Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Salômon và việc xây cất Đền thờ (tiếp theo) (2Ks 5,2 - 9,31)

Kiệu Khám Giao ước
           2Bấy giờ Salômon truyền cho các ký mục Israel, tất cả các đầu  mục các chi tộc, vương công các gia tộc con cái Israel hội lại ở Yêrusalem, để kiệu Khám Giao ước của Yavê lên, từ thành của Đavit tức là Sion. 3Mọi người Israel đã đều hội lại bên vua nhân dịp đại lễ, tức là tháng bảy. 4Toàn thể các ký mục Israel đã đến, và các lêvit khiêng Khám. 5Và họ kiệu Khám và Trướng Tao Phùng; và tất cả đồ thánh ở trong Trướng; Các tư tế Lêvit đã kiệu các đồ ấy lên.
            6Trong khi vua Salômon và toàn thể cộng đồng Israel, tề tựu bên ông, đằng trước Khám, tế lễ chiên bò, nhiều không kể xiết, hay đếm được. 7Các tư tế đem Khám Giao ước của Yavê vào chỗ dành (cho Khám) nơi hậu tẩm của Nhà, tức là Cung cực thánh, dưới cánh các Kêrubim. 8Các Kêrubim trương cánh lên chỗ đặt Khám, và từ bên trên các Kêrubim phủ (cánh) trên Khám và các đòn khiêng. 9Các đòn khiêng dài nên người ta có thể thấy mút đòn (nhô ra) từ Khám, ngay đằng trước hậu tẩm, nhưng không thấy được từ bên ngoài. (Khám) vẫn còn ở đó cho đến ngày nay. 10Trong Khám chỉ còn hai tấm bia, Môsê đặt vào Khoreb. Những bia của Giao ước Yavê đã kết với con cái Israel, thời họ ra khỏi Aicập.

Thiên Chúa chiếm ngự Đền thờ

           11Khi các tư tế ra khỏi thánh điện–vì hết cả tư tế có mặt đều đã thánh tẩy mình, không giữ thứ tự các ban; 12các Lêvit ca sĩ, tất cả nhóm: Asaph, Hêman, Yơđutun, các con cái và anh em họ đều mặc lụa là đứng sẵn với chũm chọe, đàn sắt, đàn cầm, ở phía Đông tế đàn, và bên cạnh họ, là một trăm hai mươi tư tế thổi loa. 13Vậy khi tất cả, như một, họ thổi loa, ca hát, đồng thanh cất tiếng ngợi khen cảm tạ Yavê và trổ tiếng lao, chũm chọe và nhạc khí mà ngợi khen Yavê: “Vì Người tốt lành, vì ơn Người miên man vạn đạIsrael” thì mây xuống đầy Nhà Yavê.
           14Vì có Mây nên các tư tế không thể đứng lại phụng sự; vì vinh quang Yavê xuống đầy Nhà của Thiên Chúa.
           6. 1Bấy giờ Salômon nói :
           “Yavê phán: Người sẽ ở trong đám mấy đen.
           2Vậy mà tôi đã được xây cung điện cho Người,
           Làm tòa Người ngự cho đến muôn đời !”

Chúc văn khánh thành của Salômon 
           3Đoạn vua quay mặt lại mà chúc lành cho toàn thể đại hội Israel, trong khi toàn thể đại hội Israel đứng chầu. 4Ông nói :
           “Chúc tụng Yavê Thiên Chúa của Israel, Đấng đã phán tự miệng với Đavit cha tôi, và đã tra tay làm cho nên trọn (điều Người) đã nói: 5Từ ngày Ta đem dân Ta ra khỏi đất Aicập, Ta đã không chọn thành nào trong toàn thể các chi tộc Israel để xây nhà làm chỗ cho Danh Ta ở; Ta dã không chọn người nào làm thủ lĩnh dân Ta là Israel. 6Nhưng Ta đã chọn Yêrusalem làm chỗ cho Danh Ta ở; Ta đã chọn Đavit để nó cai trị dân Ta là Israel.
           “7Và Đavit đã cho tôi những hoài bảo xây Nhà cho Yavê Thiên Chúa của Israel. 8Nhưng Yavê đã phán với Đavit cha tôi: Bởi ngươi đã hoài bão xây Nhà cho Danh Ta, ngươi đã làm phải vì việc ngươi hoài bão như thế. 9Duy có điều không phải là chính ngươi sẽ xây Nhà mà là con ngươi, kẻ sẽ xuất tự sườn ngươi, chính nó mới xây nhà cho Danh Ta. 10Yavê đã làm ứng nghiệm lời Người đã phán: Tôi đã đứng lên kế vị Đavit cha tôi và ngồi ngai Israel, theo như Yavê đã phán, và tôi đã xây Nhà cho Danh Yavê Thiên Chúa của Israel. 11Ở đó tôi đã đặt Khám, trong có Giao ước Yavê đã kết với con cái Israel”.

Lời nguyện của Salômon 
           12Đoạn ông đứng trước tê đàn của Yavê, trước mặt toàn thể đại hội Israel và ông giang tay ra. –13Salômon đã làm một cái bục bằng đồng và đặt ở giữa sân, năm xích chiều dài, năm xích chiều rộng, và ba xích chiều cao; ông đứng trên bục, đoạn quì gối xuống trước mặt toàn thể đại hội Israel và giang tay lên trời, 14và nói: 
           “Yavê Thiên Chúa của Israel, không có thấn linh như Người trên trời dưới đất, Đấng giữ giao ước và ân nghĩa với các tôi tớ Người, những kẻ hết lòng đi trước Nhan người. 15Đâng đã giữ lời với tôi tớ Người là Đavit cha tôi,(lời) Người đã phán tự miệng Người và đã tra tay làm cho nên chọn ngay ngày hôm nay. 16Vậy bây giờ, lạy Yavê Thiên Chúa của Israel, xin hay giữ với tôi tớ người là Đavit cha tôi, điều Người đã phán, mà rằng: Sẽ không tiệt khỏi trước Nhan Ta, người của ngươi ngự trên ngai Israel, duy có điều là con cái ngươi phải giữ đường lối chúng là đi theo lề luật của Ta, như ngươi đã đi trước Nhan Ta. 17Vậy bây giờ, lạy Yavê Thiên Chúa của Israel, ươc gì được nên ứng nghiệm lời Người đã phán với tôi tớ Người là Đavit. 18Họa chăng là Thiên Chúa lại ở với người phàm dưới đất? Kìa trời và thượng đỉnh tầng trời không tài nào chứa nổi Người, huống hồ là cái nhà này tôi mơi xây lên. 19Xin Người đoái đến lời khấn nguyện van xin khẩn nguyện tôi tớ mình nguyện trước nhan Người 20mà để mắt ngày đêm đoái xem Nhà này, đến chỗ mà Người phán hứa sẽ đặt Danh Người ở đó, để nhậm lời khấn nguyện tôi tớ Người nguyện trong chốn này.

Cầu nguyện cho dân
           “21Xin Người nghe lời tôi tớ Người và dân Israel của Người van xin hướng về nơi này. Từ nơi Người ngự, từ trời cao, xin Người đoái nghe và tha thứ.
           “22Khi có người nào mắc tội với người đồng loại và bị người ấy đòi phải thề rủa, mà đến thể rủa trước mặt tế đàn của Người, nơi nhà này, 23thì từ trời xin Người nghe và can thiệp: Người sẽ phân xử cho các tôi tớ Người, và báo phạt kẻ ác mà trả lại trên đầu nó đường ác nó theo; còn thiện giả thì thiện báo, Người trả lại các đức Người ta đã làm.
          “24Giả như dân Israel của Người bại trận trước mặt kẻ thù, chì chúng có tội với Người; nếu chúng trở lại và ngợi khen Danh Người, nếu chúng khẩn nguyện van xin trước nhan Người nơi nhà này, 25phần Người, từ trời xin Người đoái nghe và tha tội cho dân Israel của Người, và đưa chúng về lại nơi thửa đất Người đã ban cho chúng và cha ông chúng.
            26khi trời bị cầm lại, khiến không có mưa, vì chúng có tội với Người, nếu chúng hướng về nơi này mà khẩn nguyện và ngợi khen Danh Người, và bỏ tội lỗi trở lại với Người, vì Người đã hạ chúng xuống, 27phần Người, trên trời xin Người đoái nghe và tha tội cho các tôi tớ của người là dân Israel của Ngươi – vì Người dạy chúng nẻo đường tốt lành chúng phải đi – xin Người ban mưa xuống đất của Người, đất Người đã ban cho dân Người làm cơ nghiệp.
           “28Khi trong xứ có nạn đói, hay ôn dịch, khi có nạn lúa vàng úa hay thối đen, hay châu chấu cào cào, khi có địch thù vây hãm nơi một cổng thành nào, hay bất cứ tai ương, bất cứ bịnh hoạn nào, 29bất cứ điều gì khiến phải (thốt lến) lời khẩn nguỵên van xin, nơi một người nào hay nơi toàn thể dân Israel của Người, điều mỗi người cảm thấy như tai họa, thống khổ mà giang tay hương về nhà này, 30phần Người, từ nơi tòa Người ngự, xin Người đoái nghe và tha thứ, xin Người trả cho mỗi người tùy hành vi của nó, vì Người biết lòng nó, và chỉ một mình Người mới biết lòng con cái loài người, 31ngõ hầu chúng kính sợ Người mà đi theo đường lối của Người mọi ngày chúng sống trên thửa đất Người ban cho cha ông chúng tôi.
           “32Và cả những người xa lạ không thuộc con cái Israel của Người, kẻ tự phương xa mà đến vì Danh Người, bởi người ta đã nghe đồn về Danh lớn lao của Người và tay mạnh, cánh tay dương của Người, nếu họ đến và hướng về Nhà này mà khẩn nguyện, 33phần Người, từ trời, từ nơi tòa Người ngự, xin Người đoái nghe và làm theo mọi điều kẻ xa lạ kêu lên với Người, ngõ hầu hết thảy các dân thiên hạ được biết Danh Người mà kính sợ Người như dân Israel của Người và được biết danh Ngừơi đã được kêu khấn trên Nhà tôi đã xây này.
           “34Khi dân Người xuất chinh giao chiến với địch thù, trên đường Người sai chúng đi, nếu chúng khẩn nguyện với Người, hướng mặt về thành Người đã chọn này và Nhà tôi đã xây cho Danh Người, 35Tự trời xin Người đoái nghe lời chúng khẩn nguyện van xin, và thi hành án công minh cho chúng.
             “36Khi chúng có tội với NgườIsrael – vì không có ai là không có tộIsrael – và Người thịnh nộ mà phó nộp chúng cho kẻ thù, để quân giặc bắt chúng đi đày nơi đất nghịch xa hay gần, 37nhưng rồi chúng hồi tâm, nơi đất chúng bị đày ải, và trở lại cùng kêu van với Người nơi đất lưu đày, mà rằng: Chúng tôi đã lầm lỗi, đã phạm tội, và đã làm trái, 38chúng trở lại với Người hết lòng, hết linh hồn nơi đất lưu đày, nơi người ta đày chúng; và khẩn nguyện hướng mặt về đất của chúng, (đất) Ngừơi đã ban cho cha ông chúng, về thành Người đã chọn, và Nhà tôi đã xây cho Danh Người, 39từ trời, từ tòa Người ngự, xin Người đoái nghe lời chúng khẩn nguyện van xin, và thi hánh án công minh cho chúng, và tha các tội lỗi chúng đã phạm đến Người.
          40Vậy bây giờ, lạy Thiên Chúa tôi thờ, xin mắt Người rộng mở và tai người lắng nghe lời khẩn nguyên dâng ở chỗ này.
          41Bây giờ, xin hãy chỗi dậy, lạy Yavê Thiên Chúa. Vào nơi Người nghỉ, Người và Khám uy thiêng của Người.
          Các tư tế của Người, lạy Yavê Thiên Chúa, hãy mặc lấy ơn cứu độ.
           Và các kẻ thành tín của Người, hãy vui hưởng phúc lành.
          42Lạy Yavê Thiên Chúa xin đừng hăt hủi mặt vị Kitô của Ngươi, xin Ngừơi nhớ lại các ân nghĩa của Đavit, tôi tớ của Người”.

Kết thúc lễ cung hiến
           7. 1Salômon vừa cầu nguyện xong, thì lửa từ trời xuống thiêu thựơng hiến và lễ vật, trong khi vinh quang Yavê xuống đầy Nhà. 2Các tư tế không thể vào Nhà Yavê  vì vinh quang Yavê đầy cả Nhà Yavê. 3Toàn thể con cái Israel đều trông thấy lửa xuống và vinh quang Yavê trên Nhà, và họ quì xuống, mặt sát đất trên nền đá, mà thờ lạy và cùng cạm tạ Yavê: “Vì Ngừơi tốt lành, vì ơn Người miên man vạn đại”4Vua và toàn dân tế lễ hy sinh trứơc nhan Yavê. 5Vua Salômon đã tế lễ hy sinh: hai mươi hai ngàn con bò và một trăm hai mươi ngàn con chiên. Như thế vua và toàn dân đã khánh thành Nhà của Thiên Chúa. 6Các tư tế đứng tại chỗ của họ; các Lêvit với các nhạc khí thờ Yavê, (đàn) vua Đavit đã chế tạo để cảm tạ Yavê: “Vì ơn Người miên man vại đại”khi Đavit dùng (đàn) mà dâng lời ngợi khen. Đối diện với họ, các tư tế thổi loa, và toàn thể Israel đứng chầu.
           7Salômon đã tác thánh khoảng giữa Tiền đình trước Nhà Yavê. Ở đó ông đã dâng thượng hiến và dàn mỡ (lễ tế) kỳ an, vì tế đàn bằng đồng Salômon đã làm, không thể chứa nổi thượng hiến, đồ cúng và dàn mỡ (lễ tế). 8Salômon đã mừng đại lễ vào dịp ấy bảy ngày, và cùng với ông có toàn thể dân Israel, một đại hội rất mực lớn lao, từ đường vào Khamat đến khe Aicập về. 9Ngày thứ tám họ mừng lễ bế mạc, vì người ta mừng lễ khánh thành tế đàn bảy ngày, và đại lễ bảy ngày. 10Ngày hai mươi ba tháng bảy, ông giải tán dân (cho họ) về lều của họ, vui mừng, lòng hớn hở vì phúc lành Yavê đã làm cho Đavit, cho Salômon và Israel dân của Người.

Yavê nhậm lời khẩn nguyện
           11Salômon đã hoàn thành Nhà của Yavê và nhà của vua; và Salômon đã đạt được như ý mọi điều lòng ông mong muốn  thực hiện cho Nhà Yavê và nhà của ông. 12Yavê đã hiện ra cho Salômon ban đêm và Người đã phán với ông: “Ta đã nghe lời ngươi khẩn nguyện và Ta đã chọn nơi này làm Nhà tế lễ cho Ta. 13Nếu Ta đóng trời nếu không có mưa; Nếu Ta truyền cho châu chấu phá hại xứ; nếu Ta sai ôn dịch đến trong dân Ta; 14Nếu dân Ta, dân được gọi bởi Danh ta, quì gối khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta cùng bỏ đang dữ của chúng mà trở lại, thì Ta, từ trời Ta sẽ nghe, Ta sẽ tha thứ tội lỗi chúng và chữa lành xứ sở chúng, 15Bấy giờ mắt ta rộng mở và tai Ta  lắng nghe lời khấn nguyện dâng ở chốn này. 16Bấy giờ Ta chọn lấy và hiến thánh Nhà này lam nơi Danh Ta ở mãi mãi; mắt Ta và lòng Ta sẽ có ở đó mọi ngày. 17Còn ngươi, nếu ngươi đi trước nhan Ta như Đavit cha ngươi đã đi, mà thi hành đúng theo mọi điều Ta truyền, và giữ luật điều, phán quyết của Ta, 18thì Ta sẽ bảo tồn ngai vương quyền của ngươi, như Ta đã cam kết vơi Đavit cha ngươi, rằng dòng họ ngươi sẽ không hết người thống trị Israel. 19Còn nếu các ngươi tráo trờ mà bỏ luật điều và lịnh truyền Ta đã đặt trước mặt các ngươi, và đi phụng sự các thần khác mà thờ lạy chúng, 20Ta sẽ bứng các ngươi khỏi thửa đất của Ta, mà Ta đã ban cho các ngươi và Nhà này, Ta đã hiến thánh cho Danh Ta, Ta sẽ vất xa khỏi nhan Ta, và Ta sẽ cho nó thành câu chửi bóng  và châm biếm giữa các dân hết thảy.21Và Nhà này, dầu đã là cao vọi, sẽ thành phế tích, mọi kẻ ngang qua phải sửng sốt mà nói: “vì đâu Yavê đã xử với xứ này và Nhà này như thế?” 22Và người ta sẽ nói: “Ấy là chúng bỏ  Yavê Thiên Chúa của cha ông chúng, Đấng đã đem chúng ra khỏi đất Aicập; và chúng đã khắn khít với thần khác; chúng đã thờ lạy và phụng sự các thần ấy; vì thế cho nên (Yavê) kéo xuống trên chúng tất cả các tai họa này!”.

Hoàn tất các công trình xây cất
            8. 1Sau hai mươi năm– khoản thời gian Salômon đã xây Nhà của Yavê và nhà của ông– 2Salômon đã xây lại các thành Khuram đã tặng cho Salômon, và ông đã định cư con cái Israel trong các thành ấy. 3Salômon đã trảy đi Khamat-Xôbah, và đã làm bá chủ vùng ấy. 4Ông đã xây lại Tađmor trong sa mạc và tất cả các thành thương khố ông đã xây lại trong vùng Khamat. 5Ông đã xây lại Bet Khôrôn hạ và Bet-Khôrôn-thượng, những thành quách tường cao, cổng đóng then cài, 6và Balaat, cùng tất cả các thành thương khố thuộc về Salômon, các thành trữ xe trận, các thành chứa ngựa, (tóm lại) tất cả những gì Salômon hứng thích xây cất ở Yêrusalem  và ở Liban, và trong toàn lãnh địa của ông.

Tổ chức khổ dịch
           7Tất cả dân chúng còn sót lại thuộc (các dân) Hit-tit, Amori, Phơrizi, Khiuvi và Yơbusi, những người không thuộc Israel, 8con cái họ, những kẻ còn sót lại sau họ trong xứ và con cái Israel không tận diệt, thì Salômon cho sung vào khổ dịch cho đến ngày nay. 9Còn trong hàng con cái Israel, Salômon không bắt làm nô lệ trong công việc của ông, vì họ là chiến binh, quan kị mã, quan cai xe trận, và cai chiến mã của ông. 10Đây là (số) những quan chức các tổng trấn của vua Salômon đã đặt: hai trăm năm mươi người có quyền trên dân.
           11Salômon cho công chúa Pharaô, rời khỏi thành của Đavit mà lên nhà ông đã xây cho nàng, vì ông nói: “Không phụ nữ nào được ở với ta trong nhà của Đavit vua Israel, vì đó là những nơi thánh, những nơi khám của Yavê đã đến”

