Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Việc cải cách tôn giáo theo phong trào Thứ luật

Vịêc cải cách tôn giáo theo phong trào Thứ Luật.
                Đồ đệ các tiên tri lâm nguy kịch dưới triều Manasse. Êâzêqya dấy lên chống Assur, và được thoát nạn cách lạ thường với sự chống đỡ của Ysaya như nói trên. Nhưng chẳng bao lâu, sau khi Sennakêrip chết, Assur lại trở lại. Manassê vì nịnh tôn chủ, thì đã để đạo Assur sâm nhập sâu rộng trong dân, và đi cấm cách bắt bớ cả những Người trung tín với đạo Yavê. Đồ đệ các tiên tri phải ẩn núp. Và chẳng bao lâu họ lại xuất hiện: Dưới triều Yôsya. Một cuộc cải cách tôn giáo được tuyên bố. Quyền đô hộ Assur suy giảm. Yôsya dần dần rũ ách, cái ách phải rũ, trước tiên là ách tôn giáo ngoại lai. Người ta nhận chính lại tất cả luật lệ Israel chiếu theo những nguyên tắc luân lý và tôn giáo các tiên tri đã giảng dậy từ trước đến nay hơn một thế kỷ, từ Amos, Hôsê, Ysaya. Bộ luật mới này được hình thành trong phần chính yếu của Thứ-luật-kinh nói được là công việc san định luật lệ Israel theo các tiên tri. Đó là một cố gắng đáng được tham khảo, như một gương mẫu cho thấy những nguyên tắc tôn giáo được áp dụng làm sao cho những nhu cầu xã hội thực tiễn, lý tưởng công bằng và nhân đạo thành hình thế nào trong một trật tự xã hội còn thô sơ.

Yêrêmya 
                Nhưng cuộc cải cách của Yôsya không kéo dài được 13 năm (621-609). Yuđa bị lôi cuốn vào cuộc chiến đã làm đổ sụp đế quốc Assur. Yôsya chết không đầy 40 tuổi, không để lại Người thừa kế nào tài cán. Những ngày bi đát cho Yuđa bắt đầu. Đế quốc Babylon dần dần thu lại vào tay mình cơ nghịêp Assur. Các tiểu quốc lại bụi đô hộ. Chính trong thời này, một tiên tri lớn khác xuất hiện :Yêrêmya, thuộc dòng dõi thư tế vùng quê, ở Anatot, một thôn nhỏ của Yuđa, giáp giới Benjamin, ông là một vị tiên tri mà chúng ta biết rõ hơn các vị khác, nói được là hơn mọi nhân vật nói đến trong Cựu Ước. Trong các chuơng sách Yêrêmya, có những chương tự thuật cho ta biết được tâm lý của một vị tiên tri, bày tỏ cho ta thấy nội dung mạo cô quạnh, bi thảm của xã hội gần tàn.
                Ông tiếp tục truyền thống tiên tri, lập lại những giáo huấn căn bản thích ứng với một tình thế đen tối. Trong tình cảnh bi đát ấy, ông đã nhận định cách sáng suốt, về số phận nước ông. do đó, ông kết luận là cuộc hỏi tội cuối cùng, các tiên tri đã báo trước, bây giờ đã đến nơi rồi, không sao trách khỏi. Ông chứng kiến việc tàn phá xứ sở ông, đồng bào ông tốp này tốp khác lê thê trên đường đày đi, năm bè bẩy mối sâu xé nhau, luân thường đạo lý suy sụp: Án kinh khủng của Thiên Chúa đang diễn ra trước mắt ông.
                Bao nhiêu linh cảm đau thương đều đã ứng nghiệm. Nhưng chính khi quốc gia ông sắp sửa tan hoang, ông lại có gì phải đem đến cho dân. Thiên Chúa đã thi hành án phạt công minh. Người còn phải hoạt động theo lòng lân mẫn xót thương, vì một khi Thiên Chúa đã yêu thương dân Người, Người không thể dứt hẳn tình thương của Người. Dân đã vi phạm mọi khoản của trách nhiệm làm dân của Thiên Chúa, đã đơn phương bỏ "Giao Ước", và đã tự mình xóa bỏ mọi đặc ân dân được có trước mặt Người. Thế thì sao?                

                Này sẽ đến những ngày – sấm của Yavê.
               Ta kết với Nhà Israel, cùng với Nhà Yuđa,
một Giao Ước mới,
không phải như Giao ước
Ta đã kết với cha ông chúng,
ngày Ta cầm tay chúng,
để đem chúng ra khỏi đất Aicập,
chúng đã hủy bỏ Giao ước của ta,
mặc dù Ta là tôn chủ của chúng - Sấm của Yavê,
Quả vậy này đây Giao ước
Ta sẽ kết với Nhà Israel,
Sau những ngày ấy - Sấm của Yavê,
Ta sẽ đặt luật của Ta nơi tâm tạng chúng,
Và trong lòng chúng. ta sẽ viết vào,
Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng,
còn chúng, chúng sẽ là thần dân của Ta,
Chúng sẽ không còn phải mỗi Người dạy bảo nhau,
hay anh em (giáo huấn) nhau, những rằng:
Hãy biết Yavê!
Vì chúng hết thẩy đều sẽ biết Ta,
từ kẻ bé đến Người lớn - Sấm của Yavê,
vì Ta sẽ tha tội ác chúng làm,
vì lỗi lầm của chúng, Ta sẽ không còn nhớ đến.
                (Yr 31 31-34)
               Đó là một trong những sấm ngôn cắm chặng lịch sử tôn giáo.
               Vào lúc thời niên tráng, Yêrêmya đã chứng kiến cuộc cải cách tôn giáo của Yôsya. Ông đã tham dự làm sao vào công việc ấy? Có tác giả hoài nghi. Nhưng có lẽ nhằm với sự thực, khi ta nghĩ rằng ông đã tham gia tích cực, và nồng nhiệt. Cũng như nhiều môn đồ các tiên tri xưa, ông nhìn thấy đó cái đích mà gần một thế kỷ rưỡi rồi, cá tâm hồn ưu ái với dân của Thiên Chúa đã nhắm đến. Cả nước đã hồi đầu trở lại với Yavê. Thần của họ, và đã chứng thực lòng hoán cải và long trọng thề nguyền giữa một bộ luật hoàn hảo hơn, và về luân lý xã hội, thì cũng ứng đáp phần nào rao giảng của các tiên tri. Nhưng làm sao biến một nước thành dân lương thiện bằng một nghị định được!  Như Yêrêmya nói: Há dân Á (dân da đen) lại thay da? Beo hùm đổi lốt? Các ngươi, làm sao các ngươi có thể làm lành, các ngươi phường đã quen với sự dữ!  (Yr 13 23). Viết điều lương thiện thành luật không đủ, có ghi khắc trong lòng người ta mới mong cải hóa. Nói cách khác, căn cứ độc nhất xứng hợp với nghĩa tâm giao với Thiên Chúa, phải là một am hiểu, phải có một sự ứng đáp bên trong, tự chính mình người ta nữa. Cá tiên tri trước không phải là không  biết vai trò của nhân bản trong tôn giáo. Giáo huấn của các tiên tri bao giờ cũng đòi phải có thái độ đích thân trước những ưu sách của Thiên Chúa. Nhưng trong khi tất cả cơ cấu của đạo đã thành quy chế đều tan rã, điều Yêrêmya tiên báo, sự canh tân đổi mới sâu thẳm do tự Thiên Chúa đến cho con người để thực hiện Giao ước mới, điều ấy có tầm quan trọng đặc biệt cho tất cả trình tự diễn tiến của mạc khải sau này.

Êâzêkiel
          Bấy giờ là thời lưu đày. Năm -598, -586, rồi -582, người Dothái lượt này lượt khác bị bắt đi lưu đày, mãi tận vùng Babylon. Có một tiên tri sống giữa họ, Êâzêkiel. Cũng như Yêrêmya, ông thuộc hàng tư tế, và lại là tư tế ở kinh đô, tư tế họ Sađốc, chủ trì tại đền thờ Yêrusalem từ thời Salômôn. Người ta mệnh danh ông là "tiên tri về sự tái thiết". quả thực trong sách của ông có lắm điều nhắm đến việc cải tổ cộng đoàn, có cả những đồ án về việc xây lại Đền thờ, và phân chia Đất Hứa. Ngang qua những chương không mấy tí hấp dẫn ấy, loé lên xác tín sâu thẳm: Israel dù thế nào cũng có một tương lai. Cứ theo sự trạng mà xét, thì không có tí gì bảo đảm cho hy vọng ấy. Thế mà thực sự, các hoài vọng ấy đã được thực hiện (tuy có khác với dự tưởng của Êzêkiel). Lý do làm ông trông cậy, không phải vì ông đã biết nhìn thời thế  mà so đo hơn thiệt, nhưng chính la lòng tin vào Thiên Chúa Giao Ước. Dù trái ngược với  những điều thấy được, ông cũng như các tiên tri trước đều tin vào lòng thuơng xót của Thiên Chúa với dân Israel mà Người đã chọn.
          Êzêkiel đã thấm nhuần đạo lý của Yêrêmya về phần của cá nhân trong Giao ước mới. Ông nhấn một cách, hầu nói được là quá đáng vào trách nhiệm của mỗi người trước mặt Thiên Chúa. Có khi ông quên cân nhắc phần nào về ảnh hưởng của di truyền,  của xã hội trên tính tình và vận mạng của cá nhân. Như cứ xét một cách tổng quát, thì Êzêkiel không có chủ trương chủ nghĩa cá nhân. Điều ông muốn cho thấy, là không thể có canh tân đoàn thể, nếu từng người một mà không hối cải. Và nguyên cuối cùng của việc đổi mới lại chính là lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng lòng thương xót ấy kêu gọi từng người ứng đáp lại.
          Một chương đặc sắc của ông, là đoạn 37: Trong đó Êzêkiel lấy tưởng tượng mà họa cuộc phục  sinh của dân tộc. Ông thấy mình đứng giữa chiến trường năm xưa xương tử sĩ phơi bầy trắng xoá khắp cánh đồng. Lời Thiên Chúa hô lên, và các xương rải rắc mỗi nơi một cái đến chắp nối, đậu lại với nhau. Mặc lấy gia thịt. Một luồng khí thiêng thổi đến, và các thây ma không hồn hồi dương đứng lên (coi Ez 37  1-14 ).
          Và thực sự cuộc phục hưng của Israel nói được là một sự phục hưng từ cõi chết. Nhưng ý nghĩa hàm ẩn là không có một tình cảnh nào thất vọng đến nỗi ơn Thiên Chúa không thể tái tạo trùng hưng. Người là đấng dẫn đưa lịch sử theo những con đường huyền bí khôn lường. Đến thời Người đã định sẽ không có mãnh lực nào cản ngăn được Người. Đó là lòng tin khắc sâu trong những kẻ lưu đày khi họ phải chạm trán với tương lai mịt mù của dân họ.

Ysaya thứ hai      
                Yêrusalem đã triệt hạ gần một nửa thế kỷ. Một thế hệ mới đã lớn lên trong chốn lưu đày. Một quyền bá chủ khác đã thay chân Babylon. Vua Kyrô, người sáng lập đế quốc Batư, thi hành một chính sách khoan hồng, và cho mọi kẻ lưu đày được phép hồi hương. Nhưng đất khách quê người đã nên quê thật cho nhiều người, ít người xốt sáng hưởng ứng tiếng gọi quê hương, một cái quê hương hoang tàn, đã ra nghèo sơ xác. Chỉ có một nhóm nhỏ nhìn thấy nơi sắc chỉ nhà vua một dấu hiệu họ ngóng chờ. Họ mới nhận ra đó là việc của Thiên Chúa: Thời phục hưng Israel đã đến. Các người ấy đã được chuẩn bị tâm hồn nhờ lời giảng dạy của một tiên tri lớn vào bậc nhất, nhưng lại vô danh đối với ta. Các lời sấm của ông được di lưu trong sách sấm ngôn của Ysaya, tiên tri thế kỷ thứ 8 ở Yêrusalem. Đó là các đoạn 40 đến 55. Để tiện bề nói năng, Người ta mệnh danh ông là Ysaya thứ hai.  
                Vị tiên tri này đã để lại những bài thơ tuyệt cú vào hạng nhất trong Kinh Thánh đã thoát cái khúc mắc tối tăm của ít nhiều vị tiền bối, hình ảnh lộng lẫy và khí khái, ngôn nhữ phong phú, tư tưởng cao siêu chạm đến tuyệt đỉnh. Các điều bàn đến là chủ đề cùng tột của tư tưởng tôn giáo: Vương quyền, vinh quang của Thiên Chúa đối với nhân loại. Nhân danh Thiên Chúa, tiên tri loan báo thời phục hưng của Israel, và kêu gọi dân lưu đày hồi hương, lập lại cơ nghiệp:
Đẹp thay trên các núi non
chân người sứ giả
kẻ báo cáo bình an,
kẻ loan báo tin mừng,
k
ẻ báo cáo ơn cứu độ,
kẻ nói với Sion :
"Người đã làm vua, Thiên Chúa ngươi thờ!"
Quân canh của ngươi gióng tiếng,
ất cả một trận chúng hò reo,
Vì mọi mắt đổ dồn, chúng sẽ thấy
Yavê trở lại Sion.
ãy hân hoan, hãy hò reo cả lên,
hỡi cảnh hoang tàn Salem,
vì Yavê an ủi dân Người,
gười đã chuộc lại Salem,
Yavê đã xắn cánh tay thần tánh của Người,
trước mắt muôn dân,
và cùng cốc địa hoàn hết thẩy
sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa ta thờ.
Lui đi!  lui đi, ra khỏi đây!
Đừng rờ đến những gì ô uế.
Ra khỏi nó đi,  thanh tẩy ngay đi,
hỡi những người kiêng kiệu đồ thờ Yavê!
Các ngươi sẽ không phải vội vã ra đi,
không phải lên đường như quân tẩu thoát,
ì Yavê cầm đầu đi trước các ngươi,
và binh bọc hậu sẽ là Thiên Chúa Israel thờ.
                                               (Ys 52 7-12)
          Đó là tâm trạng những người hồi hương khi tra tay vào việc tái thiết. Đoàn thể của những người ấy: Về chính trị, nói được là một con số không, về đất đai, không tày một tỉnh nhỏ của ta, về binh bị và tài nguyên, rất hạn chế. Nhưng cộng đoàn của họ đã nên trung tâm một đạo lan rộng khắp nơi, theo một tổ chức không thể thấy đâu có như thế, còn về ảnh hưởng nói được là khôn lường. Xét cả lịch sử sau này, ta sẽ không nói quá, khi bảo rằng nếu nhóm người ấy không tra tay vào việc, thì thế giới sẽ không bao giờ biết đến 3 yếu tố quan hệ bậc nhất cho tất cả lịch sử và vị lai: Tức là đạo Dothái-giáo. Kitô-giáo, và Hồi giáo. Việc hồi hương của những người Dothái đi lưu đày về là một biến cố, cho dù xét về kích thước địa dư thì hầu như số không, nhưng xét về mặt khác, thực là một quyết định, mà một sử gia phải để ý.