Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Lược sử thời các tiên tri

Lược sử thời các tiên tri
          Vì vai trò của các tiên tri quan trọng như thế đối với mạc khải Cựu Ước,  nên chúng ta khởi sự với các tiên tri, những vị đã giảng giải và trước thuật trong vòng hai thế kỷ đi từ giữa thế kỷ thứ 8 đến giữa thế kỷ thứ 6, sớm muộn hơn vài chục năm.
          Vào giữa thế kỷ thứ 8, dân của Cựu Ước chia làm hai tiểu quốc, chủng tộc và ngôn ngữ tương đồng, chiếm khoảng giữa giải đất ngày nay gọi là Phalệtin: Nước phía Nam là Yuđa, có kinh đô là Yêrusalem. Nuớc phía Bắc được gọi lài Israel (cũng gọi là Ephraim) có kinh đô là Samari. Hai nuớn nhỏ bé, rất bé mà lại bị cái số phận trái độn cho hai cường quốc thời bấy giờ là Assur và Ai cập. Chính việc tranh hùng của hai cường quốc này đã làm bối cảnh cho tất cả bao thảm kịch mà hai nước Israel và Yuđa phải hứng chịu.
          Vào giũa thế kỷ thứ 8, tình thế Phalệtin nói được là khả quan. Dân chúng còn được an cư lạc nghiệp. Nước Israel phía Bắc, lúc bấy giờ, dưới triều vua Yơrôbôam II, được hưởng một thời thịnh vượng xa hoa hiếm có, nhờ vào ưu thế binh bị và giao dịch thương mại. Nước nhà tạm gọi là phú cường và văn kiến. Nhưng giàu sang thường sinh ra: Lủng củng và chênh lệnh bên trong, điều này sẽ dẫn tới cảnh cốt nhục tương tàn, và quốc gia tới ngày khánh tận. Đàng khác mối đe dọa từ phía Lưỡng-đà-địa đã ngày một nên cấp bách « Long xà vĩ đại » một kiểu tự xưng của vua Assur đã thanh toán tất cả những cản ngăn xung quang, và sắp thực hiện dự định bá chủ thiên hạ. Khi chính quyền Israel cảm thấy mối đe dọa, thì như thường tình, họ tìm cách chấn án, lật đật vá vúi bằng liên minh, rồi tổ chức kháng cự một cách tuyệt vọng, để rồi bị chà đạp, Israel mất dần đất đai, rồi kinh thành thất thủ và bị phá bình địa, một phần lớn dân chúng bị phát lưu và dân tứ phía chiếng khác đến chiếm cứ đất đai, theo chính sách đô hộ di dân phòng loạn của Assur. thế là Israel khánh tận.
          Cuộc xâm lăng tràn qua cả nước Yuđa. Sennakirib cho lịnh phong tỏa Yerusalem, sau khi đã hạ 46 thành của Yuđa và như Sennakirib thuật trên bia của ông «Ezêkia, người Yuđa ta đã nhốt nó lại như chim trong lồng ». Êâzêkia đã phải
nộp cống hiến nặng nề và bị xén đất đai. Nhưng trong một lần viễn chinh khác, Sennakirib. Cũng đã cho quân bủa vây Yerusalem. Lần này tình cảnh nguy kịch hơn trước. Vì một khi nước nào đã hàng mà lại dấy loạn, thì Assur không bao giờ dung thứ. Mọi sự đã hầu tuyệt vọng. Thì chính bấy giờ một điều bất ngờ xảy đến. Nhất đán binh đội Assur cuốn gói về nước! Tại sao? Sách Thánh dùng hình ảnh thông thường là Thần sứ Yavê đến tru diệt địch thù Israel. Theo sử địa Hilạp là Hêrôđôt, thì chuột đã ra gặm bao tên giây nỏ của những binh bắn cung của Assur. Ôn dịch? các sử gia ra ức thuyết. Xét đến tình Assur theo văn kiện, thì có lẽ Assur gần có giặc nội. Dù sao, Yuđa cũng bị một trận hú hồn. 
          Sau một thời gian tao loạn, thì đến thời Yôsya. Một vua lên ngôi khi mới tám tuổi!  Khi trưởng thành Yôsya tỏ ra là một ông vua minh mẫn, mạnh bạo. Quyền bính của ông được củng cố, và ông muốn thực hiện cái hoài bão của cả dân là thống nhất tất cả Israel mười hai họ. Trước hết ông đứng đầu một cuộc cải cách sâu rộng về tôn giáo, tập trung tư tế nơi Đền thờ duy nhất Yêrusalem. Nhưng thực ra, một nước bé nhỏ như Yuđa làm sao có thể đứng một mình, không bị lôi kéo vào chính cuộc giữa những nước lớn mạnh cạnh tranh nhau thời ấy. Và Yosya đã dũng cảm một cách nói là dại dột, đem binh ra hãm chân đạo binh Aicập và bị tử thương, để lại một nước làm chư hầu Aicập.
          Assur khánh tận. Nhưng lại một nước Lưỡng-hà-địa đã lâu năm lăm le thay chỗ rồi: Babylon với Nabukôđônôsor. Vua này là vua có tài năng, sáng suốt có tài thao lược, ưa kiến trúc. Cho mình như kế thừa đế quốc Assur, ông lanh tay đạt lại đất đai của Assur không  đầy 5 năm sau, Yuđa bị giựt khỏi tay Aicập, để làm chư hầu Babylon, con và cháu của Yôsya đều bất tài. (Yoakahaz. Yôyayim. Yôyakin. Seđêqya) chính trị luẩn quẩn khi xiêu qua phía Aicập, khi hàng Babylon trong nước năm bè bẩy mối. Những ngày tàn của triều đại Đavít đã đến. Seđêqya nhu nhược bỏ kinh đô chạy trốn, trong khi thành bị vây và bị đói, nhưng đã rơi vào tay quân địch. Yêrusalem bị hạ. Đền thờ bị phá thành lũy đều bị triệt hạ, và những hạng khá giả trong dân đều bị bắt đi lưu đày. Trong xứ, chỉ còn lại đám dân quê dốt nát, nghèo khó. Những người này cố sống qua ngày trên giải đất bị tàn phá gớm ghê. Nước Yuđa cũng đã khánh tận.
          Về những người bị bắt đi lưu đày. Thực sự nhóm người bị đày không bị hành hạ lắm. Babylon đã có văn minh, lại quen nghề giao thương. Những người thông minh và cần cù như Dothái chẳng bao lâu cũng lập được sinh hoạt bình thưòng, bề thế là đàng khác. Vào một hoàn cảnh như thế, sự đồng hóa là lẽ tất nhiên. Những người thuộc các nước xung quanh Israel chẳng bao lâu đã hòa lẫn với nhau làm dân đế quốc. Nhưng người Dothái không bị đồng hóa. Ngay sau khi vong quốc, một nhóm người ái quốc, nhưng nhất là sùng tín đã ra tay chuẩn bị cuộc phục hưng. Dẫu tương lai không có gì sáng sủa, họ đã tin dân họ còn một viễn tượng, họ đã kiên trì trong nỗ lực.
          Nửa thế kỷ sau, Babylon bị Batư thôn tính. Kyrô cầm vận mạng thiên hạ. Chính sách Batư cởi mở về tôn giáo: Mọi dân bị phát lưu đều được phép hồi hương và giữ đạo tổ tiên của mình. Người Dothái cũng được hưởng phép ấy. Một số người Dothái lên đường về nước, rồi dần dà nhiều nhóm khác theo sau :
          Trong vòng một thế kỷ rưỡi. Điều ấy cho ta thấy, hồi hương cũng là mối e ngại cho nhiều người. Và thực, tình cảnh người hồi hương chẳng có gì khích lệ. Nhưng cộng đoàn Dothái hồi hương đã kiện cường kiến tạo, trên cảnh thê lương một chế độ, nói được là một chế độ thần quyền, nhờ đó dân Dothái giữ vững và phát triển thêm những truyền thống của dân tộc họ, dưới quyền đô hộ khá nhân đạo của Đế quốc Batư.