Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Kẻ tù đày - Kẻ mù lòa (Tb 1,1 - 3,5)

Mở đầu
          1. 1Sách ngôn hành của Tôbit, con của Tobiel, con của Ananiel, con của Ađuel, con của Gabael, con của Raphael, con của Raguel, thuộc dòng giống Asiel chi tộc Neptali. 2Vào thời Ênêmessar vua Assur, (Tobit) đã bị dẫn đi làm tù binh từ Tisbê, tức là (thành) ở phía Nam Kyđios thuộc Neptali trong xứ Galilê thượng, bên trên Asser, về phía Tây, phía mặt trời lặn, và Bắc Phôgor.

                            I. KẺ BỊ ĐÀY
           3Tôi, Tôbit, tôi đã đi theo đường lối sự thật cùng làm các việc nghĩa mọi ngày đời tôi Tôi đã làm phúc bố thí nhiều cho anh em tôi và cho những người thuộc dân tộc tôi, đã cùng tôi bị đày qua Ninivê trong xứ Assur này. 4Khi tôi còn ở quê nhà, ở đất Israel, vào hồi tôi còn trẻ, tất cả chi tộc Neptali cha tôi, đã li khai với nhà Đavit cha tôi cùng với Yêrusalem, thành đã được chọn giữa các chi tộc Israel để làm nơi tế lễ cho tất cả các chi tộc Israel. Và tại đó, Đền thờ, chốn trấn ngự của Thiên Chúa đã được hiến thánh và xây cất cho tất cả mọi thế hệ mai sau. 5Tất cả các anh em tôi và nhà Neptali cha tôi, họ đều dâng lễ cho con bê mà Yơrôbôam, vua Israel đã làm ở Đan, trên mọi núi đồi Galilê.
           6Còn tôi, nhiều lần một mình, đi Yêrusalem vào các ngày lễ, như đã viết cho tất cả Israel làm lịnh truyền vĩnh viễn. Tôi trẩy đi Yêrusalem, mang theo tiên thường và các của đầu mùa, và thập phân về súc vật và lông chiên xén lần đầu tiên. 7Các vật ấy tôi trao cho các tư tế, con cái Aharôn để dâng lên tế đàn; và phần mười về lúa miến, rượu, dầu, lựu, vả và các trái trăng khác, tôi dâng cho con cái Lêvi, phục dịch ở Yêrusalem. Còn thập phân thứ hai thì tôi nộp bằng bạc sáu năm liền. Và mỗi năm tôi đi chi tiêu tại Yêrusalem. 8Tiền ấy tôi cho những kẻ mồ côi góa bụa, khách tha phương ngụ giữa con cái Israel. Năm thứ ba tôi đem cho họ và chúng tôi dùng nó mà ăn uống chiếu theo điều đã quy định về các sự ấy trong luật Môsê và ăn theo lịnh truyền của Đêbôrah, mẹ của Ananiel, ông tổ của chúng tôi; vì cha tôi đã chết (sớm) và để tôi mồ côi. 9Và khi tôi thành người, tôi đã lấy vợ, (người) thuộc họ hàng chúng tôi. Do nàng, tôi đã sinh được một trai và tôi gọi tên nó là Tôbya.
             10Đến khi bị bắt đi đày qua Assur, và khi tôi bị đày, tôi đã đi Ninivê. Tất cả anh em tôi và những người thuộc nòi giống tôi đều ăn bánh của các dân. 11Còn tôi, tôi đã giữ mình không ăn bánh của các dân. 12Và bởi tôi nhớ đến Thiên Chúa của tôi với hết cả hồn tôi. 13Thượng đế tối cao đã cho tôi được nghĩa, được duyên trước mặt Ênêmessar. Và tôi đã lo kinh doanh cho ông về mọi thứ ông cần. 14Và tôi đã trẩy đi Mêđi và kinh doanh cho ông, ở đó cho đến khi ông chết. Tôi đã ký gởi nơi Gabael, em của Gabri trong vùng Mêđi những hầu bao chứa mười tạ bạc.
          15Và khi Ênêmessar chết và Sennakêrib con ông lên làm vua thay ông, thì đường đi Mêđi đóng lại, tôi không thể đi Mêđi nữa. 16Vào những ngày Ênêmessar, tôi đã bố thí nhiều cho anh em tôi thuộc nòi giống tôi. 17Người đói, tôi đã cho bánh; kẻ mình trần, (tôi cho) áo xống, và nếu tôi thấy có người chết thuộc dân tộc tôi và thây bị quăng sau tường lũy Ninivê, tôi đã chôn cất. 18Và kẻ nào bị Sennakêrib giết – hồi ông phải Yuđê chạy về, trong những ngày Vua cả trên trời hạch tội ông vì những lời lộng ngôn ông đã phạm thượng, tôi cũng đã chôn cất. Quả thế, trong cơn lôi đình, ông đã giết nhiều người con cái Israel. Tôi đã trộm xác họ mà đem chôn cất. Sennakêrib tìm xác họ nhưng tìm không ra.
          19Có người Ninivê đi tố cáo với nhà vua là chính tôi đã chôn cất họ, nên tôi đã phải ẩn trốn. Khi thấy được là nhà vua đã biết việc tôi và tầm nã tôi để xử tử, tôi đã phát sợ mà trốn đi. 20Mọi sự tôi có, đều bị tước đoạt hết; không còn lại mảy may cái gì mà không bị xung vào kho vua, chỉ trừ có Anna vợ tôi và Tôbya con tôi. 21Nhưng không đầy bốn mươi ngày sau, hai con (vua) đã giết ông, rồi chúng trốn lên rặng núi Sakhađôn, con ông, đã lên làm vua thay ông. Vua đặt Akhikar con của Anael anh tôi, cai tất cả tài chánh của vương quốc, và có quyền hành trên tất cả hành chánh. 22Bây giờ Akhikar đã bàu chữa cho tôi và tôi đã xuống Ninivê lại. Vì Akhikar đã làm quan đại chước tửu, làm chưởng ấn, và làm thượng thư cai bộ lại, và bộ hộ dưới triều Sennakêrib, vua Assur và Sakhađđon đã đặt nó làm quan đệ nhị. Mà nó lại là thân thuộc của tôi, là cháu gọi tôi bằng chú.

                          II. KẺ MÙ LÒA
            2. 1Vậy dưới triều Sakhađđon, tôi đã xuống lại nhà tôi. Người ta đã trả lại cho tôi Anna, vợ tôi, với Tôbya, con tôi. Ngày lễ Năm mươi (Lễ các Tuần), tôi được một bữa trưa thịnh soạn, và tôi đã ngả mình xuống dùng bữa. 2Người ta đã dọn bàn cho tôi, và đã dọn cho tôi rất nhiều món ăn. Tôi mới bảo Tôbya, con tôi: “Này con, con hãy đi ra và gặp được ai nghèo trong anh em ta, những người bị đày ở Ninivê, nhưng hết lòng nhớ đến (Thiên Chúa) thì con hãy dẫn về để cùng chia sẻ bữa ăn với cha. Này! Cha đợi con về đó, hỡi con!”. 3Tôbya đã tìm một người nghèo khó trong hàng anh em chúng tôi. Trở về, nó nói: “Thưa cha!” và tôi đáp lại nó: “Này, cha đây, con!” Nó trả lời: “Thưa cha, này có một người thuộc dân tộc ta đã bị sát hại và quăng ngoài bùng binh chính nơi người ấy vừa bị thắt cổ”. 4Tôi liền chồm dậy, bỏ bữa ăn ngay trước khi nếm một tí gì, tôi cất xác người ấy khỏi bùng binh và đem đặt trong một căn nhà, chờ mặt trời lặn để đem chôn. 5Đoạn trở về tôi tắm rửa, và ăn bánh trong tang sầu. 6Tôi đã nhớ lại lời tiên tri, những điều Amos đã nói về Bethel rằng :
           Đại lễ của các ngươi sẽ biến thành tang sầu
          Và ca vãn hết thảy nên lời ai ca.
Và tôi đã khóc.
7Rồi khi mặt trời lặn tôi đi đào huyệt chôn cất người ấy.
8Những người lân cận cười chê tôi mà nói: “Hắn vẫn chưa sợ! Đã bị tầm nã để giết đi về việc ấy và đã bỏ trốn, thế mà hắn lại vẫn chôn cất người chết”.
9Tối ấy, tôi tắm rửa, đoạn vào trong sân. Tôi nằm ngủ kề vách tường ven sân, mặt để hở không che vì trời nóng bức. 10Tôi không biết là bên trên tôi có chim sẻ nơi vách tường. Cứt chim nóng hổi rơi vào mắt tôi, gây ra những vệt trắng (vảy cá mắt). Tôi đã đi cầu thầy chạy thuốc. Nhưng người ta càng xức thuốc bao nhiêu, thì mắt càng lòa bấy nhiêu vì những vệt trắng ấy, và cuối cùng tôi đã mù thật. Tôi đã mang tật nơi mắt bốn năm. Anh em tôi hết thảy đều sầu tủi cho tôi. Akhikar đã cấp dưỡng nuôi tôi trước khi nó phải trẩy đi Êlynai.
           11Thời ấy Anna, vợ tôi, phải canh cửi, việc vàn phận gái. 12Nhà tôi giao hàng cho chủ mướn, và họ trả công cho nàng. Số là mồng bảy tháng Đystros, nàng xén tấm vải và đem giao cho chủ thuê. Họ đã trả trọn công cho nàng lại còn làm quà cho nàng một dê con để khao một bữa. 13Khi nàng vào nhà bên tôi, thì con dê cất tiếng kêu be be. Tôi mới gọi nàng lại và bảo: “Con dê ấy ở đâu đến? Họa chăng là của trộm cắp? Hãy đem trả cho chủ nó! Vì ta không được phép ăn của gì ăn trộm”. 14Nàng nói với tôi: “Quà người ta tặng tôi thêm với tiền công đó mà”. Tôi không tin và cứ bảo phải trả lại cho chủ. Tôi lấy làm xấu hổ đỏ mặt thay cho nàng vì điều đó. Nhân đó nàng đáp lại và nói với tôi: “Thế thì đâu nào các việc bố thí của ông? Đâu nào các việc nghĩa của ông? Đó kìa, các sự ấy đã quá rõ đối với ông”.
           3. 1Rất đỗi buồn phiền trong tâm hồn, tôi đã rên lên và khóc. Tôi đã cất tiếng cầu nguyện với những tiếng rên xiết: “2Người thật chí công, lạy Chúa! Mọi việc Người làm thảy đều chính đáng và các đường lối của Người đều là lân mẫn và sự thật. Chính Người xét xử thế giới. 3Vậy nay, xin Người, lạy Chúa, xin nhớ đến tôi, xin đoái nhìn và đừng hạch sách tôi về các tội lỗi tôi, về các sự ngu dại của tôi, và của cha ông tôi. Họ đã mắc tội với Người. 4Họ đã bất tuân giới lịnh của Người. Người đã thí bỏ chúng tôi cho giặc cướp, cho tù đày, và án tử để làm trò cười, sự đàm tiếu và đồ ô nhục giữa mọi dân tộc, những nơi Người đã phân tán chúng tôi. 5Phải, các án xử của Người, thảy đều chân chính, khi Người xử như thế với tôi vì tội lỗi tôi. Vì chúng tôi đã chẳng thi hành giới lịnh của Người. Và chẳng thành thật đi trước nhan Người. 6Và nay, xin xử với tôi theo ý Người muốn và xin truyền rút lại sinh khí nơi tôi cho tôi giải thoát khỏi mặt đất này mà trở thành đất. Vì tôi thà chết còn hơn là sống, bởi tôi đã phải nghe đến những lời nhục mạ vô cớ và lắm ưu phiền quấn lại bên tôi, lạy Chúa. Xin truyền cho tôi được giải thoát khỏi nghiệp dĩ này. Xin thả tôi cho tôi đến nơi vĩnh cửu. Xin đừng ngoảnh mặt Người đi với tôi, lạy Chúa. Vì tôi thà chết còn hơn là thấy quá nhiều nghiệp dĩ trong đời tôi để khỏi phại nghe những lời nhục mạ”.

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn