Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Hồi hương và tái thiết Đền thờ (Er 1,1 - 6,22)

I. HỒI HƯƠNG VÀ TÁI THIẾT ĐỀN THỜ

Sắc chỉ cho phép hồi hương
           1. 1Năm thứ nhất đời Kyrô, vui Ba tư, để lời Yavê nhờ miệng Yêrêmya được nên trọn, Yavê đã thức tỉnh tâm thần Kyrô, vua Batư, và ông đã ra thông cáo trong toàn đế quốc; có cả sắc chỉ, rằng: “2Kyrô, hoàng đế Batư tuyên bố: Yavê Thiên Chúa trên trời đã ban cho ta mọi nước dưới đất. Người đã chỉ định ta phải tái thiết cho người, ngôi nhà ở Yêrusalem tại Yuđa. 3Vậy ai trong các ngươi, bất cứ ai thuộc dân người, xin Yavê Thiên Chúa của họ ở với họ. Họ hãy lên Yêrusalem tại Yuđa, mà tái thiết Nhà của Yavê, Thiên Chúa Israel, chính là Thiên Chúa ở Yêrusalem. 4Và mọi người sót lại - từ mọi nơi họ trú ngụ – (phải được) dân cư sở tại cấp cho bạc vàng, tư sản, thú vật, cùng với của lễ lòng thành cúng vào Nhà Thiên Chúa tại Yêrusalem”.
        5Bấy giờ các trưởng tộc Yuđa và Benyamin, các tư tế và Lêvit, (tóm lại) tất cả những ai được Thiên Chúa thức tỉnh tâm thần đã chỗi dậy lên tái thiết Nhà Yavê tại Yêrusalem. 6Tất cả những người lân cận đem giúi tay họ đủ thứ: bạc, vàng, tư sản, thú vật, quà tặng (từng đống) không kể tất cả những của cúng biếu.
        7Vua Kyrô đã cho đem ra những đồ vật thuộc Nhà Yavê mà Nabukôđônôsor đã chiếm đoạt ở Yêrusalem và đã cất trong nhà của thần linh ông thờ. 8Vậy Kyrô vua Batư đã cho đem các đồ vật ấy ra nhờ tay Mitriđat viên thủ quỹ; ông này đã tính sổ với Shesh- baxar, vương công Yuđa. 9Và đây là sổ các đồ vật ấy: kim bôi: ba mươi; ngân bôi: một ngàn; dao: hai mươi chín; 10tô vàng : ba mươi; tô bạc phụ: bốn trăm mười; các đồ vật khác: một ngàn. 11Tất cả các đồ đoàn vàng bạc là năm ngàn bốn trăm. Shesh-baxar đã mang theo tất cả khi nhóm nhữùng người Lưu đày rời Babel hồi hương về Yêrusalem.

Danh sách những người hồi hương
        2. 1Và đây là những người trong hạt đã từ chốn Lưu đày hồi hương – những người Nabukôđôsor vua Babel đã bắt đi lưu đày qua Babel – và họ đã trở về Yêrusalem và Yuđa, ai về thành nấy. 2Họ đã đến với Zôrôbabel, Yôsua, Nêhêmya, Sơrayah, Rơelyah, Nakhamami, Marđôkê, Bilshan, Mispar, Bigvai, Rơkhum, Baanah.
