Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Những khó khăn về mặt xã hội (Nê 5,1 - 8,18)

Những khó khăn về mặt xã hội
                5. 1Xảy có lời lê dân và vợ họ, ta thán não ruột về anh em họ, những người Dothái. 2Có người nói: “Con trai, con gái chúng tôi,chúng tôi phải bán đợ để có lúa ăn mà sống!” 3Lại có những kẻ nói: “Chúng tôi phải bán đợ ruộng đất, vườn nho, nhà cửa để có lúa trong thời đói kém”. 4Cũng có những người nói: “Chúng tôi phải cầm thế ruộng đất vườn nho (để) vay bạc nộp thuế cho vua, 5dẫu rằng chúng tôi (xương) thịt như anh em chúng tôi; con cái chúng tôi có khác gì con cái họ; thế mà kìa chúng tôi phãi bắt con trai con gái chúng tôi làm nô lệ; và con gái chúng tôi có đứa bị hiếp đáp mà chúng tôi đành chịu bó tay, và ruôïng đất vườn nho của chúng tôi thì thuộc về người khác”.
               6Tôi rất lấy làm phẫn uất khi nghe họ ta thán và (nghe) các lời ấy. 7Xảy những lo nghĩ, tôi đã quở mắng các thân hào và hàng chức trách, tôi bảo họ: “các ông đã chất những gánh nặng cho nhau, cho những anh em của các ông!” Đoạn tôi đã triệu tập đại hội. 8Tôi nói với họ: “Chúng tôi đã phải mua chuộc anh em chùng tôi, những người Dothái bị bán cho dân ngoại; còn các ông, các ông đi bán anh em các ông và họ lại bị bán lại cho chúng tôi!” Họ đã làm thinh, không kiếm ra được một lời (đáp lại). 9Tôi lại nói: “Không hay điều gì các ông đã làm đó. Há các ông lại không phải đi trong sự kính sợ Thiên Chúa của chúng ta để tránh lời sỉ mạ của các dân ngoại thù ghét ta sao? 10Cả tôi và anh em tôi cùng binh tráng của tôi, chúng tôi đã cho họ vay bạc và lúa.Vậy chúng ta hãy tha món nợ đó! 11Ngay hôm nay, các ông hãy hoàn lại cho họ ruộng đất, vườn nho, vườn dầu và nhà cửa của họ, và tha cho họ món nợ bạc, lúa, rượu, dầu các ông đã cho họ vay”. 12Họ đã nói: “Chúng tôi xin hoàn lại và không đòi gì sốt; chúng tôi sẽ làm theo điều ông vừa nói”. Tôi liền cho gọi các tư tế đến và bắt họ thề phải làm như lời họ nói. 13Tôi cũng đã rũ vạt áo mà nói: “Thiên Chúa sẽ rũ thế này bất cứ người nào không giữ lời thề, (cho tang hoang) nhà cửa công lao nó! Cũng như thế này, nó sẽ bị rũ sạch, trống không!” và toàn thể đại hội thưa “Amen!” Đoạn người ta ngợi khen Yavê. Và dân đã thi hành theo lời đã nói.
              14Hơn nữa, từ ngày tôi được lệnh làm tổng trần trong xứ Yuđa – từ hai mươi đến năm ba mươi hai đời vua Artaxerxes, trong vòng mười hai năm, tôi và anh em tôi không ăn lương bổng tổng trấn. 15Những tổng trấn trước tôi đã áp bức dân, mỗi ngày lấy bánh rượu, bốn mươi seqel bạc; đinh tráng của họ lộng hành trên dân. Tôi đã không làm thế vì lòng kính sợ Thiên Chúa.
               16Tôi cũng đã tra tay vào việc tu bổ tường thành; ruộng đất tôi không tậu, và tất cả các lính tráng của tôi đều có mặt ở đây mà làm việc.
               17Các thân hào và hàng chức trách nơi bàn tôi là một trăm năm mươi người, lại thêm những người từ các dân xung quanh đến. 18Và những gì phải hạ mỗi ngày – một con bò, sáu cừu chọn lọc, với gà vịt – tôi đều đại thọ; và cứ mười ngày, (thêm) những vò rượu đầy dư dật. Dẫu thế, tôi cũng không đòi lương bổng tổng trấn, vì việc phục dịch đã nặng rồi trên dân này.
