Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Thời sau Lưu đày

Thời sau Lưu đày 
                Chúng đã nói trên kia đến thời Israel phục hưng, tức là cuối thế kỷ thứ 6.
Trong năm thế kỷ còn lại cho đến thời Tân Ước, các thư tịch Cựu Ước được thành hình như ta có ngày nay. Nhưng về biến cố bên ngoài, văn chương thời này không còn để lại cho ta mấy tí, khác với những hồ sơ phong phú của năm thế kỷ trước.
                Điều cũng lạ vì trong thế giới xung quanh biết bao là biến động: những đế quốc bao la dồn dập thăng trầm. Đế quốc Batư sụp đổ, Alexanđrô Đại đế chinh đông kích Tây, đem quân mãi đến Ấnđộ, nhưng đế quốc của ông tan rã ngay khi ông chết, rồi các tướng lĩnh của ông tranh hùng tranh bá, mãi cho đến khi Rôma vào cuộc và chiếm lấy cả gia tài thiên hạ. Nước Yavê tí tẹo dạt bên này bên kia, không còn làm chủ vận mạng của mình. Và trí não dân Dothái cũng dửng dưng với thời cuộc ấy. Thời cuộc ấy không làm cho lòng tin của họ phải đặt lại vấn đề: Hiểu sao về những đường lối của Thiên Chúa đối với loài người.
                Duy chỉ có một lần, mà biến cố đã kích động thâm sâu đến lòng tin của Israel: ấy là vào thế kỷ thứ hai, ông vua Hilạp bá chủ Syri, hiệu là Antiôkhô Eâphitanê, nẩy ra mưu đồ thống nhất giang sơn bằng văn hoá Hilạp, để làm cho xong công việc đồng hoá những dân khác biệt trong đế quốc. Ôâng nhất định áp dụng chương trình ấy cho cả người Dothái. Họ cũng phải tuân theo luật lệ của nhà nước về tôn giáo, một tôn giáo hỗn hợp. Người Dothái từ trước đến giờ không hề có thái độ câu nệ đối với văn hóa Hilạp, họ nói tiếng Hilạp, họ cũng học đòi nhiều tục lệ Hilạp như những thành phần khác của đế quốc Syri. Nhưng bây giờ họ đã kháng cự vì lịnh mà vua bây giờ đả động tới chính sự trung tín của họ với chính đạo. Chính quyền đàn áp, và xúi nên dấy loạn: Một cuộc khởi nghĩa vừa là tôn giáo, vừa thuộc quốc gia, dưới sự lãnh đạo của một gia đình, với sự điều khiển của vị anh hùng Yuđa Macabê. Nhờ tài cán của ông và sự khôn khéo của những kẻ kế tiếp ông, người Dothái đã dành được độc lập chính trị. Giai đoạn lịch sử này được thuật lại trong các sách. Macabê, và in dấu sâu đậm trên các truớc tác viết vào thời này. Đó là biến cố có lẽ là độc nhất thời sau lưu đày đã gợi lên đươcï ý nghĩa thiêng liêng cao cả sánh được với lịch sử thời các tiên tri.
                Nhưng tầm quan trong của thời sau lưu đày không cốt là nơi các biến cố bên ngoài, mà chính là ở nơi nỗ lực gầy dựng sinh hoạt bên trong của cộng đoàn Dothái thái. Đây là thời Giáo huấn của các tiên tri được đề cập đến dân chúng, chứ không còn đóng kín trong một nhóm môn đệ. Cộng đoàn Dothái luôn luôn cố gắng đặt tất cả trật tự xã hội trên nền tảng là Luật của Thiên Chúa, làm sao cho luật ấy được ăn sâu vào lòng người ta, theo lý tưởng các tiên tri Yêrêmya và Êzêkiel.
                Các Luật của Israel, thuộc nhiều thời đại, có khi lên rất xa trong quá khứ, đã được sưu tập và kết thành bộ, kèm theo những chú thích này khác. công việc được làm thành sách chúng ta gọi là Ngũ Kinh. Ngũ Kinh được hình thành như có hiện tại vào lối thế kỷ thứ 4 trước Kỷ nguyên. Cũng vậy bút tích của các tiên tri cũng được sưu tầm, sắp đặt lại và viết thành sách để truyền lại cho hậu thế. Các biên niên sử của các thời xưa được soạn định với mục đích là làm nổi bật giáo huấn của các tiên tri, cái quan tâm đến sử như sử học ngày nay là một hiện tượng khá muộn trong thời lịch sử nhân loại. Còn tế tự nơi Đền thờ cũng được chỉnh đốn một cách ngăn nắp, và tỉ mỉ, để duy trì tất cả những truyền thống cổ xưa của Israel, và thích nghi sao để có thể diễn tả những quan niệm cao siêu theo đạo lý các tiên tri về phụng thờ Thiên Chúa. Sách Thánh Vịnh  được soạn ra gồm các bài hát tụng, xưa có ( có bản lên đến Đavít ), nay có, để làm sách ca ngợi dùng trong phụng vụ của Đền thờ.
                Cùng với Lề luật và phụng vụ, còn có việc đào tạo về tôn giáo, giáo dục con người sống trong Giao ước. Khu vực văn chương này được tiêu biểu nơi các sách mệnh danh là « sách khôn ngoan »: Như sách Cách ngôn, sách Huấn ca, tàng trữ lại những châm ngôn của hiền nhân và những lời răn khuyên đạo nghĩa. Lời lẽ muốn nói với hạng bình dân, mà cũng là bài học cho những thanh niên thụ giáo với hiền nhân. Thuộc một suy tư cao hơn, sách Yob là cuộc đàm thoại bằng ngây thơ, những câu thơ bất hủ, lộng lẫy vế hình ảnh, rất kêu về âm thanh, nói lên vấn đề đâu khổ trong trật tự quan phòng của Thiên Chúa. Còn muộn hơn cả là Sách khôn ngoan có tính cách một thiên luận triết lý với áo thơ đài các, cống hiến
của Dothái nói tiếng Hipri ở Êlexanđria.
                Cộng đoàn đã được tái thiết với tinh thần của các tiên tri. Nhưng càng lâu, với kinh nghiệm tôn giáo và sự đời, người ta cảm thấy có gì còn thiếu xót. Giải thích lịch sử nền tảng cho xã hội đạo Dothái, vẫn chưa đạt thấu cái tối hậu. Các tiên tri tuyên bố lịch sử diễn ra trong một trật tự luân lý, xác định bởi Thánh ý Thiên Chúa. Nói tổng quát thì tội và họa đi liền với nhau, và hoàn toàn trung tín với luật của Thiên Chúa thì thế nào cũng được chúc lành.
                Không có ai lên tiếng phủ nhận lập trường căn bản ấy. Nhưng làm sao lấy kinh nghiệm thực tế mà chứng minh điều ấy? Khi ngó đến số mạng mỗi người để áp dụng nguyên tắc, «thiện ác đáo đầu chung hữu báo », họa tai trên đời dành cho kẻ dữ, thịnh vượng là phần kẻ lành, thì thực tế khác hẳn: chẳng những một người hoàn nghi như Qohelet  cho thế là sai, mà nhà thơ thâm thúy như  Yob cũng đả kích, rồi ngay việc áp dụng cho đoàn thể, nguyên tắc cũng khó nghiệm thấy sau bao thế kỷ trôi qua. Dân Dothái sau lưu đày mài miệt với lề Luật của Thiên Chúa, mà suốt cả thời gian ấy bao giờ cũng vẫn là dân bị trị, bị áp bức và luôn ở trong tình cảnh bần cùng.

                Tư tưởng Dothái dần dần đi đến một lập trường uyển chuyển hơn, hay đúng hơn, đến một tế nhận đầy đủ hơn. Lịch sử đứng trong một trật tự luân lý, điều ấy có thực, một trật tự ở dưới sự phân xét của Thiên Chúa hằng sống. Nhưng điều ấy không thể chứng nghiệm được nơi bình diện lịch sử như chúng ta biết được. Lịch sử nhân loại có tính cách bi kịch, mà lý lẽ không giải nổi. Điều ấy chỉ có thể nhận được trên bình diện siêu lịch sử, siêu thời gian, khác với bình diện mà loài người kinh nghiệm được. Phải lịch sử theo bình diện ấy mới chắc chắn có đạt thấu chóp đỉnh. Ý định của Thiên Chúa, tỏ bày một phần nào đó suốt lịch sử, sẽ được dẫn đến chung cục, mặc khải toàn diện. Đạo lý ấy ( đạo lý Cách chung, vì nói đến sự sau cùng hết ) được thể hiện trong một loại văn chương mới, đã phát sinh một phần nào đó với Êzekiel, nhưng chỉ bành chướng vào những thời khó khăn khá muộn, đó là loại văn chương thường gọi là « Khải Huyền » ( tỏ bày ra sự huyền bí trong ý định của Thiên Chúa ). 
                Sách tiêu biểu nhất cho loại văn này còn lưu truyền trong Cựu Ước là sách Daniel. Sách này phát xuất trong thời Antiôkhô Êpiphanê cấm đạo. Bao nhiêu đau
khổ người Dothái phải chịu vào thời này làm cho những nghi vấn vế sự Thiên Chúa quan phòng lịch sử bấy giờ đạt đến mức gay cấn. Các đau khổ ấy không chỉ xảy đến cho một dân đã nỗ lực sống theo Luật của Thiên Chúa, mà hơn nữa, lại giáng xuống những thành phần ưu tú nhất của dân Chúa. Vậy thì còn nói làm sao được lệnh thi hành sự phán xét của Thiên Chúa? 
