Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Tên gọi, phân chia, nội dung

Tên gọi, phân chia, nội dung
             Năm quyển đầu của Cựu Ước làm thành một khối, người Dothái gọi chung là « Torah », tiếng Hilạp này thường được dịch là Lề luật. Nhưng đúng nghĩa hơn thì phải dịch là Giáo điều, vì các sách này không chỉ có Luật  mà còn gồm nhiều điều khác với mục đích dạy dỗ. Việc phân chia bản văn thành năm quyền, xấp xỉ bằng nhau có thể được thực hiện trong các thế kỷ  V  và VI trước Công nguyên và trong mục đích để sử dụng.
               Năm quyển ấy là: Kinh khởi nguyên (Kn), kinh xuất hành (Xh). Kinh Lêvi (Lv), kinh dân số (Ds), kinh thứ luật (Tl). Kiểu đặt tên này là dịch của bản bằng tiếng Hilạp và Latinh, đã dựa vào nội dung của mỗi quyển mà đặt tên. Người Hipri thì lại khác. Họ lấy chữ đầu hoặc những chữ quan trọng đầu tiên của văn bản để gọi mỗi quyển. 
             Năm quyển này kể lại một cách liên tục lịch sử của dân Israel từ khởi thủy vũ trụ cho đến khi Môsê chết.
             Kinh Khởi nguyên được chia thành hai phần không đều nhau:  Phần đầu, 1-11, trình bày lịch sử về thời sơ khai, có thể được coi như một nhập đề cho lịch sử cứu chuộc về trong suốt cả bộ Kinh Thánh. Lịch sử ấy lên tận nguồn gốc của vũ trụ và bao gồm toàn thể nhân loại. Lịch sử ấy kể về tạo dựng vũ trụ và con người, sự sa ngã buổi đầu với những hậu quả của nó, tình  trạng đồi trụy mỗi ngày mỗi gia tăng và đưa về hình phạt là trận lụt Hồng Thuỷ. Từ Noê, con người lại sinh sôi nảy nở trên thế giới, nhưng các bản gia phả cứ càng ngày càng thu hẹp để cuối cùng đặt trọng tâm nơi Abraham cha của dân tộc được tuyển lựa .
            Từ 12- 50: Dung mạo của tổ phụ lớn. Abraham là con người của lòng tin. Lòng thuần phục của ông đã được Thiên Chúa tưởng lệ, hứa ban cho ông một dòng giống đông đảo và cho con cháu ông một Đất Thánh. (12 1-25 18) Yacob là con người mánh lới, cướp của anh là Esau lời chúc lành của Cha là Isaac, mánh khoé hơn cả cậu là Laban. Nhưng tất cả sự khôn khéo ấy không đưa tới đâu nếu Thiên Chúa đã không, ngay từ trước khi ông sinh ra, thương ông hơn Êsau và lặp lại với ông lời hứa Giao ước  đã ban cho Abraham (25 19-36). Ysaac là một dung mạo lu mờ giữa Abraham và Yacob. Cuộc đời của ông chỉ được kể lại đi kèm với cuộc đời của cha và con. Mười hai người con của Yacob là những ông tổ của 12 chi tộc Israel. Yuse, một trong số 12 người ấy, con người đầy khôn ngoan được nói tới trong hơn mười đoạn của phần cuối sách Khởi nguyên (37-50 trừ 38 và 49). Trình thuật này, khác với trình thuật trên được diễn ra không một lần can thiệp hữu hình của Thiên Chúa và không một mạc khải mới nào, nhưng nó là cả một giáo huấn:  Nhân đức của người khôn  ngoan được bội thưởng và sự quan phòng của Thiên Chúa biến đổi thành điều hay, điều tốt những lỗi lầm của người đời.
