Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Xây cất Thánh Điện (Xh 34,10 - 36,34)

Giao ước
           10Người phán: “Này Ta sắp kết một giao ước. Trước mặt toàn dân của ngươi, Ta sẽ làm những sự lạ chưa hề (thấy) tác tạo nơi một xứ nào, nơi một nước nào, khiến toàn dân trong đó có ngươi, thấy được là công việc Yavê thật đáng sợ, điều Ta định thi hành nơi ngươi. 11Hãy giữ lấy cho mình điều Ta truyền cho ngươi hôm nay. Này ta sẽ xua khỏi trước mặt ngươi (các dân) Amori, Canaan, Hit-tit, Phơrizi, Khiu-vi, Yơbusi. 12Hãy coi chừng: đừng kết giao với dân trong xứ, nơi người sắp vào, kẻo nó nên tròng bẫy đặt giữa ngươi. 13Song ngươi sẽ triệt hạ Tế đàn của chúng, đập bể bia thờ, chặt phăng các nêu thờ
           “14Vì người sẽ không thờ lạy thần nào khác. Bởi Yavê có danh  là: Ghen: Người là Thiên Chúa cả ghen. 15Đừng kết giao với dân trong xứ: Chúng đàng điếm theo các thần của chúng và tế lễ cho các thần của chúng. Chúng sẽ mời ngươi và ngươi sẽ dự ăn lễ tế của chúng. 16Ngươi sẽ cưới các con gái chúng cho con trai ngươi, các con gái chúng sẽ đàng điếm theo các thần của chúng và làm cho các con trai ngươi cũng đàng điếm theo các thần của chúng.
           “17Thần tượng đúc, ngươi sẽ không làm cho ngươi.
           “18Ngươi sẽ giữ lễ bánh không men; (trong vòng) bảy ngày ngươi sẽ ăn bánh không men - chiếu theo điều Ta đã truyền cho ngươi vào một định kỳ trong thánh Abib, vì trong tháng Abib ngươi đã ra khỏi đất Aicập.
           “19Mọi con đầu lòng khai thông dạ mẹ thuộc về Ta, mọi súc vật, giống đực đầu lòng, ngưu hay dương. 20Con đầu lòng giống lừa, ngươi sẽ lấy chiên chuộc lại, nếu ngươi không chuộc lại thì ngươi sẽ đập gãy ót nó đi. Con trai đầu lòng của ngươi, ngươi sẽ chuộc lại. Người ta sẽ không ra mắt trước nhan Ta tay không.
           “21Sáu ngày ngươi sẽ làm lụng, nhưng ngày thứ bảy ngươi sẽ bãi công: cả trong mùa cày hay mùa gặt.
           “22Ngươi sẽ làm lễ các tuần, tiên thường mùa gặt lúa miến; lễ Gặt hái, lúc năm quay hướng.
           “23Mỗi năm ba bận, các nam nhân sẽ ra mắt trước nhan Đức Chúa Yavê, Thiên Chúa của Israel.
           “24Vì Ta sẽ hất đi các nước trước mặt ngươi và nới rộng bờ cõi của ngươi: sẽ không có ai tham đất của ngươi khi ngươi lên ra mắt trước nhan Yavê Thiên Chúa của ngươi, ba bận trong năm.
           “25Ngươi sẽ không tế sát máu hi sinh của Ta với bánh dậy men và hy sinh lễ Vượt qua sẽ không qua đêm đến sáng.
          “26Tiên thường ưu hạn đất đai ngươi, ngươi sẽ dâng nhà Yavê Thiên Chúa của ngươi. Ngươi sẽ không nấu dê con trong sữa mẹ nó".
           27Yavê phán với Môsê: "Ngươi hãy viết cho ngươi các lời ấy; vì chiếu theo các lời ấy Ta kết giao ước với ngươi cùng với Israel".
           28Ông đã ở đó với Yavê bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, bánh ông không ăn, nước ông không uống, và Ngài đã viết trên phiến những lời Giao ước, Mười lời.

Môsê xuống núi
           “29Khi Môsê xuống núi Sinai, - Môsê có nơi tay hai phiến bia Chứng tri, trong khi ông xuống núi, - và Môsê không biết da mặt ông đã nên chói lọi bởi đã đàm đạo với Người. 30Aharôn và toàn thể con cái Israel trông thấy Môsê và này da mặt ông chói lọi và họ sợ không dám tiến lại với ông. 31Môsê gọi họ và họ trở lại với ông, Aharôn và tất cả đầu mục của cộng đồng, và Môsê nói với họ. 32Sau đó, toàn thể con cái Israel tiến lại và ông truyền cho họ tất cả những điều mà Yavê đã phán với ông trên núi Sinai. 33Môsê vừa nói xong với họ thì ông trùm mạng trên mặt ông. 34Khi nào ông vào trước nhan Yavê để đàm đạo với Người ông mới cất mạng đi, cho đến lúc ra; ông ra và nói với con cái Israel điều ông được lịnh nói. 35Con cái Israel nhìn mặt Môsê và thấy da mặt Môsê chói lọi. Môsê lật mạng lại trên mặt mình cho đến khi ông trở vào đàm đạo với Người.

                                6–XÂY CẤT THÁNH ĐIỆN
Luật Hưu lễ
           35. 1Môsê hội toàn thể cộng đồng con cái Israel lại và bảo họ: “Này là những điều Yavê truyền cho các ngươi phải làm: 2sẽ được làm việc trong sáu ngày; vào ngày thứ bảy, ấy là (ngày) Thánh, Hưu lễ đại hưu dâng Yavê. Phàm ai làm việc trong ngày ấy sẽ phải chết. 3Các ngươi sẽ không đốt lửa ngày Hưu lễ nơi mọi chỗ các ngươi ở”.

Thu thập vật liệu
           4Môsê nói với toàn thể cộng đồng con cái Israel rằng: “Này là điều Yavê đã truyền nói: 5Hãy quyên nơi các ngươi, giáo liễm dâng Yavê: phàm ai có lòng thành sẽ đem lại làm giáo liễm dâng Yavê: vàng bạc và đồng; 6nhiễu tía, nhiễu điều, len cánh kiến, gai mịn và lông dê; 7da cừu nhuộm đỏ, da cá lợn, và gỗ keo; 8dầu thắp đèn, hương nhồi dầu tấn phong và để chế nhạng xạ lan; 9ngọc mã não và những thứ ngọc để cẩn vào áo bào và bổ tử. 10Mọi kẻ tài ba khôn khéo nơi các ngươi sẽ đến và thi hành mọi điều Yavê đã truyền: 11Nhà tạm và Trướng của nó, rạp che, các móc, các tấm ván với then của nó, cột và đế của nó; 12khám và đòn khiêng, bàn xá tội, màn và bức tường; 13án tự và đòn khiêng, và tất cả những đồ phụ thuộc: oản nhan; 14trụ đăng và những đồ phụ thuộc, các đèn của nó và dầu thắp đèn; 15hương án và các đòn khiêng, dầu tấn phong và hương xạ lan, bức trướng cửa vào nơi cửa Nhà tạm; 16tế đàn thượng hiến, các vỉ đồng của nó, các đòn khiêng, và các đồ phụ thuộc, vạc và đế vạc; 17những lá buồm của Tiền đình, cột và đế cột, và bức trướng nơi cửa Tiền đình; 18các nọc của Nhà tạm và nọc của Tiền đình, và dây cột; 19y phục theo nghi thức để hành lễ trong thánh điện, thánh phục cho Aharôn tư tế, và phẩm phục cho các con ông để sung làm tư tế”.
           20Bấy giờ toàn thể cộng đồng con cái Israel bỏ Môsê đi ra. 21Và mọi kẻ có lòng tốt thúc đẩy và mọi kẻ tiết khí dun dủi đi đến: họ đem cho ông, giáo liễm dâng Yavê để cúng vào việc Trướng Tao phùngvà mọi dịch vụ trong đó cùng thánh phục. 22Đàn ông đến và cả đàn bà, mọi kẻ có lòng thành; họ đem đến trầm, vòng, kim hoàn, nhẫn, kiềng, mọi thứ đồ vàng, vàng mõi người đã cúng biếu dâng Yavê. 23Và phàm ai có sẵn trong mình gấm tía, gấm điều, len cánh kiến, gai mịn, lông dê, da cừu nhuộm đỏ, da cá lợn, thì đã đem dâng. 24Phàm ai cúng giáo liễm bạc đồng thì đã đem dâng làm giáo liễm cho Yavê; phàm ai có sẵn nơi mình, gỗ keo để dùng vào mọi dịch vụ cũng đã đem dâng. 25Các phụ nữ tài ba khôn khéo đã tự tay đánh sợi: gấm tía, gấm điều, len cánh kiến và gai mịn. 26Mọi phụ nữ khôn khéo mà lòng thúc đẩy đã đánh sợi lông dê. 27Hàng vương công thì đem dâng mã não và những thứ ngọc để cẩn vào áo bào và bổ tử, 28hương liệu và dầu thắp đèn, dầu tấn phong và hương xạ lan. 29Mọi người đàn ông, đàn bà lòng thành dun dủi muốn đóng góp vào các công việc Yavê đã truyền làm nhờ Môsê, con cái Israel dã đem dâng lễ vật lòng thành cho Yavê.

Thợ làm Đền thờ
           30Môsê nói với con cái Israel: “Coi, Yavê đã gọi đích danh Bơxalêel con của Uri, con của Hur, chi tộc Yuđa. 31Người đã ban cho nó đầy thần khí của Thiên Chúa về khôn ngoan, minh mẫn, hiểu biết và bách nghệ, 32để sáng kiến ra các đồ tinh xảo, làm các đồ vàng bạc và đồng, 33dũa ngọc để cẩn nạm và chạm gỗ để làm ra bách nghệ tinh xảo. 34Người cũng ban cho nó tài dạy bảo, nó và Oholiab con của Akhisamak, chi tộc Đan. 35Người đã ban cho chúng đầy tài khôn khéo để làm mọi đồ của thợ lành nghề tinh xảo, của thợ thêu trên gấm tía, gấm điều, len cánh kiến, gai mịn, và thợ dệt, tóm lại những người bách nghệ và sáng tác mọi thứ xảo kỷ.
           36. 1Bơxalêel và Oholiab cùng mọi người có tài khôn khéo mà Yavê đã ban cho khôn ngoan minh mẫn để họ biết làm được bách nghệ phụng sự thánh điện, sẽ thi hành theo các điều Yavê đã truyền.

Ngừng thu tập vật liệu
           2Môsê đã gọi lại Bơxalêel và Oholiab cùng mọi người có tài khôn khéo Yavê đã ban cho khôn ngoan trong lòng, và những người nào tự lòng họ thúc đẩy họ đón lấy công việc và thi hành các việc ấy. 3Họ lĩnh lấy nơi Môsê tất cả vật giáo liễm con cái Israel đã đem dâng để dùng vào công nghệ phụng sự thánh điện và để thi hành việc ấy. Sáng sáng con cái Israel tiếp tục đem dâng lễ vật lòng thành. 4Các người thợ khôn khéo làm bách nghệ dựng thánh điện, mỗi người dừng công việc của mình đang làm mà đến 5nói với Môsê rằng: “Dân chúng đem dâng dư quá nhu cầu của công việc phải làm mà Yavê đã truyền thi hành”. 6Môsê truyền cho người ta chuyển lời rao trong trại rằng: “Các ông các bà hãy thôi công việc quyên liễm cho thánh điện”, và dân đã ngừng công việc đem dâng. 7Vật liệu đủ cho họ làm mọi việc phải làm, mà còn thừa thải nữa.

Nhà tạm
           8Tất cả những kẻ có tài khôn khéo trong hàng thợ giúp việc đã làm Nhà tạm: mười tấm thảm gai se, gấm tía, gấm điều, len cánh kiến. Ông thêu trên thảm những Kêrubim, kiệt tác của xảo công. 9Chiều dài thảm: hai mươi tám xích, khổ rộng bốn xích mỗi tấm. Hết thảy các tấm thảm đều cùng kích thước. 10Đâu liền năm thảm, cái này với cái nọ. 11Ông đã lấy gấm tía làm dãi nơi mép một tấm thảm ngoài rìa một tấm đâu liền và ông cũng làm như vậy nơi mép tấm thảm ở rìa tấm đâu thứ hai. 12Ông làm năm mươi dãi nơi một tấm thảm; và ông làm năm mươi dãi nơi mép tấm thảm nơi mảng thứ hai, các dãi ấy khớp đôi với nhau cái này vơi cái nọ. 13Ông làm năm mươi cái móc vàng và ông sẽ dùng móc để cài các tấm thảm lại với nhau, cái này với cái nọ. Như thế Nhà tạm sẽ thành một. 14Ông làm những tấm bố lông dê để làm một cái lều–trên Nhà tạm; ông làm cả là mười một tấm. 15Chiều dài của một tấm: ba mươi xích; bốn xích khổ rộng mỗi tâm. Các tấm bố đều cùng một kích thước. 16Ông đâu liền năm tấm thành một bức riêng. Và sáu tấm kia thành một bức .17Ông làm năm mươi dải nơi mép tấm bố ở rìa mảng và năm mươi dải nơi mép tấm bố của mảng thứ hai. 18Ông đã làm năm mươi cái móc đồng để đâu kết lều thành một. 19Ông đã làm rạp che lều bằng da cừu nhuộm đỏ và mái che bằng da cá lợn bên trên.

Ván 
           20Ông đóng ván để làm Nhà tạm, những tấm gỗ keo dựng đứng. 21Bề dài tấm ván là mười xích, bề rộng tấm ván là một xích rưỡi. 22Mỗi tấm ván có hai miệng kề bên nhau, cái này kề cái khác. Ông làm thế cho hết thảy các tấm ván dùng vào Nhà tạm. 23Ông đóng ván để làm Nhà tạm, hai mươi tấm, mặt Nam sa hướng Nam. 24Ông làm bốn mươi cái đế bạc dưới hai mươi tấm ván, hai đế dưới một ván cho hai mộng của nó. 25Cho sườn thứ hai Nhà tạm, ở mặt Bắc, ông làm hai mươi tấm ván. 26Ông làm bốn mươi đế bạc, hai đế dưới một ván và hai đế dưới ván khác. 27Cho đáy Nhà tạm hướng Đoài, ông làm sáu tấm ván. 28Cho hai góc đáy Nhà tạm, ông đóng hai tấm ván. 29Các ván đáy là ván đôi bên dưới và một trật cũng là ván đôi trên đầu đến cái khâu thứ nhất. Như thế ông đóng ai ván ấy, chúng ở nơi hai góc. 30Đã có tấm ván đế bạc: như thế ông đóng mười sáu đế: hai đế dưới một ván và hai đế dưới ván khác. 31Ông đã làm then bằng gỗ keo: năm cho tấm ván sườn thứ nhất Nhà tạm; 32năm then cho tấm ván ở sườn thứ hai Nhà tạm và năm then cho tấm ván sườn Nhà tạm, đằng đáy phía Đoài. 33Ông làm then ở giữa, lưng chừng các tấm ván chạy suốt mút này qua mút kia, để chạy suốt giữa các tấm ván. 34Các tấm ván ấy, ông thếp vàng và các khâu làm khớp để tra then; ông cũng làm bằng vàng, ông thếp vàng các then.