                Để trả lời cho nghi vấn, tác giả sách Daniel viện đến một thứ triết lý về lịch sử: trong thời hiện tại, vì những lý do riêng chỉ có người biết, Thiên Chúa để cho các mãnh lực thế gian này được tự ý hoạt động. Chúng được tự do đến nỗi có thể kháng cự được cả với ý định của Người. Và bởi đó, những ai mến chuộng Thánh ý Người, đành lòng giữ Luật của Người sẽ phải chịu đựng nhiều sự đau đớn. Nhưng cho dù thế, Đấng Tối Cao trị vì trên vương quyền nhân loại (Daniel 4 14-22 )  Sự đau khổ người lành phải chịu chẳng những thử luyện lòng trung kiên và tăng  thêm can đảm cho họ, mà còn dọn một cách bí nhiệm lịch sử kết thúc một ngày kia như ý Thiên Chúa muốn, khi thời ấy đến, Thiên Chúa sẽ thi thố quyền năng của Người ra mà lập một Nước công chính vô cùng vô tận.
                Đạo lý ấy được diễn đạt bằng những hình ảnh tượng trưng, những cảnh thị kiến. Cách riêng có hai thị kiến song song đối chiếu và bổ túc cho nhau. Thị kiến thứ nhất cho thấy một pho tượng khổng lồ, thể hiện cho tất cả các đế quốc ngoại đạo. Tượng làm bằng những vật liệu khác nhau, tức là những bạo quyền thống trị nhân loại, khác nhau, nhưng cũng chỉ là một quyền bính, quyền bính của sự dữ. Nhưng bỗng đâu có viên đá từ núi tách ra, không do tay phàn nào cả, mà đập vào chân tượng làm nó tan tành thành mảnh.
Bấy giờ tan tành cả một trật, sắt với đất, đồng với bạc. Chúng ra như trấu lép nơi sân lúa mùa hè và gió cuốn chúng bay đi hết, không còn một dấu vết nào. Còn viên đá đập phá pho tượng đã trở thành núi lớn và lấp đầy càn khôn tất cả. (Đaniel  22 31-45).
               Không có tay nhân loại nào đã nên khí giới hủy diệt mãnh lực sự dữ trên trần gian: Đó là một công việc của một Thiên Chúa. Đến bây giờ, nước Thiên Chúa mới nên một sự thực trên cả tạo thành.
               Thị kiến thứ hai dẫn đến cả một bầy quái vật: Sư tử có cánh và một vật hì hợm hình thù không thể tả được và dữ dằn khủng khiếp. Một lần nữa, các quái vật ám chỉ đến các mãnh lực xấu xa nơi trần gian, nhập thể suốt dòng lịch sử nơi những đế quốc kế tục theo nhau. Các quái vật ấy vươn lên hung bạo. Nhưng trên chúng, ngự trên ngai có Lão đại thâm niên ( Thiên Chúa hằng có ), và các thẩm phán an tọa, sổ sách đã mở ra. Các mạnh thú lãnh án phạt và biến mất: Các mãnh lực sự dữ bị bại, không phải nhờ sức lực người phàm, nhưng là chính bởi sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa hằng sống. Nhưng khi ấy một nhân vật mới xuất hiện: Thì này với may trời đi đến, có vị giống tợ Con Người ( một dung mạo con người ta không là con thú vật), ngài tiến đến gần nơi Lão đại thâm niên và người ta để ngài đến gần. Và ngài được ban cho quyền thống trị, vinh hiển vương quyền, và mọi dân, mọi nước, mọi tiếng nói đã làm tôi ngài. Quyền thống trị của ngài, quyền thống trị muôn  thuở, không hề qua đi, và vương quyền của ngài sẽ không tiêu diệt (Daniel  7 1-14 ).
               Lời giải thích đến sau nói: con người thể hiện cho dân của chư thánh của Đấng tối cao. Thế nghĩa là quyền quản cai cùng tận của Thiên Chúa sẽ được thực hiện trong và nhờ cộng đoàn hoàn toàn suy phục thánh ý Thiên Chúa, trong đau khổ vì trung tín với Lời của Người, Cựu Ước nhắm một điều sẽ đến, nhưng đang được dọn trong hiện tại: vương quyền của Thiên Chúa đang tiến lại.
               Còn Tân Ước bắt đầu với lời rao giảng của Chúa Kitô: Thời buổi đã mãn và nước Thiên Chúa đã đến gần bên!  Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng (Mc 1  15 ).
               Và vì thế mà Hội Thánh Chúa Kitô, Đâùng đã xưng mình là con Người (Mt 26 64) hằng xác tín rằng :
               « Nhiệm cục Cựu Ước có được, ấy cốt là để dọn đàng chờ cuộc quang lâm của Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc muôn loài và Nước Cánh Chung của Người, bằng lời tiên tri loan báo và bằng các hình bóng nhiều kiểu ».
                                                ( Hiến chế Lời Thiên Chúa, số 15 )