Sách Khởi nguyên là một khối hoàn bị:  Lịch sử các tổ phụ. 3 quyển sau lập thành một khối khác, trong đó việc thành lập dân được chọn và việc thiết lập lề luật xã hội và tôn giáo của nó được ghi lại trong khung cảnh của cuộc đời Môsê. Sách Xuất hành bàn tới hai đề tài chính:  Việc giải phóng khỏi Aicập 1 1-15 21 và Giao ước tại Sinai 19 1-40 38 ; hai đề được nối với nhau bằng một đề tài phụ, cuộc hành trình trong sa mạc 15 22 – 18 27. Môsê, sau khi nhận được mạc khải tên Yavê trên núi của Thiên Chúa, đã dẫn đưa người Dothái vừa được giải phóng khỏi cảnh tôi mọi tới đó. Trong một cuộc Thần hiện ngoạn mục, Thiên Chúa kết Giao ước với dân và ban cho dân ấy những Lề luật của Người. Giao ước vừa được thiết lập đã bị vi phạm bởi việc thờ lạy bò vàng. Nhưng Thiên Chúa đã tha thứ và tái lập Giao ước. Một loạt chỉ thị hoạch định việc thờ tự trong sa mạc.
Sách Lêvi, có tính cách hầu như hoàn toàn pháp chế, tạm cắt ngang trình thuật các biến cố. Quyển này gồm có:  Một nghi thức về tế lễ  1-7; nghi thức phong chức các tư tế, áp dụng cho Aharôn và các con của ông 8-10, những luật lệ liên quan tới thanh sạch hoặc uế tạp 11-15, kết thúc một lịch trình phụng vụ, 23, và kết thúc những lời chúc lành và chúc dữ, 26. Chương 27, phần bổ túc, định rõ những điều kiện để chuộc người, vật và các thứ khác hiến cho Yavê.
Sách Dân số lấy lại đề tài cuộc hành trình trong sa mạc. Cuộc khởi hành từ Sinai được  sửa soạn bởi việc kiển tra dân chúng, 1-4 và những cuộc tiến dâng cung hiến Nhà Tạm, 7. Sau việc cử hành lần thứ hai, lễ Pas-char, mọi người rời Núi Thánh, 9-10 và từng chặng một, tới Cađes. Tại đây dân đã gặp thất bại trong nỗ lực tiến vào Canaan bằng phía Nam 11-14. Sau cuộc lưu lại tại Cađes, mọi người lại lên đường và tới cánh đồng Moab, đối diện với Yêrikhô 20-25. Người Mađian bị đánh bại và các bộ tộc Gađ và Ruben lưu lại ở Bên-kia sông Yorđan, 31-32. Một bản tóm tắt các chặng đường của Xuất hành 33.  Xung quanh các trình thuật này, quy tụ một số những quy luật hoàn bị cho bản luật tại Sinai hoặc chuẩn bị cho việc lập cư tại Canaan 5-6 ; 8 ; 15-19 ; 26-30 ; 34-36.
Sách Thứ luật có một bố cục đặc biệt ; đây là một bản Dân luật và luật Tôn giáo, 12-26 15 được đóng khung trong một diễn từ lớn của Môsê. 5-11 và 26 16-28. Cả khối này lại được đóng khung bởi diễn văn đầu tiên 1-4 và diễn văn thứ ba, 29-30  của Môsê và sau đó nhưng khúc liên quan tới giai đoạn chót của cuộc đời Môsê: Sứ vụ của Yôsua, bài ca và chúc lành của Môsê, cái chết của Môsê.31-34. Bản Thứ luật lấy lại một phần của Lề luật được ban trong sa mạc. Các diễn văn nhắc lại những biến cố chính của việc Xuất hành, trên nui Sinai và cuộc chinh phục khởi đầu: Và làm nổi bật ý nghĩa tôn giáo của các biến cố ấy, nhấn mạnh tầm mức của Lề luật thôi thúc dân trung tín.
Soạn tác
             Các văn kiện xưa, ngay cả Tân Ước (coi 12 19 Mt 8 4 Cv 3 22 Rm 9 15 10 5 2C 3 15...), điều có nói là: « Môsê viết ». Kiểu nói này chỉ là một kiểu nói sẵn có vì ước lệ, không phải một quả quyết xác định tác giả. Vì không thể nào Môsê đã viết hay đọc cho thư ký viết tất cả. Có nhiều dấu cho thấy các luật kê trong đó đã xuất hiện nhiều thời buổi khác nhau, và không thể được dung hòa được với nhau. Xin đan cử một thí dụ: Luật về bàn thờ và nơi tư tế tự. Có luật dạy chỉ được xây tế đàn bằng đá nguyên cả tảng, không được đẽo đục. Luật khác dạy làm làm tế đàn bằng đồng. Có luật dạy xây bàn thờ bất cứ đâu, luật khác lại dạy chỉ có một nơi tế tự duy nhất (coi Xh  20  24-26 27  1-8  Tl 12 11),
             Có lắm điều lặp đi lặp lại. Một thí dụ: Thấp giới được nói đến hai lần, dưới hai hình thức chẳng khác nhau bao nhiêu (Xh  20 1-17 và Tl 5  6-22)-
             Bây giờ khảo sát đến cách hàng văn và từ ngữ, ta thấy năm sách này kết thành một bởi những đoạn rất khác nhau. (Có thể so sánh truyện Tạo thành trong đoạn Khởi nguyên 1 và Kn 2). Các học giả thường nhận có bốn giòng văn khác nhau, đã được đan kết lại một cách tinh vi.
             Bốn giòng văn đó là: ­ giòng văn Yavít (vì dùng danh Yavê ngay từ đầu),
             Bốn giòng văn đó là: ­ giòng văn Yavít (vì dùng danh Yavê ngay từ đầu),
                                                     Elohim),
                                ­ giòng văn thứ luật (tất cả kinh Thứ luật). và 
                                                 ­  giòng văn Tư tế.
             Cân nhắc tất cả những điều quan sát được trong khi đọc Ngũ kinh, và đối chiếu với lịch sử của Israel, người ta rút ra kết luân này: Ngũ kinh là một bộ sưu tập: Luật lệ có, giảng thuyết diễn từ có­thuộc những giai đoạn lịch sử khác nhau, từ Môsê cho đế thế kỷ thứ 4 hay thứ 5 trước Công nguyên.
                                                Vậy Môsê như một mô giới măc khải và Giao ước, lập luật về tế tự                             và pháp luật, và khởi điểm cho một truyền thống có tính cách quy luật, ký thác cho hang tư tế. Hàng tư tế vun trồng vốn ấy làm cho truyền thống tiến triển về các định chế xã hội và tôn giáo, cùng về đạo đức. Công việc ấy được đúc kết từng đoạn hay từng chương lớn, trong những thư tịch tiêu biểu như lời Thiên Chúa cho Israel. Sưu tầm đầy đủ trong đó các bản văn được đâu lại hình như có liên lạc với sứ mạng của Ezra (Ezra 7 14 25-26, Nêhêmya 8).
             Trong các sách ấy, ta thấy hòa lẫn với nhau năm yếu tố văn chương này: 
             ­ Một cái nhìn tổng quát về nhân loại, có lẽ khá bi quan, nhưng cũng nói lên một hy vọng hứa hẹn cho mọi người (cách riêng Khởi nguyên đoạn 1 đến 9).
             ­ Những ký ức lịch sự về việc thiên cư của các Tổ phụ, và việc Israel là ta khỏi Aicập. Đó là hai « hồi » quan trọng nhất cho thiên triệu Israel được làm Dân chọn.
             ­ Những khúc trình luật dài dòng hơn cho thấy thiên triệu ấy diễn tiến thăng trầm. Những ký ức rất cựu trào đã được nhìn ngang qua một kinh nghiệm tôn giáo được kéo dài mười hay mười hai thế kỷ. Chính nơi đây mà ta phải áp dụng quan niệm truyền thống tiến triển mới mong hiểu được nghĩa của thánh sử.
             ­ Rồi đến những sưu tập luật lệ về sinh hoạt công cộng của Israel và về lễ bái tế tự. Các luật này đã lần hồi xuất hiện, từ thời Môsê (lối 1225) cho đến thời Đền thờ tái lập sau Lưu đày (từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 4).
             - Những bài diễn tử hay giảng thuyết khuyên nhũ dân nắm giữ luật lệ và nói lên hậu qủ thưởng phạt tuỳ theo thái độ của Dân đối với Giao ước.