           Danh sách nhứng người thuộc dân Israel: 3Con cái của Parơosh: hai ngàn một trăm bày mươi hai; 4con cái của Shơphatyah: ba trăm bảy mươi hai; 5Con cái của Arakh: bảy trăm bảy mươi lăm; 6Con cái của Pakhat-Moab, (tức là) con cái của Yôsua và Yôab: hai ngàn tám trăm mười hai; 7con cái của Êlam: một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 8con cái của Zattu: chín trăm bốn mươi lăm; 9con cái của Zakkai: bảy trăm sáu mươi; 10con cái của Bani: sáu trăm bốn mươi hai; 11con cái của Babel: sáu trăm hai mươi ba; 12 con cái của Azgađ: một ngàn hai trăm hai mươi ba; 13con cái của Ađôniqam: sáu trăm sáu mươi sáu; 14con cái của Bigvai: hai ngàn lẻ năm mươi sáu; 15con cái của Ađin: bốn trăm năm mươi bốn; 16con cái của Atẻ thuộc Yơkhizqiyah: chín mươi tám; 17con cái của Bêxai: ba trăm hai mươi ba; 18con cái của Khashum: hai trăm hai mươi ba; 20con cái của Gibbar: chín mươi lăm; 21con cái của Bêlem: một trăm hai mươi ba; 22người Nơtôphah: năm mươi sáu; 23người Anatôt :một trăm hai mươi tám; 24con cái Azmavet: bốn mươi hai; 25con cái Qiriat-Yơarim và Ghêba: sáu trăm hai mươi mốt; 27người Mikmas: một trăm hai mươi hai; 28người Bêthel và Hai: hai trăm hai mươi ba; 29con cái Nơbô: năm mươi hai; 30con cái Magbish: một trăm năm sáu; 31con cái Êlam Akher: (một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 32con cái Kharim: ba trăm hai mươi; 33con cái Lôđ, Khađiđ, và Oânô: bảy trăm hai mươi lăm; 34con cái Yêrikhô: ba trăm bốn mươi lăm; 35con cái Sơanah: ba ngàn sáu trăm ba mươi.
          36Các tư tế: con cái Yơđayah, thuộc nhà Yô sua: chín trăm bảy mươi ba; 37con cái Immer: một ngàn lẻ năm mươi hai; 38con cái Pashkhur: một ngàn hai trăm bốn mươi bảy; 39con cái Kharim: một ngàn lẻ mười bảy.
        40Các Lêvi: con cái của Yô sua, tức là Qađmiel, Hôđavyah: bảy mươi bốn.
        41Các ca sĩ: con cái Asaph một trăm hai mươi tám.
        42Các người giữ cửa: con cái Shallum, con cái Ater, con cái Talmôn, con cái Aqqub, con cái Khatita, con cái Shôbai, tổng cộng: một trăm ba mươi chín.
        43Các người hiến thân: con cái Xikha, con cái Khasupha, con cái Tabbaôt, 44con cái Qêros, con cái Siaha, con cái Phađôn, 45con cái Lơbanah, con cái Khagabah, con cái Aqqub, 46con cái Khagab, con cái Shalmai, con cái Khanan, 47con cái Giđđel, con cái Gakhar, con cái Rơayah, 48con cái Rơxin, con cái Bêsai, 50con cái Asnah, con cái Mơunim, con cái Nơphisim, 51con cái Baquq, con cái Khaqupha, con cái Kharkhur, 52con cái Baslut, con cái Mơkhiđa, con cái Kharah, 53con cái Barqôs, con cái Sisơra, con cái Tamakh, 54con cái Nơ xiakh, con cái Khatipha.
          55Con cái những nô lệ của Salômon: con cái Sôtai, con cái Hassôphêret, con cái Pơruđa, 56con cái Yaalah, con cái Đarpôn, con cái Giđđel, 57con cái Shơphayah, con cái Khattil, con cái Pokêret- ha –Xơbaim, con cái Ami. 58Tổng cộng những người “hiến thân”và con cái những nô lệ của Salômon là ba trăm chín mươi hai (người).
        59Và đây là những người hồi hương từ Tel-Mêlakh, Tel-Kharsha, Kơrub, Ađđan, Immer, nhưng không thể khai gia tộc và dòng giống họ, (cho biết) có thuộc Israel hay không. 60con cái Đơlayah, con cái Tôbiya, con cái Nơqôđa: sáu trăm hai mươi. 61Thuộc hàng tư tế: con cái Khobaiyah, con cái Haqôs, con cái Barzilai, - người đã cưới vợ trong các con cái của Barzilai, người Galaađ, nên đã mang tên của họ, 62các người này đã tra tầm sách gia phả của họ nhưng không thấy (gì) nên người ta đã cất chức tư tế của họ. 63và quan trấn bảo họ không được ăn của cực thánh, cho đến khi nào một tư tế chỗi dậy thỉnh Urim và Tummimé.
        64Tất cả đại hội cộng chung là: bốn mươi hai ngàn, ba trăm sáu mươi người, 65không kể tớ trai tớ gái của họ, có đến bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy người; và hai trăm ca công nam nữ. 66Ngựa của họ: bảy trăm ba mươi sáu (con), la của họ: hai trăm bốn mươi lăm (con), 67lạc đà của họ: bốn trăm ba mười lăm (con), lừa của họ: sáu ngàn bảy trăm hai mươi (con). 
            68Một số trưởng tộc khi về Nhà Yavê ở Yêrusalem, đã dâng của cúng lòng thành vào Nhà Thiên Chúa, để tái lập Nhà tại chỗ cũ. 69Tuỳ theo sức họ, họ đã dâng cúng cho quỹ công tác sáu mươi mốt ngàn quan tiền vàng, và năm ngàn câc bạc, và một trăm bộ y phục tư tế.
          70các tư tế và Lêvit, cùng một phần dân chúng đã lập cư ở Yêrusalem, còn các ca sĩ, giữ cửa, những người hiến thân thì lập cư trong các thành của họ. Và toàn thể Israel đã lập cư trong các thành của họ.

Khởi sự tái thiết đền thờ
             3. 1Tới tháng thứ bày – con cái Israel đang ở trong các thành của họ- thì dân tụ họp cả lại, như một người, ở Yêrusalem. 2Bấy giờ Yô sua con của Yôxađaq cùng với các tư tế anh em ông, và Zôrôbabel, con của Shơaltiel, cùng các anh em ông, chỗi dậy xây tế đàn cho Thiên Chúa của Israel để thượng tiến trên đó các lễ thượng hiến, như đã chép trong trong Luật Môsê, người của Thiên Chúa. 3Và họ đã tái thiết tế đàn trên nền của nó –vì họ kính sợ trước các dân trong xứ - và họ đã thượng tiến trên đó các lễ thượng hiến cho Yavê, lễ thượng hiến sáng và chiều . 4và họ đã cử hành lễ Nhà tạm, chiếu theo điều đã viết, (dâng) thượng hiến ngày này qua ngày khác theo sổ đã quy định cho mỗi ngày. 5và sau đó, thượng hiến thường xuyên, (thượng hiến) cho các ngày sóc, cho mọi khánh tiết, khánh kính Yavê, và một tháng bảy, họ đã bắt đầu thượng tiến các lễ thượng hiến kính Yavê, mặc dù Đền của Yavê chưa được đặt móng,
             7Họ cấp bạc cho thợ đá, thợ mộc, và của ăn, của uống và dầu cho dân Siđôn và Tyrô, đề người ta chuyên chở gỗ bà hương Liban, qua đường biển cho đến Yaphô, theo phép Kyrô vua Batư đã ban cho họ.8và năm thứ hai sau khi họ về đền Nhà của Thiên Chúa ở Yêrusalem, vào tháng hai, Zôrôbabel con của Shơaltiel, và Yôsua con của Yôxađaq, và các người anh em khác của họ, các tư tế và Lêvit, và tất cả những người từ lưu đày về Yêrusalem đã tra tay vào việc, và họ đã đặt câc Lêvit từ hai mươi tuổi trở nên đứng đốc suất công việc (xây) Nhà Yavê. 9và Yôsua, các ông và anh em ông: Qađmiel, Binnui và Hôđavyah (tất cả) như một, đứng lên đốc suất nhân công làm việc nơi nhà Yavê, (làm một với) các con của Khênađađ, con cái và anh em họ, những Lêvit. 10và khi thợ nề đặt nền móng Đền của Yavê, thì các tư tế đứng đó, y phục chỉnh tề với loa, và các Lêvit con cái Asaph với chũm choẹ, để ngợi khen Yavê theo như Đavit vua Israel đã quy định. 11Họ xướng đáp mà ngợi khen, cám tạ Yavê: "Vì Người tốt lành, vì ơn Người miên man vạn đại trên Israel". Và toàn dân cả tiếng hò la mà ngợi khen Yavê, vì Nhà Yavê bấy giờ được đặt móng. 12và lắm người trong hàng tư tế và Lêvit và những trưởng tộc già cả, những người đã được trông thấy Nhà trước kia, đã khóc lớn tiếng trong khi người ta đặt móng ngôi Nhà này trước mắt họ. Và cũng có lắm người cất tiếng hò la sung sướng. 13và dân chúng không sao nhận ra được tiếng hò la sung sướng với tiếng khóc, vì dân cả tiếng reo hò và tiếng vọng đi rất xa.

Công việc tái thiết bị đình trệ
          4. 1Và khi các địch thù của Yuđa và Benyamin đã nghe tin là con cái lưu đày đang xây Đền thờ Yavê Thiên Chúa của Israel, 2chúng tớIsrael gặp Zơrôbabel và [Yôsua] cùng các trưởng tộc, mà nói với họ: "chúng tôi sẽ xây chung với các ông, vì cũng như các ông. chúng tôi sùng bái Thiên Chúa của các ông và hằng tế lễ cho Ngườitừ ngày Asarhađđôn vua Assur đã đem chúng tôi lên đây”. 3Zôrôbabel, Yô sua và các trưởng tộc khác của Israel nói với chúng :”Không phải việc của các ông là cùng chúng tôi xây Nhà cho Thiên Chúa của chúng tôi, vì chỉ có chúng tôi mà thôi sẽ xây nhà cho Yavê Thiên Chúa của Israel, theo như Kyrô, vua Batư đã truyền cho chúng tôi”. 4Vì thế dân trong xứ đã làm cho dân Yuđa ngã lòng và khủng bố họ làm họ bỏ dở việc xây cất. 5Chúng mua chuộc cả những vị cố vấn để phá họ, làm hỏng ý định họ, suốt thời Kyrô vua Batư, và mãi cho đến triều Đarius vua Batư.

Thái độ cừu địch của Samari
        6Đến triều Xerxes, buổi triều ấy, chúng đã viết tờ cáo tội dân cư Yuđa và Yêrusalem.
          7Vào thời Artaxerxes, Bishlam, Mitriđat, Tabơel và các đồng liêu đã dâng sớ lên Artaxerxes, vua Batư; bản sớ ấy viết bằng tiếng Aramvà đã được phiên dịch. Tiếng Aram :
        8Rơkhum, quan trấn, và Shimshai viên thư ký đã viết sớ lên vua Artaxerxes hạch tội Yêrusalem. (Lời lẽ) thế này: 9Rơkhum quan trấn, và Shimshai viên thư ký và các đồng liêu khác; các thẩm phán và khâm sai, quan chức Batư (cùng) những người quê ở Uruk, Babel, Susa- tức là Êâlam – 10và các dân tộc khác Asnappar vĩ đại, hiển hách đã phát lưu và cho lập cư trong các thành Samari và các vùng khác Biên kia sông.
11Đây là bản sao lục sớ họ đã đệ lên :
        “Tâu Artaxerxes, hoàng đế. Bầy tôi của ngài, những người vùng biên kia sông :
        “Vậy bây giờ, 12xin trình để ngài ngự được tường là những người Dothái, từ nơi ngài ngự lên nơi các hạ thần, đã đến Yêrusalem và đang tái thiết cái thành nguỵ tặc, ác ôn ấy, chúng tu bổ tường thành và đặt lại nền móng. 13Vậy nay xin tâu ngài ngự được tường là nếu thành ấy được tái thiết,tường thành được tu bổ thì cống nạp, thuế má, quan thuế, chúng sẽ không nộp, và chung qui các hoàng đế phải thiệt hại. 14Vả chăng, vì lẽ chúng tôi ăn lộc triều đình và cứ nhìn thấy hoàng đế mắc phải điều thiệt hại là điều chẳng xứng với chúng tôi, nên chúng tôi xin chuyển đạt tường trình lên hoàng đế, 15ngõ hầu người ta tra tầm trong sách kỷ yếu của tổ tiên ngài: trong sách kỷ yểu ấy, ngài Sẽ thấy và nhận ra được là thành ấy quả là một thành nguỵ tặc, mối hại cho các vua và các tỉnh; trong thành ấy, chúng đã gây phiến loạn từ những thời xưa kia. Chính vì thế mà thành ấy đã bị tàn phá. 16chúng tôi xin trình bày để ngài ngự được tu bổ, thì nhân vì thế, ngài sẽ không còn một phần đất nào trong vùng Biên kia sông này nữa”
          17Vua đã gởi chiếu chỉ:
         “Gửi Rơkhum, quan trấn và Shimshai, viên thư ký và các đồng liêu khác cư ngụ ở Samari và trong các chỗ khác vùng biên kia sông: An thái!
“Vậy bây giờ. 18Sớ của khanh đã dâng lên ta, đã được phiên dịch và đọc trước mặt ta. 19Và theo lịnh ta ban ra. Người ta đã tra tầm và đã thấy được là thành ấy, từ những thời xưa kia đã từng dấy lên chống lại các vua và phản động cùng phiến loạn đã từng diễn ra ở đó. 20Ở Yêrusalem, đã có những vua hùng cường bá chủ tất cả vùng bên kia sông và người ta đã phải nộp cống nạp, thuế má, thuế quan cho họ. 21Vậy bây giờ, các khanh hãy ra lệnh cấm chỉ các người đó không được tái thiết thành ấy, bao lâu không có lệnh nào khác của ta truyền ra. 22các khanh phải coi chừng đừng sơ xuất trong việc này kẻo nhỡ ra nguy cơ thêm trầm trọng có hại cho các hoàng đế”.
          23Thoạt khi bản sao lục chiếu chỉ của vua Artaxerxes được đọc trước Rơkhum quan trấn và Shimshai, viên thư ký cùng các đồng liêu, thì họ liền vội vàng trẩy đi Yêrusalem, gặp người Dothái và dùng võ lực bắt đình chỉ (mọi công việc).
        24Bấy giờ, công việc (xây) Nhà Thiên Chúa ở Yêrusalem đã phải đình chỉ, và bị gián đoạn mãi cho đến năm thứ hai triều Đarius vua Batư.

Hoàn thành đền thờ
         5.1Tiên tri Haggai và Zakarya con của Iđđô, các tiên tri ấy (bấy giờ) tuyên sấm trên người Dothái ở Yuđa và Yêrusalem nhân Danh Thiên Chúa của Israel, Đấng ở với họ. 2Bấy giờ Zôrôbabel con củÑöùc Gieâsu Shơaltiel và Yôsua, con của Yôxađaq chỗi dậy và khởi sự xây Nhà Thiên Chúa ở Yêrusalem, và cùng với họ, có các tiên tri của Thiên Chúa trợ giúp. 3Vào thời ấy, Tattơnai, tổng trấn vùng Bên kia sông, và Shơtarboznai cùng các đồng liêu đến gặp họ và bảo họ thế này:”Ai đã cho phép các ông xây Nhà này và tu bổ điện thờ này”4đoạn các người ấy nói với họ: “Những người kiến thiết công trình này, tên là gì?”5Nhưng có mắt của Thiên Chúa họ trên hàng kỳ mục Dothái, nên người ta đã không bắt họ phải đình chỉ công việc, trong khi một tờ báo cáo được đệ lên cho Đarius và chờ thư phúc chiếu về việc này.
          6Bản sao lục sớ Tattơnai, tổng trấn vùng bên kia sông, đệ lên vua Đarius. 7Họ đệ lên ông một bản tường trình, trong đó có viết thế này :
        “Tâu hoàng đế Đarius, vạn an! 8Xin trình để ngài ngự được tường là các hạ thần đây đã trẩy đi tỉnh Yuđa, (và khi đến thành Yêrusalem đang lo xây cất) Nhà lớn cho Thiên Chúa. Nhà được xây bằng đá khối và tường có thưng bằng ván gỗ. Công trình ấy được làm chu đáo và đang tiến hành trong tay họ. 9Bấy giờ chúng tôi đã hỏi hàng kỳ mục ấy và nói với họ thế này: “Ai đã cho phép các ông xây Nhà này và tu bổ điện thờ này?”10Chúng tôi cũng đã hỏi tên họ để thông báo cho ngài ngự, và chúng tôi đã ghi tên những người cầm đầu họ.
        “11Đây là lời họ đáp lại với chúng tôi; “Chúng tôi đã là những tôi tớ thờ Thiên Chúa trời đất và chúng tôi xây lại Nhà đã được dựng nên xưa kia, lâu năm rồi. Một vua lớn của Israel đã xây lên và đã hoàn thành. 12Nhưng bởi lẽ cha ông chúng tôi đã khiêu giận Thiên Chúa trên trời, nên Người đã nộp họ trong tay người Kanđê, Nabukôđôsôsor vua Babel và ông đã phá huỷ Nhà này cùng đày dân qua Babel. 13Song năm thứ nhât đời Kyrô, vua Babel, vua Kyrô đã ra sắc chỉ cho tái thiết Nhà này của Thiên Chúa. 14Và cả những đồ vật bằng bạc, vàng thuộc nhà của Thiên Chúa, Nabu-kôđônôsor đã lấy nơi Đền thờ Yêrusalem mà đem về đền thờ ở Babel, vua Kyrô cũng đã lấy khỏi đền thờ ở Babel mà trao cho (một người) tên là Sheshbaxar, ông đã đặt làm tổng trấn. 15Và ông nói với (Sheshbaxar): “các đồ vật này, nhà người hãy lấy đem về lại đền thờ ở Yêrusalem, và Nhà của Thiên Chúa phải được xây cất lại chỗ cũ. 16Bấy giờ ông Sheshbaxar ấy đã đến và đặt móng Nhà của Thiên Chúa ở Yêrusalem. Từ đó đến nay Nhà vẫn được tái thiết nhưng chưa hoàn thành.
          “17Vậy bây giờ, nếu Ngài ngự ưng thuận, xin cho tra tầm trong nhà bảo tàng của hoàng triều, ở đó, ở Babel, xem thực có sắc chỉ do Kyrô hoàng đế châu phê cho phép tái thiết Nhà của Thiên Chúa ở Yêrusalem hay không, và xin ngài ngự cho các thần biết thánh ý về vấn đề này”.
        6. 1Bấy giờ vua Đarius ra lệnh tra tầm trong nhà bảo tàngnơi trữ nhứng văn thư ở Babilon. 2Và người ta đã tìm thấy ở Ecbatana, lâu đài trong tỉnh Mêđi, một cuốn sổ trong đó có viết thế này :
“Giác thư.
          3Năm thứ nhất triều Kyrô. Hoàng đế Kyrô đã ban lịnh:
          Về Nhà của Thiên Chúa ở Yêrusalem.
         “Nhà sẽ được tái thiết, làm nơitế tự, và nền móng sẽ được thiết lập. Chiều cao là sáu mươi xích, và chiều rộng sáu mươi xích. 4Sẽ có ba mươi lớp đá khối và (một) lớp gỗ. Và chi phí sẽ do hoàng triều đài thọ. 5Và cả những đồ vật bằng bạc bằng vàng thuộc Nhà của Thiên Chúa, Nabukôđônôsor đã lấy nơi Đền thờ ở Yêrusalem mà đem về Babel, sẽ được hoàn trả lại; (mọi sự) sẽ về lại Đền thờ Yêrusalem, nơi chỗ cũ, và được cất trong nhà của Thiên Chúa.
          “6Bây giờ, Tattơnai, tổng trấn (vùng) “Bên kia sông”, Shơ-tarboznai và các đồng liêu, những chức trách (vùng) “Bên kia sông”! các khanh hãy tránh xa khỏi đó! 7Hãy để công việc (xây) Nhà ấy của Thiên Chúa (tiếp tục); tổng trấn cai người Dothái cùng với các kỳ mục Dothái phải tái thiết Nhà ấy của Thiên Chúa: do quỹ của hoàng đế, trích từ những thuế má (vùng) “Bên kia sông”, phải cung cấp chi phí chu đáo cho các người ấy, đừng để đình trệ. 9Và những điều thiết yếu như bò tơ, cừu, chiên để làm thượng hiến dâng Thiên Chúa trên trời, cùng với lúa miến, muối, rượu, dầu, theo lời yêu cầu của các tư tế Yêrusalem, ngày ngày sẽ được cấp cho họ, không được bê trễ, 10ngõ hầu họ dâng của lễ hinh hương cho Thiên Chúa trên trời và cầu cho hoàng đế và các hoàng tử được trường thọ. 11Và ta ra lệnh: bất kỳ ai vi phạm sắc chỉ này, thì lấy xà gỗ nhà nó mà dựng lên để treo cổ nó trên đó, và vì cớ ấy hãy làm cho nhà nó thành đống phân nhơ. 12Ước gì Thiên Chúa, Đấng đã đặt Danh Người lưu lại nơi ấy huỷ diệt bất kỳ vua hay dân nào dám giơ tay vi phạm (sắc chỉ) mà huỷ hoại Nhà ấy của Thiên Chúa, Đấng ở Yêrusalem. Chính ta, Đarius, ta đã ban lịnh. Khâm thử !”.
         13Bấy giờ Tattơnai, tổng trấn (vùng) Bên kia sông, Shơtarboznai và các đồng liêu đã thi hành chu đáo theo chỉ thị vua Đarius đã gửi đến. 14Hàng kỳ mục Dothái đã (tiếp tục) xây và đã thành công theo lời sấm của tiên tri Haggai, và Zakarya con của Iđđo;họ đã hoàn thành (công việc) tái thiết chiếu theo lịnh của Thiên Chúa Israel thờ và lịnh của Kyrô và Đarius. 15Và Nhà ấy đã được hoàn tất ngày mồng ba tháng Ađar, năm thứ sáu triều vua Đarius. 16Con cái Israel, các tư tế; Lêvit và những con cái lưu đày khác cử hành trong hoan lạc lễ khánh thành Nhà (ấy) của Thiên Chúa. 17Họ đã dâng của lễ để khánh thành Nhà ấy của Thiên Chúa: một trăm bò, hai trăm cừu đực, bốn trăm con chiên, và làm lễ tạ tội cho toàn thể Israel, mười hai dê đực, theo số các chi tộc Israel. 18Và họ đã ban, để lo phục vụ Nhà của Thiên Chúa ở Yêrusalem, chiếu theo điều đã viết trong sách Môsê.

Lễ vượt qua
        19Con cái lưu đày đã cử hành lễ Vượt qua ngày mười bốn tháng thứ nhất. 20Vì các Lêvit đã thanh tẩy mình, mọi người như một đều được thanh sạch, nên họ đã hạ sát (chiên) Vượt qua cho toàn thể con cái lưu đày cùng cho anh em họ là các Lêvit và cho chình mình họ. 21Con cái Israel – những người từ chốn lưu đày trở về, đã ăn (lễ vượt qua), cũng như những ai đã tách mình ra khỏi những điều nhơ uế của các dân trong xứ để cùng với họ tìm kiếm Yavê, Thiên Chúa của Israel. 22Họ đã cử hành Lễ Bánh không men bảy ngày trong hoan lạc, vì Yavê đã cho họ để củng cố tay họ trong công việc (xây) Nhà của Thiên Chúa, Thiên Chúa của Israel.6,22)

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn