảy tên hung thần ma giáo đã nổi loạn chống lại đức Xalomon, và đã bị ngài bắt nhốt vào tật sâu trong lòng đất để trừng phạt tội bất kính của chúng. Lão chỉ lăm le đoạt cho được chiếc nhẫn mà lão hiểu rõ quyền lực của nó. Lão nằm chờ không biết bao lâu rồi ở chân quả núi nơi chàng gặp nó vừa rồi, mong có ai đến giúp lão chiếm đoạt chiếu nhẫn. Nhưng lão chẳng sao đạt được ý đồ, bởi có ta đây chăm lo việc giữ gìn chiếu nhẫn. Ta là một thần linh trung thành  với đấng tiên tri xalomon, do đó riêng một mình ta đã đủ sức mạnh đánh bại không chỉ tên hung thần ấy mà cả sáu tên bạn của lão hợp sức lại cùng. Vậy chàng hãy để yên cho lão nằm ở đây cho đến ngày tận thế. Chàng hãy mau đi đi ra khỏi nơi này . Chớ nên làm mất yên tĩnh chốn thiêng liêng. Nếu không nghe lời ta buộc phải tiêu diệt luôn cả chàng. Giá chàng không phải là tín đồ thuộc đạo đấng tiên chi Mahômêt, ta đã cho chàng mất mạng từ lâu rồi.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI SÁU

            Tôi đáp lại yêu cầu của vị thần trung thành với đại đế Xalomon bằng cách tuân thủ. Tôi quay gót trở lại nơi chân núi, lần này chẳng cần dùng đến các viên đạn chì để xua con rồng và các con sư tử tránh xa. Các con vật hung dữ vẫn còn nằm yên trong trạng thái y như khi lão hung thần ném viên đạn vào nó.
           Tôi theo một con đường mòn dẫn đến một cánh đồng. Trước khi vào cánh đồng ấy, phải đi qua một cái hang, từ miệng hang lửa và khói không ngừng tuôn ra  dữ dội. Tai tôi chợt nghe thấy tiếng xiềng xích sắt loảng xoảng cùng với những tiếng kêu la , than khóc , rên xiết cực kỳ ảo não. Ở cửa hang ngự một con quái vật mà tôi không đủ lời lẽ nào để các vị hình dung nó xấu xí đến thế nào. Tôi đồ chừng đây là một vị hung thần ma giáo, bởi tôi trông nó giống hệt những hung thần tôi đã gặp. Tên này bị xiềng chặt vào khối đá bởi những sợi xích sắt rõ to.
           Nó cất tiếng gọi tôi, nghe ầm ầm chẳng khác tiếng sấm rền:
           - Hỡi chàng trai trẻ kia, hãy dừng chân và nghe ta bảo đây. Mày là người xứ nào?Mày theo đạo giáo nào?
           Tôi đáp tôi là người thành phố Basra, đạo của tôi là đạo Hồi.
- Vậy tiên tri Mahômêt có còn sống trên đời chăng?- Y hỏi?
- Ngài đã đổi nơi sống rồi. Trong cuộc đời trần thế, Ngài đã làm tròn sứ mệnh tuyệt vời. Bởi vậy ngày bước ra khỏi thế giới trần tục để sang hưởng hạnh phúc vĩnh hằng trên chốn thiên đàng.
Y lại đặt ra cho tôi nhiều câu hỏi khác nữa:
- Những người theo Hồi giáo ngày nay thường xuyên cầu nguyện hay không? Phong tục đạo đức của họ có được tinh khiết chăng?
           - Họ cầu nguyện thường xuyên,- tôi đáp.- Nhưng than ôi tất cả mọi người đều ai cũng hết mực tuân theo những lời giáo huấn của đức Mahômết.
           - Được như vậy càng tốt,- Vậy nước sông Zemzem vẫn chảy đều đều chứ?
           - Nó vẫn chảy đều đều.- Tôi đáp.
           - Rồi đây có một ngày nó sẽ cạn kiệt sự vô luân sẽ trờ thành phổ biến. Rồi mọi tội ác sẽ thao hồ tái diễn. Sự ngoại tình sẽ sảy ra khắp mọi nơi chốn, chẳng ai buồn giữ lời thề, rồi con người sẽ ăn thịt lợn, người ta sẽ uống rượi chè bê tha nơi công cộng , rồi người ta sẽ thấy phụ nữa cưỡi nhong nhong trên mình ngựa.
           - Ồ, cái thời ấy đâu có xa xôi gì,-tôi đáp- ngày nay nhiều người vẫn sống theo cung cách ấy thôi.
           Tôi để ý sau câu sau cùng này của tôi khiến lão hung thần vui mừng khôn xiết. Lão sôi nổi nói:
           - Này, hỡi con người trần thế kia! Có thể nào con người nay phạm lắm tội lỗi đến thế? Mi mang lại cho ta tin tức quá tốt đấy. Đã đến lúc ta bỏ cảnh nô lệ tù đày để đến sống chung với con người trần thế. Này chàng trai trẻ ngươi biết ta đây là quỷ Đêtgin(1)(Dedgeal : Qủy chống lại Thượng đế, tương tự quỷ Xatăng đối với người theo đạo Thiên chúa). Ta sẽ mang lên trần thế để trút nỗi điên giận của ta vào loài người.
           Nói đến đây, lão cố đập phá cái xiềng, cố bứt tung dây xích cuối cùng tự lao cũng thoát ra khỏi xiềng xích trói buộc. Nhưng mới đến đấy, lão chưa kịp làm gì thêm, đã có hai vị thần linh mặc áo xanh xuất hiện ngay tức khắc, bắt giữ lão lại. Một thần xiếng lão trở lại vào cối đá, thần kia cầm cây trùy thép đập vào đầu lão, và bảo :
           - Hãy yên mày hãy ở yên đấy. Mày phá xiềng xích lúc này quá sớm. Mày hãy chờ cho đến lúc được người ta tha và cho lên trần thế. Giờ khắc đó chưa đến đâu.
           Tôi lo âu nhìn cảnh tượng diễn ra trước mắt. Tôi vội xa lánh con quỷ càng xa càng tốt. Tôi đi vào bên trong cánh đồng, lòng hết sức hoang mang, rồi bước theo một con đường hai bên trồng những hàng cây lô hội đẹp như chưa từng thấy bao giờ. Con đường ấy dẫn đến tận hào sâu bao quanh một lâu đài nhìn thấy từ xa.
Tòa lâu đài ấy, tường xây bằng vàng các lỗ châu mai khảm ngọc. Muốn vào phải đi qua cổng bằng bạc, mà cái khóa bằng ngọc xanh. Sau khi ngắm nghía hồi lâu công trình tuyệt mỹ, tôi nảy ra lòng hiếu kỳ mạnh mẽ muốn nhìn thấy bên trong. Tôi tiến đến gần cổng hơn và đọc mấy dòng chữ sau bằng vàng :
Người nào sau này sẽ tới đây và muốn mớ cái cánh cửa này cần biết không có thìa khóa nào ngoài những lời sau : Trên đời không có thần thánh nào khác ngoài thượng đế, và Mahômêt là đấng tiên tri của thượng đế, và adam là người được thượng đế lựa chọn. Không có thần thành nào ngoài thượng đế, và Ismael nạn nhân của Thượng đế.
Quả nhiên tôi vừa đọc xong mấy câu trên thì cổng tự động mở ra. Tôi biết kể thế nào cho các vị nhỉ. Không có lời lẽ đử sức mô tả quang cảnh hiện ra trước mắt tôi lúc ấy. Các vị hãy vận dụng tất cả các trí tưởng tượng của mình để hình dung những gì sang trọng nhất, huy hoàng nhất, tráng lệ nhất : rồi các vị hãy nghĩ rằng hình dung ấy còn rất xa mới đạt được nhưng gì tôi trông thấy. Có một tòa lâu đài xây bằng một thứ kim loại màu xanh mà tôi chưa hề được biết. Nhưng dù chát liệu ấu có quý bao nhiêu, vẫn không thể sánh bằng sự tinh sảo do bàn tay chế tác xây dựng nên. Kiến trúc tạo lâu đài không giống với các công trình xây dựng của con người chúng ta, thoạt nhìn biết ngay không phải do con người làm nên. Các gian phòng bày biện nào ghế, sập bọc toàn bằng vải thếp vàng và lụa. trên tường có nhiều bức tranh thu hút rất lâu mắt tôi. Các bức tranh mô tả các cuộc chiến tranh mà Đâng tiên tri của chúng ta đã tiến hành nhằm thiết lập tôn giáo của Người, nhưng tất cả đều được sáng tạo với nghệ thuật cao siêu đến nỗi nhà văn họa many nổi tiếng thế giới với bàn tay vàng của ông chắc cũng phải thực lòng thú nhận ông không thế nào vẽ được gần đến như thế.
Tôi đã qua nhiều gian phòng, và ngạc nhiên chẳng hề gặp một ai. Tôi bước vào một khu vườn rộng mênh mông, mà muốn mô tả cũng gặp khó khăn như khi mô tả tòa lâu đài. Các lối đi trong vườn đều dài tít tắp, hai bên trồng đủ lại cây ăn trái, lại có những bồn hoa trồng nhiều loại hoa người đời chưa từng thấy bao giờ, còn hồ nước được xây bằng vàng khối chứa nước trong leo lẻo.
Tôi ngắn nhìn những thứ ấy không chán mắt. Trong khu vườn kìa diệu ấy có đủ loài chim chóc lông cánh màu sắc rực rỡ khác thường đưa nhau hát lứu lo vang không lừng không gian.
Tôi chợt nhận ra trên đường một kỵ sĩ không có râu cằm, trang phục đầy kim cương. Chiếc khăn đội đầu của người khảm nhiều viên hồng ngọc. Con ngựa cưỡi màu hồng tươi, và cứ mỗi bước chân đi qua lại mộc lên ngay tức khắc những đóa hoa dấu chân ấy. Dáng vóc người đẹp hơn mặt trăng, từ đôi mắt người tỏa ra lung linh ánh sáng.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI BẢY

Nhìn trang phục và dáng vẻ của người kỵ sĩ tôi thoạt nghĩ đây là vị chủ nhân của tòa lâu đài. Tôi bắt đầu e ngại người sẽ trách tôi sao dám tự tiện vào trong khuôn viên lâu đài, thì khi đi ngang trước mặt tôi, người dừng ngựa và bảo :
- Hỡi chàng trai trẻ phải chăng anh là người thành phố Basra ?
- Thưa vâng- tôi đáp.
- Xin hoan nghênh,- kỵ sĩ nói tiếp- Ta biết thế nào chàng cũng phải đến đây. Nhưng hãy nói cho ta biết, chàng đã ngắm cảnh vật chốn này, vậy chàng đã dùng nhưng món ăn thường ngày ở đây chưa ?
- Tôi đã nhìn thấy bao nhiêu cảnh vật kỳ thú đáng ngạc nhiên,- tôi nói- nhưng thức ăn của quý vi, tôi chưa được biết nó ra thế nào.
- Vậy hãy tiếp tục bước đi, chàng khắc gặp một người dẫn đường- ông nói tiếp.- Rồi chàng sẽ đạt được đỉnh cao của ước vọng.
Tôi tiếp tục dạo bước đưa mắt nhìn tứ phía. Không có thế có gì làm chán mắt, cũng chẳng có lời nào thán phục cho cùng. Cuối cùng đến nơi đặt cái khám thờ, phía trên khám có ghi dòng chữ : Không có thần thành nào ngoài thượng đế, và và Mahômêt là đấng tiên tri của Người. trong khám có một người đàn ông đang quỳ. Đợi cho người ấy đọc kinh câu nguyện xong tôi vái chào. Người ấy đáp lẽ và nói
- Hỡi tín đồ Hồi giáo trẻ tuổi ! Hẳn chàng được đấng Mahômêt quý yêu lắm cho nên mới tới được nơi đây. Chàng có biết chàng đang ở nơi đâu không ? Chàng nên biết đây là nơi yên nghỉ dành cho bà con và bạn hữu của đâng tiên tri. Ở đây lạc thú vĩnh hằng chờ đón mọt người. Đã rất đông và con và bạn bè của đấng tiên tri ở đâu rồi, ta sẽ giới thiệu chàng với họ.
Thế là người đàn ông dẫn tôi đến một con sông chảy ngang qua khu vườn, nước sông nhìn giống sữa ngọt đang từ từ trôi. Hai bên bờ sông cơ man là người đang ngồi thưởng thức tiệp quanh những bàn xếp đầy các loại thức ăn. Họ là những scherifs, người thuộc dòng họ Mahômêt và các sahabas, bạn đương thời và môm đệ của đấng tiên tri.
Nhìn thấy tôi mọi người chào hỏi rất lịch sự :
- Mời chàng ngồi xuống kia hỡi chàng trai trẻ. Đấng tiên tri Mahômêt đã có nhã ý cho chàng được nhìn tận mắt nơi dành riêng cho các môn đệ và hậu duệ của Người, chàng hãy ngồi xuống đây cùng uống loại rượu của chúng ta, cùng ăn thức ăn của chúng ta.
Tôi ngồi xuống cạnh người dẫn đường. Ông ta đưa cho tôi một miếng bánh mì ngon tuyệt vời, rồi tiếp tôi một món cá, vừa nói « Chàng hãy nếm thứ món cá này, rồi cho tôi biết có bao giờ ăn loại cá ngon hơn thế này chưa ». Quả là tôi chưa bao giờ được nếm món cá tuyệt với đến thế. Tiếp đó, ông múc nước dưới sông mời tôi uống, tôi cảm thấy nước sông có hương vị giống loại rượu nho kỳ thú nhất.
Sau bữa ăn, người dẫn đường đưa tôi đến một thảm cỏ nơi có hơn nghìn thiếu nữ đẹp tụ hội. Nhiều cô ca hát nhiều cô ngồi đàn, và nhiều cô ca khác nữa nắm tay nhau nhảy múa một vũ điệu vòng tròn. Trang phục các cô rất sang trọng, song nhan sắc các cô còn muôn vận lần vượt trội tất cả ngọc ngà trâu báu đeo trên người. Tôi thấy cô nào cũng xinh đẹp. Không thể chọn một cô nào sinh đẹp hơn các cô khác. Và tất cả các cô đều có vẻ thông minh trong ánh mắt của họ, tuyệt nhiên không hề gợn một thoáng ghen tị nào. Người hướng dẫn bảo tôi :
- Trước mắt chàng là các tiên nữ huaris. Đấy là những nàng tiên là nên hạnh phúc của scherifs và các sahabas. Chàng chỉ có thể ngắm nhìn họ từ xa không được phép tới gần, bởi chàng chưa được Tử thần đón ra khỏi nơi trần thế.
Tôi đã đưa mắt hồi lâu quang cảnh trên thảm có ấy, rồi theo người dẫn đường đến một cái động ở cuối khu vườn. Ông nói :
- Thông thường tôi sống ở đây, người kị sĩ không có dâu cằm chính là nhà tiên tri Êli. Vị ấy ở cuối vườn kia. Tôi là nhà tiên tri Khêđe. Động này là nhà tôi. Nếu chàng thích thì chàng có thể ở lại đây cùng với tôi. Chúng ta có thể cùng nhau đọc kinh cầu nguyện, chúng ta sẽ cùng nhau thưởng thức các lạc thú cõi vĩnh hằng, ở trái đất không thể sánh được. Nơi đây quanh năm thời tiết không thay đổi. Chỗ nào khí hậu cũng ôn hòa, mùa nào cũng là mua xuân vĩnh viễn. Nơi đây không có đêm tối, cảnh vật thường xuyên được rọi chiếu ánh sáng dịu mát và tinh khiết của ban ngày.
Nhận lời nhà tiên tri Khêđe, tôi ở lại làm bạn ông mấy năm. Nhưng cho dù nơi ấy vô vàn lạc thú, tôi vẫn chàn. Lòng vẫn tưởng nhớ khôn nguôi nàng Canzat, tôi hiểu ra mình còn nặng nợ trần gian. Đau đáu thương nhớ nàng, tôi không sao thanh thản. tôi dù có sở hữu tất cả tiên nữ sinh đẹp kia, vẫn chẳng bao giờ quên được nàng Canzat. Nhà tiên tri Khêđe nhận ra nỗi buồn của tôi. Ông bảo :
- Tôi thấy chàng muốn trở về Basra. bởi mọi thú lạc trong khu vườn này chưa đủ mạnh để giữ chân chàng lại, ta sẽ làm cho chàng được thỏa ước nguyện của chàng ngay trong chốc lát.
Vừa nói nhà tiên tri vừa ngước nhìn lên trời. Thấy một đám mây bay ngang qua, ông bảo mây dừng lại, hỏi mây bay về đâu. Đám mây, hay đúng hơn là một vị thần linh đang cưỡi mây, hỏi lại :
- Trình đấng tiên tri vĩ đại, tôi đang cưỡi mây bay sang Trung Quốc, ngày có lệnh gì muốn truyền bảo ?
- Thần sang bên ấy làm việc tốt lành hay trừng phạt ai ?- Nhà tiên tri lại hỏi.
- Thưa định làm việc tốt lành.
- Vậy thần hãy tiếp tục hành trình- nhà tiên tri Khêđe nói- ta chưa cần đến ông.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI TÁM

Lát sau, một đám mây khác bay qua. Nhà tiên tri lại hỏi y như lần trước. Đám mây trả lời đang đi đến Batđa làm việc thiện. Nhà tiên tri bảo :
- Nếu vậy ta muốn thần giúp một việc. Thần hãy mang giúp tìn đố Hồi giáo này sang thành phố Basra, và hãy cho chàng xuống trước cổng nhà chàng.
Thần cưỡi mây đồng ý. Tôi cảm ơn nhà tiên tri Khêđe về tầm lòng phúc đức đối với mình, xin ông hãy luôn cầu nguyện cho, rồi cùng vị thần ấy cưỡi mây lên đường. Trước khi tôi khởi hành, nhà tiên tri còn dạy cho tôi câu thần chú, khuyên tôi luôn miệng niệm dọc đường. Câu nguyện này sẽ giúp tôi từ nay cho đến hết đời, ngăn không cho kẻ thù rắp ranh làm hại, tránh cơn thịnh nộ của đấng quân vương, cũng như phòng ngừa tất cả mọi tai họa hiểm nghèo.
Dọc đường tôi đọc một trăm lần câu thần chú, chỉ để thuộc lòng chứ không phải vì nghi ngại vị thần linh đang mang tôi đi. Ông ta là một hảo thần, tôi sẽ sai nếu nghi ngờ lòng tốt của ông. Chỉ trong vòng thời gian ba bốn tiếng đồng hồ, ông đã mang tôi về Basra, đến ngay trước cổng nhà tôi. Lúc này đang đêm. Tôi đập cửa một người cầm cây nến ra mở cổng. Nhìn thấy mặt tôi ông ta đóng sầm ngay cổng lại, hỏi tôi là ai, tôi có việc gì cần. Tôi bảo tôi là chủ ngôi nhà này, và lệnh cho anh hãy mau chóng mở cổng ra.
Nghe tôi bao vậy, anh gia nhân đi tìm vợ tôi báo cho biết, và chính nàng Canzat thân hành ra mở cổng. Nhưng trông thấy tôi nàng không hề biểu lộ sôi nổi mừng vui như người vợ gặp lại chồng đi xa lâu ngày trờ về, lại còn thét lên một tiếng kinh sợ rồi lật đật quay vào bên trong. Tôi liên lớn tiếng :
- Sao ? Tại sao Canzat hoảng hốt khi nhìn thấy ta ? Tại sao nàng không nhận ra ta ? Ta thay đổi đến thế sao ? Hãy mang chú Hua đến đây cho ta !- tôi quát- Ta muốn nói chuyện với chú ấy. Chú Hua xuất hiện ngay cùng với một chàng trai tôi không quen. Chú đên gần tôi, chăm chú nhìn hồi lâu rồi nói không nhận ra tôi. Chú còn thêm :
- Anh Abunphuari không giống ông chút nào. Anh ấy đẹp trai lắm, còn ông quá xấu xí. Anh ấy béo tốt còn ông gầy nhom chẳng khác một bộ xương, Thôi, ông chớ làm giả anh ấy nữa, ông không thể lừa dồi chúng tôi đâu. Mặc dù chúng tôi xa cách anh ấy bảy năm trời, chúng tôi làm sao quên được nét mặt anh ấy. Chúng tôi biết chắc anh ấy bỏ mình trong chuyến đi Gôncông.
Tôi khá ngạc nhiên khi nghe lời nói ấy. Tôi hiểu con người mình không thể không thay đổi, nhưng không thể thay đổi đến mức em trai không nhận ra mình. Tôi liền nói với vợ tôi- nàng yên tâm vì sự có mặt của chú Hua cùng người nô lệ đang đứng nghe chuyện, đã quay trở lại bên cổng :
- Thế nào, hỡi em Camzat, em không nhận ra Abinphauari, người chồng em từng yêu quý xiết bao ? Người chồng mặc dù phải trải qua bao bất hạnh, vẫn luôn một lòng một dạ nhớ yêu em ? Ôi số phận tôi mới đáng thương làm sao ? Ta đâu ngơ được em đón tiếp ta như vậy ngày ta trở về ? Ta còn sống trên trái đất này làm gì ? Công lao ta nôn nóng chờ đợi xiết bao để nhìn lại xem, nay được trả công như thế này sao ?
- Ông có giọng nói giống Abunphauari lắm,- nàng Canzat đầy xúc động bảo tôi, - Mặc dù nét mặt ông hoàn toàn không giống anh ấy, tôi vẫn không thể giọng ông nói mà không cảm thấy bồi hồi. Nhưng nếu quả thật ông là chông của tôi, hãy nói rõ tại sao ông thay đôi đến vậy so với ngày từ dã thành phố Basra ? Mấy năm qua, ông lưu lạc nhưng nơi đâu, những gì đã xảy ra trong đời ông, khiền cho con người ông thay đổi đến mức này ?
Vậy là tôi thuật lại cho họ chuyến đi của tôi, không bỏ qua chi tiết đặc biệt nào. Tôi kể xong chàng trai trẻ tuổi ấy nói với tôi :
- Ông là một kẻ gian dối, ông bịa ra câu chuyện lố bịch ấy để gây trở ngại cho hạnh phúc của tôi. Nhưng ông nhầm rồi, ông chớ có hi vọng đạt được mưu đồ. Bởi tôi vừa làm lễ cưới nàng Canzat hôm nay, tôi sẽ làm chồng của nàng.
Câu nói sau làm tôi giận điên lên. Tôi quắc mắt nhìn nàng Canzat và chú Hua. Hai người đếu có vẻ lo lắng, buồn rầu. Tôi kêu  to : « Làm sao có chuyện như thế được nhỉ ? Ta vẫn hằng tin nàng Canzat luôn luôn chung thủy như ta, làm sao nang Canzat có thế có người chồng nào khác ngoài ta ? »
Tôi định nói tiếp nữa, song một nỗi xúc động đột ngột trào lên chạn nhang học, khiến tôi không thốt lên được lời nào nữa.

NGÀY THỨ MỘT TRĂM TÁM MƯƠI CHÍN

Suốt đêm hôm ấy, chàng trai trẻ kia và tôi tranh cãi với nhau. Tôi tìm cách chứng minh tôi là Abunphauari, anh chàng dừng như cang tin chắc hơn điều ngược lại. Về phần nàng Canzat và chú Hua, hai người chỉ lặng im đưa mắt nhin nhau, trong ánh mắt có họ không dấu được vẻ hổ thẹn. Trời vừa sáng cả bốn chúng tôi kéo
nhau đến dinh quan chánh án.
- Bẩm quan lớn – chàng trai trẻ nói – ngày hôm qua ngài vừa làm thủ tục cho tôi kết hôn cùng nàng Canzat, nhưng cuộc hôn nhân không thực hiện được, bởi bị một con người xa lạ đang đứng trước mặt ngài đây đến quấy phá. Ông ta cứ khăng khăng bảo mình là chồng bà này, tên ông ta là Abunphauari.
Viên chánh án lắc đầu, nói ai chứ ông Abunphauari thì ông  có quen, người này không giống ông kia chút nào – Rồi hỏi nàng Canzat:
- Thưa bà, bà nghĩ sao về người này? Bà có tin đó là ông Abunphauari chồng của bà hay không?
- Bẩm quan lớn – nàng đáp – cứ như mắt tôi nhìn thì đây không phải là con người ông, cứ như giọng tôi nghe thì đây lại là giọng của ông ấy.
Tôi vội thưa với quan chánh án:
- Hỡi vị quan toà công minh của những người Hồi giáo, cúi xin ngài hãy chú ý nghe lời tôi thưa đây. Xin ngài chớ phán quyết vội vàng, e ngài có thể tuyên một bản án không công bằng. Nếu người tôi thay đổi, ấy có lẽ do hệ qủa những chuyện xảy ra với tôi gần đây nhất. Do một thời gian tôi sống dưới âm ti, cho nên mới có sự thay đổi dường này.
- Ông nói chi lạ lùng vậy? – Viên chánh án kêu lên – một người trần có thể sống dưới âm ti ư?
- Chắc chắn có – tôi đáp – Nếu ngài vui lòng nghe, tôi xin thuật lại hầu ngài những việc đã xảy ra.
Chàng trai trẻ nghe đến đây, vội chen vào thưa với viên chánh án:
- Bẩm quan lớn, ông này đã có sẵn trong đầu một câu chuyện hoang đường. Rồi ông ấy sẽ nói ra với ngài đủ điều kỳ diệu, ngài chẳng thể nào tin ông ta được đâu.
- Hãy im đi – Đến lượt viên chánh án ngắt lời y – ta muốn nghe. Ông hãy nói đi, ta nghe – ông quay sang bảo tôi – Bảo đảm ta sẽ xét xử công minh.
Tôi lại bắt đầu kể chuyện, từ khi từ giã thành phố Basra cho đến ngày trở về. Nghe xong, viên chánh án nhìn nàng Canzat, chú Hua và chàng trai trẻ:
- Ta thấy công việc này quá hệ trọng, ta không thể tự quyết định một mình. Những chuyện ông này kể quá khác thường, có thể cho ông ấy dối trá, song biết đâu ông nói đúng sự thật. Đó chính là điều cần làm rõ. Tất cả bốn người phải sang tận thánh địa Mêđin, thưa với Aly Ben Aly Talep, con rể vị tiên tri Môhamét, và hoàng đế Oma, đấng thống lĩnh các tín đồ. Việc này đáng trình để hai  vị ấy biết, rồi tự các vị sẽ phán quyết gian ngay.
Quan chánh án quyết định vậy. Bốn chúng tôi: nàng Canzat, chú Hua, chàng trai trẻ và tôi, đành kéo nhau tới cung yết kiến Đấng thống lĩnh các tín đồ. Nghe tôi thuật xong câu chuyện, hoàng đế phán:
- Những điều ông vừa trình ta nghe quá ư đặc biệt, ta không thể nào tin. Ngay tức khắc chúng ta phải đến khu vườn của Đấng tiên tri, ta sẽ thân hành cùng đi với bốn người. Vị con rể của Đấng tiên tri sẽ phán quyết, chúng ta nên nghĩ sao về câu chuyện kì lạ này.
Cùng với hoàng đế Oma, chúng tôi sang vườn Rauzê. Lúc ấy, ngài Aly đang cầu nguyện bên cạnh ngôi mộ của Đấng tiên tri Môhamét, hoàng đế nói:
- Thưa ngài, ta đưa đến trình ngài một người vừa kể những chuyện hoang đường, khiến ta không biết thế nào tin.
Ngài Aly hỏi tôi tên gì. Vừa nghe đáp, tôi tên là Abunphauari, ngài đã sôi nổi thốt lên:
- Hỡi Đấng tiên tri của thượng đế! Thưa nhạc phụ Môhamét của tôi! Ngài dạy đúng. Tâu bệ hạ – ông quay sang nói với hoàng đế – xin ngài vui lòng cho phép tôi nghe hết câu chuyện của người này hẵng. Ông ta không phải là một người nói dối. Bởi Đức Môhamét đã báo tin cho tôi về người ấy từ lâu. Ngài còn cho biết sẽ có một người tên là Abunphauari một ngày kia sẽ đến tận vườn Rauzê và sẽ kể cho tôi nghe những câu chuyện rất chân thực mà rất lạ kỳ. Ngày ấy cuối cùng hôm nay đã đến, ông Abunphauari đây sắp đáp ứng hiếu kỳ của tôi.
Sau khi thốt lên như vậy, ngài xin Đấng thống lĩnh các tín đồ cho phép tôi được trình bày. Hoàng đế phán:
- Vậy hãy cho anh được kể hết ra, ta vui lòng nghe thêm lần nữa.
Thế là tôi bắt đầu kể về những ngày tôi sống dưới âm ti. Đặc biệt tôi nói nhiều về các vị thần linh theo Hồi giáo, và thưa lại lời vua các vị thần ấy nhờ tôi tâu với Đấng thống lĩnh các tín đồ và ngài con rể của Đấng tiên tri. Cả hai vị, hoàng đế Oman và ngài Aly đều thú vị về những điều tôi nói – hai vị ôm hôn tôi cho tôi là con người hạnh phúc nhất trong tất cả con người đang sống ở thế gian, bởi tôi chưa qua đời thế mà đã có thể nhìn thấy nơi yên nghỉ dành riêng cho các họ hàng và bè bạn của Đức Môhamét sau khi họ bước sang cõi vĩnh hằng. 

NGÀY THỨ MỘT TRĂM CHÍN MƯƠI

Kết qủa chuyến đi của tôi đến thánh địa Mêđin là hoàng đế Oman tin chắc là tôi đúng là Abunphauari. Vua đuổi chàng trai trẻ về, và quyết định trả lại cho tôi nàng Canzát. Tiếp đó, ngài sai xuất trong kho của ngài ra hai nghìn đồng xơcanh vàng ban cho tôi, cùng với một trăm tên nô lệ và một trăm con lạc đà.
Tôi trở về thành phố Basra, tậu một dinh cơ tráng lệ. Tôi sống ở đấy với nàng Canzát như một người tình luôn luôn chung thủy. Tôi không hề trách nàng sao không đủ kiên nhẫn chờ đợi tôi mà vội đi lấy chồng. Đúng là nàng tỏ ra rất hối tiếc về chuyện ấy, và tình cảnh nàng được thể tất cho. Trong thời gian tôi vắng nhà, chú Hua không biết cách quản lý tài sản tôi để lại, hay đúng hơn, chú đã tiêu pha hết sạch sành sanh, thành ra muốn tránh trước cảnh quẫn bách, hơn nữa, cũng muốn tìm cho nàng Canzát một số phận êm đềm hơn, chú đã bày vẽ cho nàng việc nên nhận lời làm vợ một người bạn giàu có của chú ấy.
Tôi cũng chẳng xử sự khắt khe với chú ấy làm chi. Tôi quên đi những chuyện đã qua, và mọi người trong gia đình cùng nhau sống thương yêu đầm ấm. Ngoài những của cải hoàng đế Oman đã ban cho, đủ để sống cuộc sống phong lưu nhàn hạ, tôi còn may mắn phát hiện ra một kho tàng giấu trong dinh cơ tôi vừa tậu. Nhờ vậy, tôi có một khoản lợi tức rất lớn, cho dù sống xa hoa đến mấy cũng chẳng bao giờ lo tiêu pha hết.