Phụng vụ thời Salômon
           12Bấy giờ Salômon thường thượng tiến lễ thượng hiến cho Yavê trên tế đàn của Yavê, ông đã xây trước tiền đường; 13mỗi ngày theo lệ mỗi ngày, ông thượng tiến theo lịnh truyền của Môsê cho các hưu lễ, các ngày sóc, các lễ bái, và ba lần mỗi năm vào lễ Bánh không men, lễ các Tuần và lễ Nhà tạm. 14Ông theo qui định Đavit cha ông đã ra, mà cắt đặt các ban tư tế phụng sự; các Lêvít vào chức vụ để xướng vịnh và hành sự trước mặt các tư tế, ngày nào việc ấy; các người giữ theo ban của mỗi cửa, vì đó là lịnh truyền của Đavit, người của Thiên Chúa. 15Và người ta đã không sai lịnh của vua về hàng tư tế và Lêvit, trong bất cứ điều gì, kể cả các kho trữ. 16Như thế mọi công việc Salômon làm đã hoàn tất, từ ngày đặt móng nhà Yavê cho đến lúc hoàn thành. Nhà Yavê đã nên hoàn hảo.
           17Bấy giờ Salômon trẩy đi Exiôn-Gêber và Eâlat, trên bờ biển trong đất Eâđom. 18Khuram nhờ tay tôi tớ gửi đến cho ông, đoàn tàu cũng những tôi tớ thạo nghề biển. Và họ đã đi Ophir làm một tôi tớ của Salômon và cất ở đó bồn trăm năm mươi tạ vàng mà đem về cho Salômon .

Vinh quang của Salômon
           9. 1Nữ hoàng Saba nghe đồn về Salômon thì đã đến ra câu đố để thử tài ông, ở Yêrusalem, với quân hầu hào hoa quá thể, đàn lạc đà tải hương trầm, và vàng nhiều khối, cùng với ngọc quí. Bà đã đến vơi Salômon và đã nói với ông tất cả những gì bà đã tính toán trong lòng. 2Salômon đã giải cho bà tất cả những gì bà đã thỉnh vấn; không có điều nào là ẩn khuất đối với Salômon khiến ông không giải được cho bà. 3Khi nữ hoàng thấy sự khôn ngoan của Salômon và nhà cửa ông đã xây, 4thịnh soạn nơi bàn ông, chỗ ở của triều thần, hàng ngũ quân hầu, và y phục của họ, những quan chước tửu của ông và y phục của họ, tầng cấp để ông lên Nhà Yavê, thì bà mất hơi cấm khẩu. 5Rồi bà nói với vua: “Quả là sự thật điều tôi đã nghe khi ở quê nhà về các chuyện của ngài và về sự khôn ngoan của Ngài. 6Tôi đã không muốn tin lời của thiên hạ, mãi cho đến khi tôi đến tận nơi và thấy tận mắt: thì này người ta đã không thuật lại được một nửa về sự khôn ngoan lớn lao của ngài. Ngài trổi vượt xa lời đồn thổi tôi đã nghe. 7Phúc thay gia nhân của ngài và tôi tớ của ngài đây, những người hằng chầu chực trước mặt ngài và được nghe sự khôn ngoan của ngài. 8Chúc tụng Yavê Thiên Chúa của ngài, Đấng đã đem lòng sùng mộ ngài, mà đặt ngài trên ngài của Người mà làm vua thay cho Yavê Thiên Chúa của ngài. Bởi vì Thiên Chúa của ngài yêu mến Israel và muốn cho Israel vững bền mãi mãi, Người đã đặt ngài làm vua trên họ để thi hành công minh chính đức”. 9Bà đã dâng cho vua một trăm hai mươi tạ vàng, và hương trầm nhiều quá đỗi cùng với ngọc quí. Không có hương trầm sánh được vơi thứ nữ hoàng Saba đã dâng cho vua Salômon. 10Các tôi tớ của Khuram và tôi tớ của Salômon, những người đi đem vàng từ Ophir về, cũng đã đem về gỗ đàn hương và ngọc quí. 11Vua Salômon đã dùng gỗ đàn hương làm sàn cho nhà của Yavê và nhà của vua; và làm các thứ đàn cầm, đàn sắt cho ban nhạc. Người ta không hề thấy như thế trước kia trong xứ Yuđa. 12Vua Salômon đã tặng nữ hoàng Saba mọi điều bà đã tỏ bày ước nguyện, không kể những gì (đáp lại điều) bà đã dâng cho vua. Đoạn bà đã quay về, lên đường hồi hương, bà và đám thủ hạ của bà.

Sự sang trọng của Salômon
           13Số lượng vàng thu vào cho Salômon nội một năm là sáu trăm sáu mươi sáu tạ vàng, 14khôn kể thuế mà các lữ khách và thương gia phải nộp; và các vua Arập và các thống đốc trong xứ đều đem dâng bạc vàng cho Salômon. 15Vua Salômon làm hai trăm lá chắn bằng vàng luyện, người ta đã nạm sáu trăm (seqel) vàng luyện trên mỗi lá chắn; 16và ba trăm chiếc thuẫn vàng luyện, người ta đã nạm ba trăm (seqel) vàng trên mỗi chiếc thuẫn. Vua đã đặt tất cả trong nhà rừng Liban. 17Vua đã làm một ngai lớn bằng ngà và dát vàng ròng. 18Ngai có sáu cấp, ngai có bệ vàng, ở đằng sau; hai bên chỗ ngồi thì có tay vịn; hai con sư tử đứng bên cạnh tay vịn, 19và mười hai con sư tử đứng hai bên trên các cấp. Trong các nước hết thảy, không thấy đâu làm như vậy.
           20Các đồ dùng để uống của Salômon hết thảy đều bằng vàng; tất cả các đồ vật nơi nhà rừng Liban, cũng đều bằng vàng y. Vào thời Salômon, bạc không đáng gì cả. 21Là vì vua có những tàu trẩy đi Tarsis với tôi tớ của Khuram. Và ba năm một lần, những tàu Tarsis đi chở vàng, bạc, ngà voi, khỉ, vượn.
           22Vua Salômon trổi hơn hết các vua thiên hạ về sự giàu sang và khôn ngoan. 23Tất cả các vua thiên hạ tìm cho được giáp mặt Salômon để nghe sự khôn ngoan của ông, điều Thiên Chúa đã phú cho long ông. 24Mỗi người đem quà biếu: đồ bạc, đồ vàng, trang phục, giáp binh, hương trầm, ngựa, la, năm nào vật ấy.
           25Salômon có bốn ngàn tàu ngựa và xe trận, và mười hai ngàn con ngựa; ông dồn chứa trong các thành để xe, và gần bên vua, ở Yêrusalem.
           26Ông có quyền thống trị trên hết các vua từ sông Cả, đến đất Philitin và đến bờ cõi Aicập. 27Vua chất bạc ở Yêrusalem như đá sỏi; và bá hương, ông chất nhiều như sung trong vùng Hạ ban. 28Người ta nhập khẩu ngựa cho Salômon từ Aicập  và tất cả các xứ.

Salômon qua đời
           29Còn các việc khác của Salômon từ đầu chí cuối, lại đã không chép trong sự ngiệp của Natan tiên tri, trong lời tiên tri của Akhiya người Silô, trong thị kiến của Yêđô, thầy chiêm về Yơrôbôam con của Nơbat đó sao? 30Salômon trị vì ở Yêrusalem trên toàn thể Israel bốn mươi năm. 31Salômon đã yên nghỉ với tổ tiên và người ta đã tống táng ông trong thành Đavit cha ông; và Rôbôam con ông đã làm vua kế vị ông.

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí