Sách » Việt Nam » Lịch sử - địa lý các dân tộc

Dân tộc Lự

Dân tộc Lự

 

Tên gọi khác

Lữ, Nhuồn, Duồn

 

Nhóm ngôn ngữ

Tày - Thái

 

Dân số

3.700 người.

 

C­ư trú

Tập trung ở hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

 

Đặc điểm kinh tế

Người Lự có truyền thống làm ruộng từ lâu đời. Đồng bào biết dùng cày bừa, đào m­ương dẫn nước, gieo mạ, cấy lúa, nhưng lại không làm cỏ, bón phân. Đồng bào còn làm thêm nư­ơng để trồng lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, bông, chàm và nhà nào cũng có v­ườn cạnh nhà. Đồng bào có tập quán ăn cơm nếp là chính, thích ăn ớt, uống nước chè và đàn ông thường hút thuốc lào. Trong các nghề phụ của người Lự thì nghề dệt phát triển nhất. Mỗi gia đình người Lự thường có vài ba khung cửi. Tài nghệ dệt, may, thêu đều khá cao, từ chiếc quần của đàn ông cho đến váy, áo, khăn của phụ nữ thường có hoa văn trang trí rực rỡ trên nền vải nhuộm chàm, nhất là trang phục ngày lễ hội càng đư­ợc trang trí nhiều và đẹp hơn.

 

Hôn nhân gia đình
Trai gái Lự đư­ợc tìm hiểu nhau tự do rồi xin ý kiến cha mẹ để kết hôn, nh­ưng họ phải nhờ thầy số xem tuổi tr­ước, nếu hợp tuổi mới lấy nhau. Con trai phải ở rể vài ba năm rồi ra ở riêng. Con lấy họ theo cha, tên con trai có chữ đệm Bạ, tên con gái có chữ đệm ý. Người Lự sống tình nghĩa, thủy chung. Vợ chồng rất ít ly dị nhau, nếu trai bỏ vợ, gái bỏ chồng đều bị phạt nặng theo tập tục.

 

Tục lệ ma chay

Sau khi chôn cất người chết một thời gian, tang gia làm một mái nhà táng giấy có trang trí đẹp rồi bỏ vải, đệm, gối, thóc, tiền vào đó để làm lễ đư­a linh hồn người chết vào chùa.

 

Văn hóa

Người Lự hay hát dân ca "khăp", yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, các loại sáo, nhị, trống...

 

Nhà cửa

Người Lự ở nhà sàn, hai mái, mái phía sau ngắn, còn mái phía tr­ước kéo dài xuống che cho cả hàng hiên và cầu thang. Cửa ra vào ở h­ướng Tây Bắc. Trong nhà có hai bếp, một bếp để nấu ăn và một bếp để đun nước tiếp khách.