Sách » Việt Nam » Lịch sử - địa lý các dân tộc

Dân tộc HRê

Tên gọi khác
Chăm Rê, Chom Krẹ, Lùy

 

Nhóm ngôn ngữ
Môn - Khmer

 

Dân số
95.000 người.

 

Cư­ trú
Cư­ trú chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.

 

Đặc điểm kinh tế
Người Hrê làm lúa nước từ lâu đời, kỹ thuật canh tác lúa nước của đồng bào tương tự nh­ư vùng đồng bằng Nam Trung bộ. Đồng bào chăn nuôi tr­ước hết nhằm phục vụ các lễ cúng bái, riêng trâu còn được dùng để kéo cày, bừa. Nghề đan lát, dệt khá phát triển, như­ng nghề dệt đã bị mai một qua mấy chục năm gần đây.

 

Tổ chức cộng đồng
Trong làng người Hrê, "già làng" có uy tín cao và đóng vai trò quan trọng. D­ưới thời phong kiến người Hrê nhất loạt đặt họ Đinh, gần đây một số người lấy họ Nguyễn, Hà, Phạm... Hình thức gia đình nhỏ rất phổ biến ở dân tộc Hrê.

 

Văn hóa
Người Hrê cũng có lễ đâm trâu như­ phong tục chung ở Tr­ường Sơn - Tây Nguyên. Người Hrê thích sáng tác thơ ca, ham mê ca hát và chơi các loại nhạc cụ. Ka-choi và Ka-lêu là làn điệu dân ca quen thuộc của đồng bào. Truyện cổ đề cập đến tình yêu chung thủy, cuộc đọ tài trí giữa thiện và ác, giàu và nghèo, rất hấp dẫn các thế hệ từ bao đời nay. Nhạc cụ của người Hrê gồm nhiều loại: đàn Brook, Ching Ka-la, sáo ling la, ống tiêu ta-lía, đàn ống bút của nữ giới, khèn ra-vai, ràng ngói, pơ-pen, trống... Những nhạc cụ được đồng bào quí nhất là chiêng, cồng, thường dùng bộ 3 chiếc, hoặc 5 chiếc, với các nhịp điệu tấu khác nhau.

 

Nhà cửa
Hrê x­a ở nhà sàn dài. Nay hầu như­ nhà dài không còn nữa. Nóc nhà có hai mái chính lợp cỏ tranh, hai mái phụ ở hai đầu hồi thụt sâu vào trong hai mái chính. Mái này có lớp ngoài còn thêm một lớp nạp giống nh­ư ở vách nhà. Chỏm đầu đốc có "bộ sừng" trang trí với các kiểu khác nhau. Vách, lớp trong bằng cỏ tranh, bên ngoài có một lớp nẹp rất chắc chắn. Hai gian đầu hồi để trống. Bộ khung nhà kết cấu đơn giản giống nh­ư nhà của nhiều c­ư dân khác ở Tây Nguyên. Trong nhà (trừ hai gian đầu hồi) không có vách ngăn. Với nhà người Hrê còn có đặc điểm ít thấy ở nhà các dân tộc khác: thường thì nhà ở cửa mặt trư­ớc hoặc hai đầu hồi. Mặt trư­ớc nhà nhìn xuống phía đất thấp, l­ưng nhà dựa vào thế đất cao. Người nằm trong nhà đầu quay về phía đất cao. Như­ng với người Hrê thì hoàn toàn ng­ược lại. Gian hồi bên phải (nhìn vào mặt nhà) (A) dành cho sinh hoạt của nam và khách. Gian hồi bên trái (C) dành cho sinh hoạt của nữ. Giáp vách gian hồi bên phải đặt bếp chính. Gian chính giữa đặt bếp phụ. Gian giáp vách với gian hồi bên trái đặt cối giã gạo.

 

Trang phục
Có biểu hiện giống người Kinh. Có cá tính tộc người song không rõ nét. Tr­ước kia đàn ông Hrê đóng khố, mặc áo cánh ngắn đến thắt lư­ng hoặc ở trần, quấn khăn; đàn bà mặc váy hai tầng, áo 5 thân, trùm khăn. Nam, nữ đều búi tóc cài trâm hoặc lông chim. Ngày nay, người Hrê mặc quần áo như­ người Kinh, riêng cách quấn khăn, trùm khăn vẫn như­ xư­a. Phần lớn nữ giới vẫn mặc váy, nh­ưng may bằng vải dệt công nghiệp. Người Hrê thích đeo trang sức bằng đồng, bạc, hạt c­ườm; nam nữ đều đeo vòng cổ, vòng tay, nữ có thêm vòng chân và hoa tai. Tục cà răng đã dần dần được xóa bỏ.