                19Xin nhớ đến tôi, lạy Thiên Chúa của tôi, mà giáng phúc cho tôi, cho tôi được phúc mọi điều tôi đã làm cho dân này.

Những âm mưu của địch thù
Hoàn tất tường thành
                6. 1Khi Sanballat và Tôbiya cùng Gêshem người Ảrập và những kẻ thù khác của chúng tôi nghe biết là tôi đã xây tường thành và không còn lỗ hổng nào nơi tường thành nữa – đến bây giờ tôi vẫn không lắp cánh cửa nơi các cổng - 2Sanballat và Gêshem sai người đến với tôi mà rằng: “Đến! Ta hãy gặp nhau ở Kơphirim trong cánh đồng Onô”. Nhưng chúng mưu chước hại tôi. 3Tôi đã sai sứ đến với chúng mà rằng: “Tôi đang bận việc quan trọng nên không thể xuống được. Làm sao để công việc dựng lại, khi tôi bỏ dở mà xuống nơi các ông?” 4Chúng gửi đến cho tôi bốn lần cùng một lời mời ấy và tôi đã trả lời họ y như trên. 5Sanballat gửi đến tôi lần thứ năm cũng lời mời ấy với một đinh tráng cầm tay một phong thư bỏ ngỏ. 6Trong thư có viết: “Người ta nghe đồn trong các dân tộc – và Gashmu có thể nói – là ông và người Dothái tính làm loạn vì thế mới xây tường thành; còn ông, ông sẽ làm vua họ, cũng theo những tin đồn ấy, 7ông cũng đã cử những tiên tri phải rao giảng về ông ở Yêrusalem: Có vua ở Yuđa. Và bây giờ các tin đồn ấy sẽ được loan báo cho Đức Vua. Vây giờ ông hãy đến để chúng ta bàn bạc với nhau”. 8Tôi đã sai người đến với hắn mà rằng: “không hề có điều gì như lời ông nói đó, chính ông tự ý bịa ra thôi!” 9Quả thế hết thảy chúng muốn làm cho chúng tôi khiếp sợ, tưởng rằng: “Tay họ sẽ buông lơi công việc và việc sẽ không thành”. Trái lại, tôi càng phấn chấn mạnh tay.
              10(Ngày nọ) tôi đến nhà của Shơmayah, con của Đơlayah, con cùa Mơhêtabơel, vì hắn bị ngăn trở( (không đến được). Hắn nói :
“Cùng nhau ta phó hội nơi nhà Thiên Chúa,
tận bên trong Đền thờ,
và ta hãy đóng chặt cánh cửa Đền thờ,
vì chúng sẽ đến giết ông,
đêm nay chúng sẽ đến giết ông”.
               11Nhưng tôi nói: “Một người như tôi lại chạy trốn sao? Và ai như tôi lại vào Đền thờ để thoát mạng? Tôi không vào!” 12Và tôi đã nghiệm ra là không phải Thiên Chúa đã sai hắn: trái lại, hắn có nói tiên tri, ấy chẳng qua là Tôbiya và Sanballat đã mua chuộc hắn. 13Hắn bị mua chuộc để làm gì? Để làm tôi khiếp sợ mà làm như họ muốn và phạm tội, rồi tôi bị xấu tiếng để chúng nhục mạ tôi. 14Lạy Thiên Chúa của tôi, xin hãy nhớ, đến Tôbiya và Sanballat, chiếu theo các hành vi này của chúng, và cả Nôađyah nữ tiên tri cùng các tiên tri khác, những kẻ đã muốn làm tôi khiếp sợ.
               15Tường thành đã xong xuôi ngày hai mươi lăm tháng Êlul, Trong vòng năm mươi hai ngày. 16Khi tất cả các quân thù của chúng tôi nghe tin và các dân tộc xung quanh thấy thế, Thì thật là một sự cả thể trước mắt chúng .Chúng nhận biết là do bởi Thiên Chúa mà công việc ấy đã thành sự được.
              17Cũng trong những ngày ấy, hàng thân hào với Yuđa đã thư từ đi lại với Tôbiya và thư của Tôbiya cũng đến với họ; 18vì có nhiều người ở Yuđa về phe với hắn, bởi hắn là rể của Shơkanyah, con của Ara, và Yơhôkhannan con hắn, đã cưới con gái của Mơshullam, con của Bêrêkyah. 19Họ dám nói tốt về hắn trước mặt tôi và mách cho hắn các lời lẽ của tôi. Tôbiya đã gửi thư làm tôi khiếp sợ.
                7. 1Khi tường thành đã xây rồi,và tôi đã dựng cánh cổng, thì các người canh cổng nhậm chức, 2và tôi đặt cai Yêrusalem: Khanani anh (em) tôi, và khananyah: viên trưởng thành trì, vì ông thật là người trung tín và kính sợ Thiên Chúa hơn lắm người khác. 3Và tôi bảo họ: “Các cổng thành Yêrusalem không được mở trước khi mặt trời đã nóng; và phải đóng lại và cài then khi mặt trời còn cao. Phải lấy dân cư Yêrusalem mà đặt những Phiên canh, người thì nơi trạm canh, người thì đằng trước nhà mình”.

Tái lập cư Yêrusalem
               4Thành rộng thênh thang và lớn thật, nhưng bên trong dân lại ít, không có mấy nhà đã tái thiết. 5Thiên Chúa đã giục long tôi triệu tập lại các thân hào, hàng chức trách và dân chúng để kê sổ bộ. Tôi đã tìm thấy danh sách người hồi hương buổi đầu, và tôi thấy ghi trong ấy thế này :
Danh sách những người hồi hương đầu tiên
                6Đây là những người trong hạt đã từ chốn lưu đày hồi hương- những người, Nabukôđônôsor vua Babel đã bắt đi đày - và họ đã trở về Yêrusalem và Yuđa, ai về thành nấy. 7Những người đến với Zôrôbabel, Yôsua, Nêhêmya, Azaryah, Raamyah, Nakhanami, Morđô-kai, Bilsan, Mispêret, Bigvai, Nơkhum, Baanah.
                Số những người thuộc dân Israel: 8con cái của Parơosh: hai ngàn một trăm bảy mươi hai; 9con cái của Shơphâtyh: ba trăm bảy mươi hai; 10con cái của Arakh: sáu trăm năm mươi hai; 11con cái của Pakhat- moab (tức là) con cái của Yôsua và Yôab: hai ngàn tám trăm mười tám; 12con cái của Êlam: một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 13con cái của Zattu: tám trăm bốn mươi lăm; 14con cái của Zakkai: bảy trăm sáu mươi; 15con cái của Binnui: sáu trăm bốn mươi tám; 16con cái Bêbai: sáu trăm hai mươi tám; 17con cái của Azgađ: hai ngàn hai trăm ba mươi hai; 18con cái của Ađoniqam: sáu trăm sáu mươi bảy; 19con cái của Bigvai: hai ngàn lẻ sáu mươi bảy; 20con cái của Ađin: sáu trăm năm mươi lăm; 21con cái của Ater thuộc Hizqiyah: chín mươi tám; 22con cái của Khashum: ba trăm hai mươi tám; 23con cái của Bexai: ba trăm hai mươi bốn; 24con cái của Khariph: một trăm mười hai; 25con cái của Gabaôn: chín mươi lăm; 26người Bêlem và Nơtôphah: một trăm tám mươi tám; 27người Anatôt: một trăm hai mươi tám; 28Người BetAzmavet: bốn mươi hai; 29người Qiriat-Yơarim, Kơphinrah, Bơêrôt: bảy trăm bốn mươi ba; 30người Ramah và Ghêba: sáu trăm hai mươi mốt; 31người Mikmas: một trăm hai mươi hai; 32người Bêthel và Hai: một trăm hai mươi ba; 33người Nơbô-Akher: năm mươi hai; 34con cái của Êlam Akher: một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 35con cái của Kharim: ba trăm hai mươi; 36con cái của Yêrikho: ba trăm bốn mươi lăm; 37con cái của Lođ, Khađiđ và Ônô: bảy trăm hai mươi mốt; 38con cái của Sơnaah: ba ngàn chín trăm ba mươi.
                39Các tư tế: con cái của Yơđayah, thuộc nhà Yôsua: chín trăm bảy mươi ba; 40con cái Immer: một ngàn lẻ năm mươi hai; 41con cái Pashơkhur: một ngàn hai trăm bốn mươi bảy; 42con cái Kharim: một ngàn lẻ mười bảy.
               43Các Lêvit: con cái của Yôsua, thuộc (họ) Qađmiel, thuộc con cái Hôđvah: bảy mươi bốn.
               44Các ca sĩ: con cái Asaph: một trăm bốn mươi tám.
               45Các người giữ cửa: con cái Sallum, con cái Ater, con cái Talmon, con cái Aqqub, con cái Khatita, con cái Shobai: một trăm ba mươi tám.
               46Các người hiến thân: con cái Xikha, con cái Khasupha, con cái Tabbaôt, 47con cái Qêros, con cái Sia, 48con cái Phađôn, con cái Lơbanah, con cái Khagabah, con cái Shalmai, 49con cái Khanan, con cái Ghiđđel, con cái Gakhar, 50con cái Rơayah, con cái Rơxin, con cái Nơgôđa, 51con cái Gazzam, con cái Uzza, con cái Pasêakh, 52con cái Bêsai, con cái Mơunim, con cái Nơphisim, 53con cái Baqbuq, con cái Khaqupha, con cái Kharkhur, 54con cái Balit, con cái Mơkhiđa, con cái Kharsha, 55con cái Barqôs, con cái Sisơra, con cái Tamakh, 56con cái Nơxiakh, con cái Khatipha.
              57Con cái những nô lệ của Salômon: con cái Sôtai, con cái Sôphêret, con cái Pơriđa, 58con cái Yaala, con cái Đarqôn, con cái Ghiđđel, 59con cái Shơphatyah, con cái Khattil, con cái Pôkêret Haxơpaim, con cái Amôn. 60Tổng số những người “hiến thân” và con cái nô lệ của Salômon: ba trăm chín mươi hai.
              61Và đây là những người hồi hương từ Tel-Mêlakh, Tel-Kharsha, Kơrub, Âđôn và Immer, nhưng không thể khai gia tộc và dòng giống họ,(cho biết) có thuộc Israel hay không: 62con cái Đơlayah, con cái Tôbiya, con cái Nơgôđa: sáu trăm bốn mươi hai. 63Thuộc hàng tư tế: con cái Khôbayah, con cái Haqqôs, con cái Barzillai, người đã cưới vợ trong các con gái của Barzillai, người Galaađ, nên đã mang tên của họ. 64Các người này đã tra tầm sách gia phả của họ nhưng không gặp thấy gì, nên đã bị cất chức tư tế, 65và quan trấn bảo họ không được ăn của cực thánh, cho đến khi nào vị tư tế chỗi dậy thỉnh Urim và Tummim.
               66Tất cả đại hội cộng chung là bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi hai người, 67không kể tớ trai, tớ gái của họ, có đến bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy người, và hai trăm bốn mươi lăm ca công, nam nữ. 68Lạc đà: bốn trăm ba mươi lăm (con), lừa: sáu ngàn bảy trăm hai mươi (con).
               69Và một phần trong các trưởng tộc đã dâng cúng cho công tác. Quan trấn dâng vào quỹ một ngàn quan tiền vàng, năm mươi quán tôn, năm trăm ba mươi bọ y phục tư tế. 70Một số trưởng tộc dâng cúng cho quỹ công tác hai mươi ngàn quan tiền vàng và hai ngàn hai trăm cân bạc. 71Và cua dân chúng còn lại dâng cúng là hai mươi ngàn quan tiền vàng, và hai ngàn cân bạc cùng sáu mươi bảy bộ y phục tư tế.
                72Các tư tế, và Lêvit, giữ cửa và ca sĩ, và một số dân chúng, cùng những người hiến thân và toán thể Israel đã lập cư trong các thành của họ.
                72bTới tháng bảy – và con cái Israel đang ở trong các thành của họ.
                8. 1Thì toàn dân tụ họp cả lại như một người, nơi sân rộng (công trường) trước Cổng Nước. Họ yêu cầu Ezra, viên ký lục đem lại sách luật Môsê, (luật) Yavê đã truyền dạy cho Israel. 2Tư tế Ezra đem luật đến trước đại hội (gồm có) đàn ông và cả đàn bà, cùng tất cả những ai đã khôn lớn có thể nghe hiểu được – ngày mồng một tháng bảy. 3Và ông đã đọc sách nơi sân rộng trước cổng Nước, tù sáng cho đến trưa, trước mặt đàn ông, đàn bà và những kẻ khôn lớn. Toàn dân lắng tai (nghe) sách Luật.
                4Ezra viên ký lục, đứng trên cái bục bằng gỗ người ta đã dựng trong dịp này. Và đứng bên ông, bên hữu thì có Matityah, Shêma, Anayah, Uriya, Khilqiyah, Maasêyah; và bên tả có: Pơđayah, Mishael, Malkiyah, Khashum, Khashbađđanah, Zakaryah, Mơshullam. 5Ezra giởû sách trước mắt toàn dân - vì ông ở bên trên, đối với toàn dân – khi ông giở sách, toàn dân đứng dậy. 6Ezra chúc tụng Yavê Thiên Chúa lớn lao, và toàn dân giang tay lên đáp lại: “Amen, Amen!” đoạn khấu đầu thờ lạy, mặt sát đất. (7Yôsua, Bani, Shêrêbyah, yamin, Aqqub, Shabtai, Hôđiyah, Massêyah, Qơlita, Azaryah, Yôzabađ, khanan, pơlayahtức là) những lêvit giải thích Luật cho dân, trong khi dân ở yên tại chỗ. 8Ông đọc, trong sách luật của Thiên Chúa, (vừa đọc vừa) cắt nghĩa để hội ra ý: (nhờ vậy) người ta hiểu được bài đọc.
               9Nêhêmya, tức là quan trấn và tư tế Ezra, viên ký lục và các Lêvít giải thích cho dân chúng, nói với toàn dân: “Hôm nay là ngày tháng dâng cho Yavê Thiên Chúa của các người; các người đừng ưu phiền khóc lóc!” Vì chưng toàn dân đã khóc lên khi nghe các lời Lề luật. 10Ông bảo họ: “Hãy đi ăn uống cao lương mỹ vỵ và gửi phần cho những ai không dọn sẵn, bởi vì hôm nay là ngày tháng dâng cho chúa chúng ta. Đừng có âu sầu, vì niềm hoan vui nơi Yavê là đồn lũy của các ngươi”. 11Và các Lêvit lo phủ dụ toàn dân mà rằng: “Nín đi! vì hôm nay là ngày thánh, các người đừng âu sầu!” 12Bấy giờ toàn dân đi ăn uống và gửi phần, và tưng bừng liên hoan vì họ đã hiểu các lời lẽ người ta thông tri cho họ.
               13Ngày mồng hai, các trưởng tộc của toàn dân, các tư tế và Lêvit hội lại bên Ezra, viên ký lục, để chăm chú học các lời Lề luật. 14Họ gặp thấy viết trong Lề luật Yavê đã truyền dạy ngang qua Môsê là: “Con cái Israel sẽ ở lều, trong Đại lễ tháng bảy” 15Chúng sẽ công bố và rao truyền trong tất cả các thành của chúng và ở Yêrusalem, mà rằng: “Các ngươi hãy lên núi và mang nhánh lá ô liu, ô liu dại, sim, chà là, cây cối sum sê, về làm lều, như đã viết”. 16Vậy dân đã đi ra mà đem về cùng dựng lều mỗi người trên mái nhà, nơi sân nhà họ, và sân Nhà của Thiên Chúa, nơi sân rộng Cổng Nước, và nơi sân rộng Cổng Ephraim. 17Toàn thể đại hội – những người từ chốn đày ải đã hồi hương – đã dựng lều và ở trong lều. Từ những ngày của Yôsua con của Nun cho đến ngày hôm ấy con cái Israel đã không làm như thế: Và người ta rất đỗi vui mừng.
               18Người ta đọc sách Luật của Thiên Chúa, từ ngày đầu đến ngày cuối. Người ta đã mừng Lễ bảy ngày, và ngày thứ tám, thì chiếu theo lệ, có lễ bế mạc.