Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Tiểu dẫn vào các sách MACABÊ

                                                                     CÁC SÁCH MACABÊ
                                                                                 TIỂU DẪN
    Hai sách Macabê không thuộc quy điển Thánh Kinh của người Dothái nhưng đã được Giáo hội công giáo nhìn nhận là những sách thần hứng ( quy điền thứ ). Các sách này đưa về lịch sử các chận chiến chống lại các vua Sêleukus để dành lại tự do tôn giáo và chính trị của dân Dothái trong cuộc đấu tranh này.
    Sách Macabê I trong trong phần đầu trình bày các địch thủ: Nền văn minh Hilạp xâm lăng, với một số người Dothái tay sai và phản ứng các ý thức quốc gia. Gắn liền với Lề luật và Đền thờ; một bên là Antiôkhô Êpiphanêâ chà đạp Đền thờ và bách hại đạo, một bên là Mattathya kêu goị thánh chiến. Không kể phần mở đầu, sách được chia làm ba phần chính, diễn lại hành động của ba người con của Mattathya thay nhau cầm đầu cuộc kháng chiến. Yuđa Macabê ( 166-160 trước công nguyên ). 3 1-9 23, đã lập được một loạt chiến công trên các tướng lãnh của Antiôkhô, tẩy uế Đền thờ, dành lại cho người Dothái quyền tự do sống theo phong tục của mình. Dưới triều Đêmêtrus I, ông hơi bị lúng túng bởi những âm mưu của thượng tế Alkimos, nhưng thành quả quân sự của ông tiếp tục và Nikanos, kẻ muốn phá huỷ Đền thờ đã bị giết. Để củng cố thế đứng, Yuđa tìm cách liên minh với người Rôma. Cuối cùng, ông chết nơi chiến trường. Yônatan, em ông, kế vị ông ( 160-142 ), 9 23-12­ 53. cuộc đấu tranh có tính cách chính trị hơn quân sự, Yônatan khéo lợi dụng các cuộc tranh chấp ngôi báy Syri: ông được Alêxanđrô Balas đắt làm thượng tế, được Đêmêtrius II nhìn nhận và được Antiôkhô VI tái xác nhận. Oâng tìm cách liên minh với người Rôma và người Sparta. Vùng đất do ông kiểm soát lan rộng và cảnh thái bình xem ra cũng được bảo đảm vào lúc ông bị rơi vào tay Truphôn và bị hạ. Tiếp theo sứ mạng của yônatan là Simon, anh ông, (142-134), 13 1-16 24. Simon ủng hộ Đêmêtrius II, rồi được Antiôkhô VII nhìn nhận là thượng tế, lãnh binh và cầm đầu dân tộc Dothái. Độc lập chính trị được tái lập. Liên minh với người Rôma tái kết. Một thời kỳ yên hàn và thịnh vượng. Nhưng rồi Antiôkhô đã quay đầu chống người Dothái và Simon cùng với hai người con của ông bị ám sát chết dưới bàn tay một người con rể muộn lam vừa lòng hoàng đế.
      Trình thuật phủ dài khoảng thời gian là bốn mươi nă, từ triều Antiôkhô Êpiphanêâ -175, tới khi Simon chết và Yoan Hircanus lên ngôi, 134 trước C.N. Sách đã được viết bằng tiếng Hipri nhưng chỉ còn lại một bản dịch bằng tiếng hilạp. Tác giả là một người Dothái ở Phalêtin, đã soạn ra tác phẩm của ông sau năm 134, nhưng trước khi Pômpê chiếm Yêrusalem năm 63 trước C.N. Những hàng cuối cùng, 16 23-24, cho thấy tác phẩm đã được sớm lắm là vào triều Yoan Hircanus, có thể, cái nhiều hơn, sau khi ông này chết ít lâu, khoảng năm 100 trước C.N. Đây là một tại liệu quý giá về lịch sử thời này nhưng với điều kiện là phải được sử dụng với nhiều thận trọng, nghĩa là phải quan tâm tới loại văn – một loại văn bắt chước các bản Ký sự xưa của Dothái – và chủ đích của tác giả.
        Qủa thực, tác giả, tuy có đề cập dài đến các biến cố quân sự và những âm mưu chính trị, nhưng chủ đích nhằm tới vẫn là viết một lịch sử tôn giáo. Tác giả coi những chỗn cùng và thất bại của Israel như một trừng phạt tội lỗi, ngược lại, những thành công của các nhân vật của tác giả là do sự trợ giúp của Thiên Chúa. Tác giả là một người Dothái nhiệt thành với lòng tin của mình và hiểu rằng lòng tin ấy là đề tài của của cuộc vật lộn giữa ảnh hưởng ngoại giáo và những tập tục của tổ tiên. Do đó, tác giả là một địch thù không đội trời chung của chính sách Hi-hóa và đầy thán phục đối với những vị anh hùng đã chiến đấu cho lề luật và Đền thờ và đem lại cho dân, sự tự do tôn giáo rồi nền độc lập quốc gia. Tác giả là một Ký sự gia của một trận chiến trong đó Dothái- giáo, chứa đựng mạc khải, được bảo toàn.
      Sách Macabê II không phải là một tác phẩm tiếp theo Macabê I. Một số những biến cố ghi trong Macabê I cũng được nhắc đến trong Macabê II. Macabê II bắt đầu sớm hơn, cuối triều Sêleukus IV, tiên nhiệm Antiôkhô Êpiphanêâ và cũng đã kết thúc sớm hơn, tức là dừng lại ở cuộc thất bại của Nikanor, trước khi Yuđa Macabê chết, bao trùm một khoảng thời gian là mười lăm tương ứng với các chương 1-7 của Macabê Israel mà thôi.
      Thể văn cũng rất khác. Nguyên bản được viết bằng tiêng Hilạp và tự coi là bản lược tóm tác phẩm của một tác giả khác là Yasôn, người Kyrênê, 2 19-23. Quả là văn của tác giả Hilạp, nhưng không là vào hạng xuất sắc nhất. Đôi khi có vẻ khao trương. Có giọng điệu của một kẻ giảng dạy hơn là một người viết sử, mặc dù tác giả đã tỏ ra có một hiểu biết rất cao về các thượng chế Hilạp và về các nhân vật của thời đại đó, so với tác giả của Macabê I.   
       Thực ra, mục đích tác giả là muộn mua vui và xây dựng, 2 25; 15 39, bằng cách kể lại cuộc chiến tranh giai phóng do Yuđa Macabê lãnh đạo, được ơn thiêng nâng đỡ và toàn thắng nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa 2 19-22. Dưới con mắt tác giả, sự thất bại cũng là là hậu quả của lòng xót thương của Thiên Chúa, muốn sửa trị dân, trước khi đấu đong tội lỗi đầy tràn 6 12-17. Tác giả viết cho người Dothái ở Alexanđria và chủ đích để gợi tinh thần liên đới với các anh em của họ ở tại Phalêtin. Tác giả muộn họ quan tâm đặc biết đến số phân của Đền thờ, trung tâm của đời sống tôn giáo theo Lề Luật. Mối bân tâm này của tác giả được bộc lộ ngay trong bố cục: sau tiêt truyện Hêliôđôrê, 3 1-40, nhấn vào tính cách thánh thiêng của đền thờ, phần I: 4 1-10 8, kết thúc với nhà bách hại đaọ, đã lam uế tạp Đền thờ, Antiôkhô Êpiphanêâ, và việc thiết lập lễ cúng hiến; phần II: 10 9-15 36, kết thúc cũng với cái chết của Nikanor, người đã đe dạo phá huỷ Đền thờ, và việc thiết lâp lễ kỷ niệm. Cũng trong đề tài này, hai bức thư đặt ở đầu sách 1 1-2 18, là những lời người Dothái ở tại Yêrusalem kêu gọi anh em của họ ở ai cập cùng mừng với họ lễ thánh tẩy Đền thờ, lễ Cung hiến.
        Vì biến cố cuối cùng được kể lại là cái chết của Nikamor, tác phẩm của Yasôn, người Kyrênê có thể đã được soạn thảo sau năm-160 (trước C.N.) một ít. Nếu chính người tóm lược—vấn đề còn tranh luận --, đã đặt hai bức thư ở đầu tác phẩm 1-2 ,thì có thể theo 1 10a, thì có thể nghĩ rằng bảng tóm lược này có thể đã được thực hiện vào năm -124 trước C.N. Tác phẩm không phải không có gí trị lịch sử, quả thực, người tóm lược ( hay soạn giả ?) đã thu nhập những trình thuật giả mạo trong thư 1 10b-2 18, đã hoạ lại những tiết truyện có tính cách đánh động tình cảm về Hêliôđôrê 3 ,về cuộc tử đạo của Eâlêazar 6 18-31, và của bảy anh em 7, người tóm lược gặp thấy trong tác phẩm Yasôn, và đi đôi với những đề tai tôn giáo của ông. Nhưng sự trùng hợp chung với 1M đảm bảo cho tính cách lịch sử của các biến cố được cả hai nguồn văn biệt lập này ghi lại. Có một điểm quan trọng trong đó 1M và 2M mâu thuẫn với nhau: 1M 6 1-13 đặt việc thanh tẩy Đên thờ trước khi Antiôkhô Êpiphanêâ chết, trong khi đó 2M 9 1-29 lại đặt sau. Một bản niên biểu Babilon mới được ấn hành chứng nhận 2M xác thực hơn 1M: Antiôkhô Eâp. Chết trong tháng 10/11 năm-164 trước việc tái Cúng hiến Đền thờ vào cuối tháng mười hai cùng năm đó. Còn về những phân biệt riêng của 2M, chúng ta không có lý do để nghi ngờ những nói trong ch. 4 về những năm trước biến cố Antiôkhô Eâp. Cướp phá Đền thờ. Tuy nhiên, người tóm lươc cũng đã phạm một lỗi quan trọng. Ong đã gộp cả lại trọng 11-12 9, với bức thư của Antiôkhô V, 11 22-26, ông có trong tay, tất cả các thư khác và trình luật các biến cố xảy ra vào cuối triều Antiôkhô VI, đáng lý ra phải đắt giữa các ch. 8 và 9.
         Sách 2M được coi là quan trọng vì những quả quyết về người chết sống lại 7 9 14 46, những hình phạt đời sau 6 26, lời cầu nguyện cho kẻ chết 12 41-46, công trạng cho những người tử vì đạo 6 18-7 41, các thánh nhân cầu bầu 15 12-16. Nững giáo huấn về những điểm mà các sách khác của C.Ư. còn để mập mờ này, chứng thưc cho uy tín của các sách được Giáo hội nhìn nhận.
        Viêc khám phá ra một bảng chữ hình ghi một khúc niên biểu của các vua Sêleukus, cho chúng ta biết rõ hơn về hệ thống niên biểu sử dụng trong mỗi sách M. sách 1M theo cách tính giao lịch Makêđônia, khởi đầu tháng 10 năm-312 trước C.N. trong đó 2M theo giao lịch Dothái, tương tự với giáo lịch Babilon, khởi đầu từ Nisan ( 3 tháng 4) năm-311. Nhưng cũng có luật trừ: trong 1M, các biến cố riêng về đền thờ và lịch sử Dothái-babilon (1 54 2 70 4 52 9 3 54 10 21 13 41 14 27 16 14) trong khi đó các thư trong 2M được ghi ngày tháng theo giáo lịch Makêđônia.
        Các sách M được trình bày rất khác nhau trong các thủ bản bằng tiếng Hilạp của T.K. Trong khi bản Alexandrius (thế kỷ V) có những bốn sách M, thì bản Simaticus (thế kỷ IV) chỉ biết có sách I và IV và bản Vaticanus (thế kỷ IV) thì lại không có sách nào, các bản dịch Latinh cũ, chỉ có hai quyển đầu, những quyển Giáo hội giữ lại như thuộc quy điểm. Bản Vulg. Giữ lại bản dịch này vì đối với thánh Hiêrônvmô, các sách M không thuộc quy điểm.