Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Nhà Đavit - Các chi tộc miền Nam (1Ks 3,1 - 5,26)

                                      3–NHÀ ĐAVIT

Con cái Đavit 
           3. 1Đây là con cái Đavit, những người đã sinh ra cho ông ở Hêbrôn: Con đầu lòng Ammon do Akhinoam, người Yizrơel; con thứ là Đaniel, do Abigail, người Karmel, 2thứ ba Absalôm, con của Maakah, con của Talmai, vua Gêshur; thứ tư Ađônya, con của Khaggit, 3thứ năm Shơphatyah, do Abital, thứ sáu Yitrơam, do Êâgla vợ ông. 4Cả sáu đã sinh ra cho ông ở Hêbrôn, nơi ông làm vua bảy năm sáu tháng.
            Đoạn ông làm vua ba mươi ba năm ở Yêrusalem. 5Đây là những người đã sinh ra cho ông ở Yêrusalem: Shimơa, Shôbab, Natan, Salômon, cả bốn đều là con của Bat-Shua, con của Ammiel; 6rồi Yibkhar, Êâlishua, Êliphêlet, 7Nogah, Nêpheg, Yaphia, 8Êlishama, Êlyđa, ÊLiphêlet: chín người.
           9Đó là tất cả các con của Đavit, không kể con của các hầu thiếp, và Thamar là chị em của họ.

Các vua Yuđa
           10Con của Salômon: Rôbôam, Abiyah con ông, Asa con ông, Yơhôshaphat con ông, 11Yôram con ông, Ôkhôzya con ông, Yôas con ông. 12Amasya con ông, Azaryah con ông, Yôtam con ông, 13Akhaz con ông, Êzêkya con ông, Manassê con ông. 14Amon con ông, Yôsya con ông. 15Các con của Yôsya: con đầu lòng Yôkhanan, con thứ Yôyaqim, thứ ba Sêđêqya, thứ tư là Shallum: Yơkônyah. 16Các con của Yôyaqim: Yơkônyah con ông và Sêđê con ông.

Dòng họ Đavit sau lưu đày
            17Con cái của Yơkônyah, tù nhân, Shơaltiel con ông, 18Malki- ram, Pơđanyah, Shơnêaxar, Yơqamya, Hôshama, và Nơđabya. 19Con cái của Pơđayah: Zơrubbabel, Shimơi. Con cái của Zơrubbabel: Ở Babel, Mơshullam và Khanayah; và Shơlômit là chị em của họ. 20Con cái của Mơshullam: Khashubah, Ôhel, Bêrêkyah, Khasađyah, Yushab-Khêseđ: năm người. 21Con của Khananyah: Pơlatyah, Yớha- yah con ông; Arnan con ông; Obađyah con ông; Shơkanyah con ông. 22Con cái của Shơkanyah, Shơmayah, Khattush, Yigơal, Bariakh, Nơaryah, Shaphat: sáu (người). 23Con cái của Nôaryah: Êlyoenai, Khizqiyah, Azriqam: ba (người). 24Con cái của Êâlyoenai: Hôđayahu, Êâlyashib, Pơlayah, Aqqub, Yôkhanan, Đơlayah, Anani: bảy (người).

                             4– CÁC CHI TỘC MIỀN NAM

Yuđa. Shôbal
             4. 1Con cái Yuđa: Phares, Khesrôn, Karmi, Khur, Shôbal.
             2Rơayah, con của Shôbal đã sinh ra Yakhat; Yakhat đã sinh ra Akhumai và Lakhađ. Đó là các thị tộc của dân Xorơah.

Khur
             3Đây là con cái của Khareph, cha của Bet-Gađer… cha của Êtam, Yizrơel, Yishma, Yiđabash–tên người chị em của họ là Haslelponi.
             4Rồi Pơnuel, cha của Gơđor; Êâzer cha của Khushah: đó là con cái của Khur, con đầu lòng của Ephrata, tức là Bêlem.

Ashkhur
             5Ashkhur, cha của Tơqoa có hai vợ: Khơlơah và Naarah,
             6Naarah đã sinh ra cho ông: Akhuzam, Khêpher, dân Tênan, và dân Akhashar. Đó là con cái Naarah
             7Con cái của Khơlơah: Xêret, và Xôkhar, Etnan và Qos.
             8Qos đã sinh ra Anub, Xobơbah, và các thị tộc Akharkhel, con của Harum. 9Yabes được trọng vọng hơn các anh em. Mẹ ông đã gọi ông là Yabes mà rằng: “Aáy tôi phải đau đớn sinh con”. 10Yabes đã kêu lên cùng Thiên Chúa Israel, mà rằng: “nếu Người khấn chúc lành cho tôi và mở rộng bờ cõi tôi ra; nếu tay Người ở với tôi, ắt Người sẽ làm cho tôi thoát khỏi họa tai, không phải đau đớn”. Và Thiên Chúa đã xuống cho ông điều ông cầu xin.

Caleb 
            11Kơlup, con Shukhah, đã sinh ra Mơkhir, tức là cha của Eshtôn. 12Eshtôn đã sinh ra Bet-Rapha, Pasêakh, Tơkhinna, cha của thành Nakhash, anh của … người Qêni. Đó là những người thuộc Rêkab.
            13Con cái của Qơaz: Otniel và Sơrayah. Con cái của Otniel: Khatat, và Mơônôtai. 14Mơônôtai đã sinh ra Ophrah; và Sơrayah đã sinh ra Yôab, cha của Thung lũng thợ mộc, vì ở đó có thợ mộc.
            15Con cái của Caleb, con của Yơphunnê: Ir và Êâlah, cùng Naam. Con cái của Êlah… và Qơnaz.
            16Con cái của … Yơhallơlel và Ezrah. Con cái của Yơhallơlel: Ziph và Xiphah, Tirơya và Asarel.
            17Con cái của Ezrah: Yêter, Mêređ, Êpher và Yalon. Và đây là các con của Bityah, con gái của Pharaô, Mêređ đã cưới: Bà thụ thai (và sinh ra) Miriam, Shammai, Yishbah, cha của Estơmôa. 18Và người vợ gốc Yuđa của ông đã sinh ra Yêređ, cha của Gơđor, Khêber, cha của Sôkô; Yơqutiel cha của Zanôakh.
            19Con cái người vợ gốc Yuđa, em gái của Nakham cha của Qơila: Đơliyah, cha của… , và Shimmôn cha của Yôman. Và con cái của Nakham, cha của Qơila…, người Garmi, và Yishơi người Maakati.
            20Con cái của Shimmôn: Amnon, Rinna, Ben-Khanan, Tilon.
           Con cái của Yishơi: Zôkhet. Con của Zôkhet…

Con cái của Shêlah
            21Con cái của Shêlah, con của Yuđa: Er, cha Lêkah; Lađah, cha của Mareshah, và các chi tộc dệt lụa thuộc Bet-Ashbêa. 22Yôqim, và người Kôzêba, Yôash và Sarph, những người đã làm quan bên Moab và đã hồi hưu ở Bêlem–đó là những điều xưa rồi – 23… họ là thợ gốm, và lập cư ở Notaim, và Gơđêra, và Gơđêra; họ ở đó, bên vua, làm công cho vua.

Con cái Simêon
            24Con cái của Simêon: Nơmuel, Yamin, Yarib, Zêrakh, Shaul. 25Shallum con ông; Mibsam con ông; Mishma con ông. 26Con cái của Mishma: Khammuel con ông, Zakhur con ông, Shimơi con ông. 27Và Shimơi có mười sáu con trai và sáu con gái; nhưng các anh ông không được đông con, và tất cả các thị tộc của họ không đông bằng số con cái Yuđa.
            28Họ ở Bơer-Sêba, Môlađah và Khaxar-Shual, 29ở Billah, Êxem, và Tôlad; 30Bơtul, Khorma, Xiqlag; 31ở Bet-Markabôt, Khaxar-Susim, Bet-Birơi và Sharukhen: mười ba thành. – Đó là các thành của họ cho đền triều Đavit – 32với các thôn trại của họ: Êâtam, Hin, Rimmôn, Tôken, Ashan: năm thành, 33và tất cả các thôn trại của họ, xung quanh các thành ấy cho đến Baalat. Đó là những địa sở của họ và theo danh bộ của họ.
             34Mơshôbab, Yamlek, Yôshah, con của Amaxyah. 35Yôel, Yêhu, con của Yôshibyah, con của Sơrayah, con của Asiel, 36Elyôenai, Yaaqobah, Yơshôkhayah, Asya, Ađiel, Yơsimiel, Bơnayah, 37Ziza, con của Shiphơi, con của Allon, con của Yơđayah, con của Shimri, con của Shơmayah. 38Các người này, những người được kê theo danh tính của họ, đều là những vị vương công trong các thị tộc. Khi các gia tộc của họ đã bành trướng quá đông, 39thì họ tới đường vào Ghêrar, đến tận phía Đông thung lũng, để tìm đồng cỏ cho dê cừu của họ. 40Và họ đã gặp được đồng cỏ béo tốt. Đất rộng tứ phía, yên thắm và hiền hòa, vì dân cư ở đó bấy giờ thuộc dân Kham. – 41Vậy những người kia, những người đã đăng sổ theo danh tính của họ ấy, – đã đến vào thời Êzêkya, vua Yuđa, và đã đánh giết lều trại và gia cư chúng, và đã thần tru chúng đi, cho đến ngày nay; và đã lập cư thay chỗ chúng, vì ở đó có đồng cỏ cho dê cừu.
            42Trong số họ, trong nhóm con cái Simêon, có năm người đi đến núi Sêir, có Pơlatyah, Nơaryah, Rơphayah, Uzziel, con cái của Yishơi cầm đầu. 43Họ đã đánh giết những người Amalek đã thoát nạn và đã lập cư ở đó cho đến ngày nay.

                           5–CÁC CHI TỘC BÊN KIA YORĐAN
Con cái Ruben
            5. 1Con cái của Ruben, con đầu lòng của Israel. Đã hẳn (Ruben) là con đầu lòng; nhưng vì đã làm nhơ nhuốc giường cha, nên chúc lành dành cho ông đã được ban cho con cái Yuse, con của Israel.
           Nhưng (Yuse) không được ghi trong danh bộ là con đầu lòng. 2Vì Yuđa đã được ưu thế giữa các anh em, và tự đó đã xuất phát vị lãnh tụ, nên quyền trưởng nam đã thuộc về Yuđa chứ không thuộc về Yuse.
           3Con cái của Ruben, con đầu lòng của Israel: Hênok, Pallu, Khesrôn, và Karmi.
Con cái của Yôel
           4Con cái của Yoêl: Shơmayah con ông; Gog con ông; Shimơi con ông; 5Mikah con ông; Rơayah con ông; Baal con ông; 6Bơêrah con ông, mà Têglat-Phalasar, vua Assur đã bắt đi đày; ông là một vị vương công của nhóm Ruben.
           7Các anh em ông, theo mỗi thị tộc như đã ghi trong  danh bộ theo gia phả của họ: đầu hết là Yơiel, rồi đến Zacarya,  8Bêla, con của Azaz, con của Shêma, con của Yôel.
           Nhóm Ruben lập cư ở Aroer, và cho đến Nơbô và Baalmơrôn. 9Về hướng Đông, họ ở từ sông Phơrat tới giáp sa mạc, vì súc vật của họ đã tăng nhiều trong xứ Galaađ.
            10Vào thời Saul, họ đã giao chiến với dân Hagri, và dân này đã bị đánh bại dưới tay họ, và họ đã chiếm ở các lều trại của dân ấy, khắp vùng Galaađ về phía Đông.

Con cái Gađ
           11Con cái của Gađ lập cư đối diện với họ, trong đất Galaađ và đất Bashan cho đến Salkah. 12Yôel là đầu, Shapham là thứ, và Yanai thẩp phán ở Bashan ;
            13Và các anh em họ theo gia tộc của họ: Mikael, Mơshullam, Shêba, Yôrai, Yakan, Zia và Eâber: bảy (người).
           14Đây là con cái của Abikhail, con của Khuri, con của Yarôakh, con của Galaađ, con của Mikael, con của Yơshishai, con của Yakhđô, con của Buz. 15Akhi, con của Abđiel, con của Guni, là trưởng tộc của họ.
            16Họ lập cư ở Yabesh tại Galaađ và các thành phụ thuộc và trong tất cả các vùng đồng cỏ của Sharôn, cho đến mút cùng của chúng. 17Tất cả họ được ghi trong sổ bộ, vào thời Yôtam vua Yuđa, và Yơrôbôam, vua Israel.
            18Con cái Ruben, dân Gađ, và nửa chi tộc Manassê, gồm những binh dũng, những người mang thuẫn, cầm gươm, trương nỏ và  luyện tập đánh giặc: bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người đầu quân được, 19đã giao chiến với dân Hagri, Yơtur, Naphish, và Nôđab. 20Họ đã đáp cứu chống lại chúng; và dân Hagri cùng mọi người theo chúng đã bị phó nộp trong tay họ vì họ đã kêu lên Thiên Chúa trong lúc giao chiến và đã được nhậm lời, bởi họ đã trông cậy vào Người. 21Họ đã bắt lấy súc vật của chúng: lạc đà: năm mươi ngàn, dê cừu: hai trăm năm mươi ngàn, lừa: hai ngàn, và nhân mạng: một trăm ngàn, 22không kể nhiều người đã gục ngã tử trận. Vì trận chiến đã do Thiên Chúa hướng dẫn. Vậy họ đã lập cư thay chỗ chúng, cho đến thời Lưu đày.

Nửa chi tộc Manassê
                23Con cái của nửa chi tộc Manassê đã lập cư trong đất Bashan đến Baal-Khermôn, Sơnir và núi Khermôn.
           Họ đông người. 24Và đây là các trưởng tộc của họ: … và Êpher, Yishơi, ÊLiel, Yêrimya, Hôđavyah, Yakhđiel. Họ là những người anh dũng, có danh vọng, (và làm) trưởng tộc.
           25Nhưng họ đã lỗi đạo với Thiên Chúa của tổ tiên họ, và dở trò dâm bôn với thần các dân trong xứ, những dân Thiên Chúa đã tru diệt khỏi trước mặt họ. 26Nên Thiên Chúa Israel đã xúi Pul, vua Assur, và Têglat-Phalasar, vua Assur. Vua đã bắt đi đày các nhóm Ruben, Gađ và nửa chi tộc Manassê, và đưa họ đến Khalakh, Khabor, Khara, và sông Gôzan, cho đến ngày nay.