Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Tiến tới việc xây cất Đền thờ (21,1 - 25,31)

                           3–TIẾN TỚI VIỆC XÂY CẤT ĐỀN THỜ

Kiểm tra dân số

           21. 1Satan đứng lên phá hại Israel và nó xúi Đavit là sổ Israel. 2Đavit mới bảo Yôab và các tướng lĩnh cai dân: “Đi tính sổ Israel từ Bơer-Sêba đến Đan rồi báo cáo lại cho ta biết số (dân) là bao”. 3Yôab thưa: “Xin Yavê tăng thêm người gấp trăm lần họ! Tâu đức vua chúa công tôi, há hết thảy họ không phải là bầy tôi của chúa công tôi cả sao? Hà cố ngài phải đòi điều này? Tạ sao phải xảy ra trọng tội trong Israel?” 4Nhưng lời của vua rất có uy thế đối với Yôab. Nên Yôab đã ra đi rảo khắp Israel, đoạn ông trở về Yêrusalem. 5Yôab đã đệ lên Đavit số dân đã kiểm tra được: Israel có một triệu một trăm ngàn người tuốt gươm được; Yuđa có bốn trăm bảy mươi ngàn người tuốt gươm được. 6Nhưng Yôab đã không kiểm tra Lêvi và Benyamin trong số ấy vì Yôab cho lời vua là một điều gở.

Ôn dịch và tha thứ
           7Điều ấy đã trái mắt Thiên Chúa khiến người đã sát phạt Israel. 8Và Đavit thưa với Thiên Chúa: “Tôi đã phạm tội rất nặng nơi điều tôi vừa làm; nhưng bây giờ xin Người bỏ qua tội của tôi tớ Người, vì tôi đã cư xử quá điên rồ”. 9Yavê phán với Gađ, thầy chiêm của Đavit rằng:  “10Hãy đi nói với Đavit: Yavê phán thế này: Ta ra cho ngươi ba điều,Ngươi hãy chọn lấy một trong ba điều ấy, và Ta sẽ thi hành cho ngươi”. 11Gađ đến gặp Đavit và nói với ông: “ Yavê phán thế này: Hãy chọn lấy: 12Hoặc là ba năm đói kém; hoặc là ba tháng tẩu thoát trước mặt kẻ địch của người, và gươm kẻ thù sẽ thấu đến ngươi; hoặc là ba ngày, gươm của Yavê, ôn dịch trong xứ, và thần sứ Yavê sẽ tàn sát khắp bờ cõi Israel. Bây giờ hãy nhìn xem, tôi phải trả lời làm sao cho Đấng đã sai tôi”. 13Đavit nói với Gađ: “Tôi bồi hồi quá đỗi! Thà tôi sa tay Yavê còn hơn! vì lòng lân mẫn của Người lớn lao vô lường, nhưng xin cho tôi đừng phải sa tay người phàm!”.
           14Yavê đã giáng ôn dịch trên Israel. Và bảy mươi ngàn người trong Israel đã ngã gục. 15Thiên Chúa sai một thần sứ đến Yêrusalem để tàn sát thành; trong khi ngài tàn sát, thì Yavê thấy và hối tiếc về tai họa đã xảy ra và Người đã phán với thần sứ tàn sát: “Đủ rồi! Bây giờ hãy nới tay!”.
           Thần sứ Yavê (bấy giờ) đứng bên sân lúa của Ornan người Yơbusi. 16Đavit ngước mắt lên, thì thấy thần sứ Yavê đứng giữa trời và đất; gươm tuốt nơi tay giương ra trên Yêrusalem. Đavit và hàng kỳ mục, mình mặc bao bị, mới phục mặt xuống. 17Đavit thưa với Thiên Chúa: “Không phải chính tôi đã ra lệnh tính sổ dân sao? chính tôi có tội và đã làm sự dữ; các con chiên ấy, chúng đã làm gì? Lạy Yavê Thiên Chúa của tôi, xin tay Người giáng xuống  trên tôi và nhà cha tôi; chứ đừng đánh phạt dân của Người!”

Xây tế đàn
           18Thần sứ Yavê bảo với Gađ nói với Đavit là phải lên dựng tế đàn kính Yavê trên sân lúa của Ornan người Yơbusi. 19Và Đavit đã lên theo lời Gađ đã nói nhân Danh Yavê. 20Ornan ngoảnh lại thì thấy Thần sứ. Bốn người con của ông ở bên ông đã đi ẩn núp. Ornan bấy giờ đang lo việc đạp lúa miến. 21Đavit đến gần Ornan, Ornan nhìn thấy Đavit, thì đã từ sân lúa đi ra và bái lạy Đavit mặt sát đất. 22Đavit nói với Ornan: « Để lại cho ta sân lúa, để ta xây ở đó tế đàn dâng kính Yavê–Hãy để lại cho ta với giá bạc sòng phẳng –để cho tai ương giáng xuống trên dân được chấm dứt!" 23Ornan thưa với Đavit: "xin ngài cứ lấy; điều gì đẹp mắt ngài, xin Đức Vua chúa công tôi cứ làm: Coi, Tôi xin dâng bò làm hy sinh thượng hiến, bàn đạp lúa làm củi, và lúa miến làm lễ cúng, tôi xin dâng tất cả". 24Vua Đavit nói với Ornan: "Không! Ta định tậu lấy với giá bạc sòng phẳng; Ta không muốn dâng lên Yavê điều thuộc về người, và thượng tiến một lễ thượng hiến  không có giá” 25Vậy Đavit đã trả cho Ornan, vì chỗ ấy, bằng giá vàng, cân đủ sáu trăm seqel.
           26Đavit đã xây ở đó tế đàn kính Yavê, và ông đã thượng tiến lễ thượng hiến và kỳ an. Ông đã kêu khấn Yavê và Người đã nhậm lời ông bằng (cho) lửa bơi trời xuống trên tế đàn lễ thượng hiến, và lửa đã thiêu cháy thượng hiến. 27Và Yavê đã truyền cho thần sứ xơ gươm vào vỏ. 28Lúc bấy giờ, khi Đavit thấy được là Yavê đã nhậm lời ông ở sân lúa của Ornan, người Yơbusi, ông đã tế lễ ở đó–29Đã hẳn nhà tạm Yavê Môsê đã làm trong sa mạc và tế đàn thượng hiến lúc bấy giờ ở tại cao đàn Gabaôn, 30nhưng Đavit đã không thể đi trình diện thỉnh vấn Thiên Chúa, vì gươm của thần sứ  Yavê làm ông kinh hãi.
            22. 1Vậy Đavit nói: “Đây chính là nhà của Yavê Thiên Chúa; đây là tế đàn thượng hiến của Israel”.

Chuẩn bị xây cất Đền thờ
           2Đavit truyền phải thâu họp lại những người dị chủng trên đất Israel và ông đã đặt họ làm thợ đá đẽo đá vuông để xây nhà của Thiên Chúa. 3Đavit cũng đã dọn sẵn cả đống sắc để làm đinh đóng cánh cửa và làm móc sắt, cùng với đồng nhiều không lường được, 4gỗ bá hương cũng nhiều vô số, vì dân Siđôn và Tyrô tải đến cho Đavit cả đống gỗ bá hương.
           5Đavit tự nhủ: “Salômon con ta còn trẻ, và non dại, mà Nhà xây kính Yavê phải là cực kỳ vĩ đại, lừng danh, hiển hách khắp mọi xứ. Vậy ta phải sắm sửa cho nó”. Nên Đavit, trước khi chết, đã sắm sẵn (mọi sự) nhiều vô kể. 6Đoạn ông gọi Salômon con ông và truyền phải xây nhà cho Yavê Thiên Chúa của Israel. 7Đavit nói với Salômon: “Con ơi! Ta đã lập tâm xây nhà cho Danh Yavê Thiên Chúa của ta; 8nhưng lời Yavê đã đến vơi ta, mà rằng: Người đã đổ máu qua nhiều, và đã đánh những trận giặc lớn; ngươi sẽ không xây nhà cho Danh Ta vì ngươi đã đổ nhiều máu trên đất trước nhan Ta. 9Này sẽ sinh ra cho ngươi một người con: nó sẽ là một người an nhàn, Ta sẽ cho nó được an nhàn trước mọi địch thù xung quanh, vì tên nó là Salômon, và vào những ngày của nó, ta sẽ ban hòa bình và yên ổn cho Israel. 10Chính nó sẽ xây nhà cho Danh Ta, nó sẽ là con Ta, và Ta sẽ là cha nó. Ta sẽ cho ngai nó kiên vững trên Israel mãi mãi. 11Bây giờ, con ơi, xin Yavê ở với con, cho con được thành công xây nhà của Yavê Thiên Chúa ta thờ, như Người đã phán về con. 12Chỉ xin Yavê ban cho con tinh khôn, hiểu biết, khi Người đặt con cai Israel; và cho con biết giữ luật  của Yavê Thiên Chúa con thờ. 13Bấy giờ con sẽ thành công, nếu con tuân giữ thi hành các luật điều, phán quyết  đã truyền Môsê đã dạy cho Israel. Hãy ở mạnh mẽ và can đảm! Đừng sợ hãi đừng nhát gan. 14Này đây, ta phải vất vả để sắm sẵn cho Nhà Yavê một trăm ngàn tạ vàng và một triệu tạ bạc; còn đồng và sắc thì không lường được vì quá nhiều. Gỗ đá, ta cũng đã sắm sẵn; con sẽ kiếm thêm. 15con có với con một số đông nhân công, thợ đá, thợ nề, thợ mộc và đủ thứ người sành nghề về mọi công việc, 16vàng, bạc, đồng, sắt. Thật là vô số. Hãy chỗi dậy và tra tay vào việc! xin Yavê ở với con!”.
           17Đoạn Đavit truyền cho các tướng lĩnh Israel hết thảy phải tiếp tay cho Salômon con ông: “18Yavê Thiên Chúa của các ông lại đã không ở với các ông đó sao? Người đã cho các ông được an cư tứ phía, vì Người đã phó nộp tay tôi dân cư trong xứ và cả xứ đã qui phục trước mặt Yavê và trước mặt dân Người. 19Bây giờ các ông hãy dốc cả lòng, cả linh hồn vào việc tìm kiếm Yavê Thiên Chúa của các ông! chỗi dậy mà xây cất thánh điện của Yavê Thiên Chúa, để kiệu Khám Giao ước của Yavê và các đồ thánh của Thiên Chúa vào Nhà phải được xây lên cho danh Yavê”

Thứ bậc và phận vụ các Lêvit
           23. 1Khi Đavit đã già và no đầy tuổi tác, thì ông đặt Salômon con ông làm vua trên Israel. 2Rồi ông triệu tập tất cả các người cầm đầu của Israel, của hàng tư tế và Lêvit. 
           3Người ta làm sổ các Lêvit từ ba mươi tuổi trở lên. Số đàn ông, từng người một, là ba mươi tám ngàn (người). 4Và vua Đavit đã truyền: Hai mươi bốn ngàn người của họ phải cai quản các việc nơi Nhà Yavê; sáu ngàn làm ký lục và thẩm phán, 5bốn ngàn người giữ cửa, và bốn ngàn người lo việc ngợi khen Yavê với các nhạc khí ta đã chế tạo để  dâng lời ngợi khen.
           6Đavit đã chia họ ra làm nhiều bộ ban theo số các con của Lêvi: Gersôm, Qơhat, Mơrari.
           7Thuộc họ Gersôm: Laơđan, và Shimơi. 8Con cái của Laơđan: đầu là Yơkhiel, rồi Zêtam và Yôel: ba người. 9Con cái của … Shôlômit, Khaziel và Haran: ba (người). Đó là các tộc trưởng của Laơđan. 10Con cái của Shimơi: Yakhat, Ziza, Yơush, Bơriah. Đó là bốn người con của Shimơi. 11Yakhat là đầu, và Zizah là thứ; Yơush và Bơriah, không đông con nên chỉ làm thành một gia tộc thuộc một phiên thứ.
           12Con cái của Qơhat: Amram, Yishar, Hêbrôn, Uzziel: bốn người. 13Con cái của Aram: Aharôn và Môsê. Aharôn đã được tách riêng, khiến ông và con cái ông giữ mãi mãi việc hiến thánh những điều cực thánh, và huân yên trước nhan Yavê, phụng sự người và chúc lành nhân Danh người mãi mãi. 14Môsê là người của Thiên Chúa; các con ông được liệt hàng chi tộc Lêvi. 15Con cái của Môsê: Gersôm và Êliêzer. 16Con cái của Gersôm: Shubael con đầu. 17Con cái của Êâliêzer là Rơkhabyah, con đầu của Êliêzer không có con nào khác nữa; còn con của Rơkhabyah thì lại rất đông. 18Con cái của Yishar: Sholômit, (là) con đầu. 19Con cái của Hêbrôn: Yơriyahu là con đầu, Amryah là thứ, Yakhaziel, thứ ba; và Yơqamơam, thứ tư. 20Con cái của Uzziel: Mika, là con đầu, Yishhiyah là thứ.
           21Con cái của Mơrari: Makhli và Mushi. Con cái của Makhli: Êlêazar và Qish. 22Êlêazar chết mà không có con trai; ông chỉ có  con gái, và con cái Qish, tức là anh em chú bác, đã cưới họ. 23con cái Mushi: Makhli, Êđer và Yơramôt: ba người.
           24Đó là con cái Lêvi theo các gia tộc của họ, (toàn là) những tộc trưởng đã kiểm tra theo sổ nhân danh, từng người một, về những người thi hành việc phụng vụ ở Nhà Yavê từ hai mươi tuổi trở lên.
           25Ấy vì Đavit nói: “Yavê Thiên Chúa của Israel đã cho dân Người được an cư lạc nghiệp và người sẽ lưu ngự ở Yêrusalem mãi mãi. 26Và như vậy các Lêvit sẽ không còn chuyên chở Nhà tạm và tất cả các đồ đạc dùng để phục vụ Nhà tạm! 27Chính theo các lời sau hết của Đavit mà việc tính sổ các con cái Lêvi được thi hành từ hai mươi tuổi trở lên–28Vì thế chỗ của họ là ở bên con cái Aharôn mà lo phục vụ Nhà Yavê ở nơi Tiền đình, các phòng; lo tất cả các đồ vật thánh cho được sạch sẽ; và việc phục vụ ở Nhà Thiên Chúa, 29(là lo đến) bánh trưng hiến, bột tinh lúa miến dùng vào lễ cúng, bánh tráng không men rán chảo hay trôi nước; (họ cũng lo đến) mọi điều liên can đến dung lượng và đo lường; 30và mỗi buổi sáng họ phải đứng chầu mà bát lời cảm tạ ngợi khen Yavê; mỗi buổi chiều cũng vậy; 31cùng mỗi khi có thượng tiến hy sinh thượng hiến cho Yavê vào các hưu lễ, ngày sóc, lễ bái, (họ phải phục vụ) luôn luôn trước nhan Yavê cho đủ số người đã qui định cho họ. 32Họ phải canh giữ, hầu hạ Trướng Tao phùng, hầu hạ cung thánh, hầu hạ con cái Aharôn, anh em họ mà phục vụ họ  tại Nhà Yavê.

Thứ bậc các tư tế
           24. 1các con cái Aharôn cũng có những phiên thứ của họ. Con cái của Aharôn: Nađab, Abihu, Êlêazar và Ithamar. 2Nhưng vì Nađab và Abihu đã chết trước mặt cha họ, mà không có con trai, nên chỉ có Êlêazar và Ithamar đã sung chức tư tế. 3Đavit, cùng Sađok thuộc hàng con cái Êlêazar và Akhimêlek thuộc hàng con cái Ithamar đã chia họ làm nhiều phiên thứ để lo phục vụ. 4Nhưng người ta thấy được là con cái của Êlêazer về số đinh tráng thì nhiều hơn số con cái của Ithamar; nên người ta đã chia con cái của Êlêazar làm mười  sáu gia tộc cùng với tộc trưởng, và con cái của Ithamar làm tám gia tộc. 5Người ta đã bắt thăm mà chia họ, bên này cũng như bên kia, vì có thánh trưởng và thần trưởng trong hàng con cái Êlêazer cũng như trong hàng con cái Ithamar. 6Và Shơmayah con của Natanie, ký lục thuộc hàng Lêvit viết họ vào sổ, trước mặt vua và các tướng lĩnh, cùng Sađok vị tư tế, Akhimêlek con của Êâbyatar, các tộc trưởng của hàng tư tế và Lêvit. Người ta rút (thăm), (mỗi lần) một gia tộc rồi lại một gia tộc cho Êlêazar và chỉ rút (mỗi lần) một gia tộc cho Ithamar.
           7Thăm thứ nhất trúng Yơhôyarib, thăm thứ hai trúng Yơđayah, 8thăm thứ ba trúng Kharim, thăm thứ tư trúng Sơorim. 9Thăm thứ năm trúng Malkiyah, thăm thứ sáu trúng Miyamin, 10thăm thứ bảy trúng Haqqôs, thăm thứ tám trúng Abiyah, 11thăm thứ chín trúng Yêshua, thăm thứ mười trúng Shơkanyahu, 12thăm thứ mười một trúng Eâlyashib, thăm thứ mười hai trúng Yaqim, 13thăm thứ mười ba trúng Khuppa, thăm thứ mười bốn trúng Yishêbah, 14thăm thứ mười lăm trúng Bilgah, thăm thứ mười sáu trúng Immer, 15thăm thứ mười bảy trúng Khêzir, thăm thứ mười tám trúng Happixes, 16thăm thứ mười chín trúng Pơtakhyah, thăm thứ hai mươi trúng Yơhesqel, 17thăm thứ hai mươi mốt trúng Yakin, thăm thứ hai mươi hai Gamul, 18thăm thứ hai mươi ba trúng Đơlayahu, thăm thứ hai mươi tư trúng Maazyahu.
           19Đó là những phiên thứ của họ để vào Nhà Yavê phục vụ, chiếu theo qui định họ (đã chịu lấy) nhờ tay Aharôn, cha họ, như Yavê Thiên Chúa của Israel đã truyền cho ông.
           20Về con cái Lêvi còn lại :
           Thuộc về con cái Amram: Shubael. Thuộc về con cái Shubael: Yêkhđơyahu. 21Còn về Rơkhabyahu: thuộc con cái Yơkhabyahu: đầu là Yishshiyah. 22Thuộc về họ: Yishar: Shơlômôt; thuộc con cái Shơlô- môt: Yakhat; 23Thuộc về họ Hêbrôn: Yơriyahu; thuộc con cái Yơriyahu… –Amaryahu là thứ; Yakhaziel là thứ ba, Yơqamơam là thứ tư–24Con cái của Uzziel: Mika; thuộc con cái Mika: Shamir; 25Em của Mika: Yishshiyah; thuộc con cái Yishshiyah: Zacaryahu. 26Con cái của Mơrari: Makhli, và Mushi. 27Con cái của Mơrari do con ông là Yaaziyahu:  Shôham, Zakur và Ibri. 28Thuộc về Makhli: Êlêazar–ông này tuyệt tự không con–29và Qish; Con cái của Qish: Yơrakhmơel. 30Con cái của Mushi: Makhli, Êđer, Yơrimôt.
           Đó là con cái hàng Lêvit, theo các gia tộc của họ. 31Họ được bắt thăm, một thể như anh em họ là con cái Aharôn, trước mặt vua Đavit, và Sađok, Akhimêlek, các tộc trưởng của hàng tư tế và Lêvit, gia tộc của người đầu hết cũng một thể như gia tộc của em nhỏ nhất.

Các ca sinh
           25. 1Đavit và những quan viên trông coi phụng vụ đã tách riêng con cái Asaph, Hêman và Yơđutun, những người tuyên sấm với đàn sắt, đàn cầm và chũm chọe. Sổ những người sung vào ngành phục vụ của họ như thế này: 
           2Thuộc hàng con cái Asaph: Zakhôr, Yôseph, Nơtanyah, Asarel, bốn người. Các người này (là) con cái Asaph; họ theo chỉ thị của Asaph, người tuyên sấm theo chỉ thị của vua.
           3Thuộc về Yơđutun: con cái của Yơđutun: Gơđalyahu, Xơri, Ysayahu, Shimơi, Khashabyahu, Mattityahu: sáu người. Họ theo chỉ thị của cha họ là Yơđutun, người tuyên sấm với đàn cầm khi hát lời cảm tạ ngợi khen Yavê.
           4Thuộc về Hêman: con cái Hêman: Buqqiyahu, Mattanyahu, Uzziel, Shubael, Yơrimôt, Khananyah, Khanani, Eâliatah, Giđđalti, Rômamti-Êzer, Yôshowqashah, Malloti, Hôtir, Makhaziôt. 5Tất cả các người ấy là con của Hêman, thầy chiêm của vua, theo lời Thiên Chúa đã ban cho Hêman mười bốn người con trai và ba người con gái. 6Tất cả các người ấy đều theo chỉ thị của cha họ trong việc hát xướng ở Nhà Yavê, với chũm chọe, với đàn cầm, đàn sắt, mà phục vụ ở Nhà Thiên Chúa theo chỉ thị của vua.
           – Asaph, Yơđutun và Hêman – 7Số người của họ, kể cả anh em họ, những người thuần thục về ca hát mừng Yavê, và hết thảy đều lảo luyện, là hai trăm tám mươi tám người. 8Người ta bắt thăm chia phiên thứ: người nhỏ cũng một thể như người lớn, từ kẻ lạo luyện đến kẻ đang tập nghề. 9Thăm thứ nhất rút trúng Asaph, (tức là) Yôseph, anh em và các con ông: mười hai. Thứ hai là Gơđalyahu; ông và anh em ông cùng các con ông: mười hai. 10Thứ ba: Zakhur; các con và anh em ông: mười hai. 11Thứ tư: Yisri; các con và anh em ông: mười hai. 12Thứ năm: Nơtanyahu; các con và anh em ông: mười hai. 13Thứ sáu: Buqqiyahu; các con và anh em ông:  mười hai. 14Thứ bảy: Asarel; các con và anh em ông: mười hai. 15Thứ tám: Yơshayahu; các con anh em ông: mười hai. 16Thứ chín: Mattanyahu; các con và anh em ông: mười hai. 17Thứ mười; Shimơi; các con và anh em ông: mười hai. 18Thứ mười một; Azarel; các con và anh em ông: mười hai. 19Thứ mười hai :Khashabyah; các con và anh em ông: mười hai. 20Lần thứ mười ba; Shubael; các con và anh em ông: mười hai. 21Lần thứ mười bốn; Mattityahu và các con và anh em ông: mười hai. 22Lần thứ mười lăm; cho Yơrêmôt: các con và anh em ông: mười hai. 23Lần thứ mười sáu: cho Khananyahu: các con và anh em ông: mười hai. 24Lần thứ mười bảy: cho Yôshbơqashah: các con và anh em ông: mười hai. 25Lần thứ mười tám: cho Khanani: các con và anh em ông: mười hai. 26Lần thứ mười chín: cho Mllôti; các con và anh em ông: mười hai. 27Lần thứ hai mươi: cho Eâliyatah: các con và anh em ông: mười hai. 28Lần thứ hai mươi mốt: cho Hôtir: các con và anh em ông: mười hai. 29Lần thứ hai mươi hai: cho Giđđalti: các con và anh em ông: mười hai. 30Lần thứ hai mươi ba: cho Makhaziôt: các con và anh em ông: mười hai. 31Lần thứ hai mươi bốn: cho Rômamti: các con và anh em ông: mười hai.

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí