Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Các tiên tri trong thời đại này

Các tiên tri trong thời kỳ này
                Trình tự lịch sử trong vòng hai thế kỷ 8 đến 6 toát yếu là thế. Một lịch sử có căn cứ trên văn kiện trong Israel cũng như bên ngoài (các văn kiện Assur và Babylon). Lịch sử ấy không có gì là đặc biệt. Nhiều nước nhỏ xung quanh cũng suy tàn tương tự như vậy. Đối chúng ta, tự nó lịch sử ấy không có gì quan trọng bắt phải để ý, nếu không có một cái gì đặc biệt cùng diễn ra một trật với và nhân với biến cố bên ngoài. Chúng ta lại sẽ diệt qua thời này mà chiêm nghiệm các sự kiện như thể trong hồn chúng, nhờ các thư lịch sử tiên tri đồng thời, tức là như những bình luận thời cuộc, theo một phương diện độc đáo. Các biến cố xảy ra tự nó cũng chỉ là những việc hiện đang xảy ra mà chúng ta nghe phát thanh hay đăng tải trên báo chí. Nhưng đối với các tiên tri, lịch sử có cái gì hơn là sự kiện kế tiếp theo nhau, một cái gì như cái hướng, cái ý nghĩa. Điều chúng ta có thể so sánh, như kinh nghiệm các nhà khảo cổ hiện cho thấy: Dưới bước chân đi có mô đất nhợt nhạt, có lùn cây, khi xanh tươi khi vàng úa, nhưng chụp bóng từ trên phi cơ xuống nhiều khi nhận ra được cả một làng mạc cổ thời còn lộ mờ mờ. Tiên tri ở một nhãn giới xa đã đọc thấy một hướng, cái hướng ấy là điều quan trọng, vì ích gì cho chúng ta, việc Sêđêqya bỏ kinh thành chạy trốn, hay việc Gôđôlya bị một nhóm cuồng tín sát hại.

Amos 
                Tiên tri chúng ta gặp trước tiên trong thời kỳ này là Amos, một người chăn cừu trong vùng xa mạc Yuđa  (ở Têqoa ), một miền nghèo khó và quê mùa Ông lên Nước Israel phía Bắc ngay vào thời cựu thịnh nước ấy, dưới triều Yơrôbôam II. Ông nhìn thấy những hậu quả của giàu sang và cảnh xa hoa đang tiến. Nhưng ngang qua cái vẻ hào nhoáng ấy, ông nhận ra căn bệnh suy đồi của xã hội. Xã hội Israel đã ra thối nát và khoái cảm, vì những bất công áp bức trên hạng lê dân nghèo khó. Đối với lòng tin vào Giao Ước của ông, đó là một sự lăng nhục đến chính Thiên Chúa. Đạo quốc gia bề ngoài được ưu đãi, và nguồn lợi tức dồi dào. Trên có nhà vua bảo vệ, dưới thì có hạng giàu có, những mệnh phụ Samari, vực đỡ. Lễ nghi rất mực trang trọng, phụng vụ cử hành oai nghiêm. Nguời Israel trung lưu bình thường có thể cảm thấy hãnh diện, vì đặc ân thuộc về một dân tộc sùng tín, và như vậy thịnh vượng kinh tế kia được họ coi là phần thưởng đích đáng cho lòng đạo đức. Nhưng Amos lại phán đoán theo những tiêu chuẩn khác. Những phê phán minh bạch và cứng cáp của ông trên sự trạng, chiếu theo một quan niệm cao siêu về tôn giáo, cho thấy vai trò siêu bạt của ông trong lịch sử mạc khải.
                Trước hết Amos cùng chung với đại đa số đồng bào của ông về những xác tín căn bản truyền thống tôn giáo đã chuyển lại. Ông tin về liên lạc mật thiết đã có giữa Thiên Chúa và Israel: Đó là Giao Ước, kết lại trong châm ngôn: Israel là dân của Yavê, và Yavê là Thần của Israel. Amos tin Thiên Chúa của Israel là một "Thần sống", hoạt động cách quyền năng trên lịch sử. Ông cầm chắc rằng, không chóng thì chầy, quyền năng phép tắc của Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra trong một biến cố lịch sử kinh hoàng. Vào ngày của Yavê, Thiên Chúa của Israel sẽ thi thố uy quyền của người trên mọi dân thiên hạ.
                Những điều Amos tin đó, Amos nắm giữ như căn bản chung với mọi người Israel. Nhưng những điều tin ấy không ru ngủ ông để ỷ thị vào cái mã bên ngoài. Thiên Chúa yêu mến Israel, dĩ nhiên rồi. Nhưng Nguời còn chuộng sự chính trực hơn. Người không lo đến quyền lợi của dân Nguời, cho bằng sự thiện muôn thuở. Israel mà rẻ rúng sự thiện, thì án Thiên Chúa sẽ đến trên họ.
                Trong loạt sấm ngôn mở đầu (Amos 1 3 2 16), Amos hạch tội các dân láng giềng. Dân Aram sẽ bị phạt vì đã dã man giết người. Dân Philitin, dân Phênikia mắc tội bán người làm nô lệ cho Edom, vì chém giết một dân anh em. Dân Ammôn, vì muốn khuếch trương bờ cõi mà gieo chiến tranh tàn khốc, giết cả đàn bà trẻ con. Dân Moab, vì đã hành hạ dã man thây chết một vua Eđom bại trận. Một lũ phạm nhân chiến tranh đáng tội theo quả báo việc chúng làm. Nhưng tội nhân được dành cho án phạt nặng nhất, một cách bất ngờ lại là Israel (Am 2 6-7 ).
               Như vậy được làm dân Thiên Chúa có nghĩa là mang một trách nhiệm đặc biệt, chứ đâu có phải là để hưởng đặc ân (coi Am 3 2 ).
               Lễ nghi, tế tự dẫu có tăng thêm mấy đi nữa cũng không thể thay đổi được sự thật này là: Thiên Chúa hằng sống chí công quản cai vũ trụ, đâu có tội, đó có vạ, dân có tội, dân sẽ chịu lấy họa. Những kẻ coi như tín điều là ngày của Yavê đến, Israel vì là dân của Thiên Chúa, sẽ toàn thắng mọi địch thù: Những kẻ đó chỉ ôm ấp một ảo tưởng. Đích Thiên Chúa nhắm đến trong ý định của Người không phải là cái thắng trận của Israel, nhưng là sự toàn thắng của sự thiện.
               Hiện bấy giờ, mọi sự dường như xuôi thuận yên hàn. Nhưng tiên tri có linh cảm là thời thế nguy ngập. Cuộc xâm  lược của Assur coi như xa xôi, nhưng chẳng bao lâu cơn giông sẽ đến, và án Thiên Chúa sẽ trút xuống dân phản bội. Chỉ còn một điều có thể ngăm được đại họa là ghét sự dữ và mến điều lành, chuộng công lý ( Am, 5  15)
               Đó là tín thư cốt yếu của các sấm ngôn Amos, vào giữa thế kỷ thứ 8. một quả quyết: lịch sử được diễn ra trong một trật tự luân lý. Theo dòng lịch sử, lanh hay chậm, tương quan quả báo tội và vạ sẽ không phải là sự ngẫu nhiên, đó là sự phán sét của Thiên Chúa hằng sống và chí công, vì chính Người là Chúa trên lịch sử. Mạc khải sẽ còn tiến, và vì thế cái nhìn của Amos có khi còn khá giản lược. Nhưng quả quyết của ông: Lịch sử không phải do ngẫu nghiên mù quáng hướng dẫn, nhưng được đặt trên bình diện lý trí phán đoán và tự do lựa chọn và có trách nhiệm dưới sự quản cai của Thiên Chúa – quả quyết ấy rất căn bản, đó là khơi điểm cho tư tưởng tiên tri, cũng như cho sự Amos hiểu lịch sử và thực tế nếu không muốn hạ giá vũ trụ nhân loại xuống dưới luật dã thú rừng hoang vô tư vô hại.

Hôsê
               Tiên tri thứ hai xuất hiện, hầu như đồng thời với Amos.Ông là người chính quán miền Bắc. Có lẽ ông thuộc hạng nông gia trung bình, sốnh giữa những người trung tín với Giao Ước, mà lý tưởng là bình đẳng giữa Người vói Người (một di sản thời du mục để lại), Hôsê không thể không lên tiếng đả kích những sự xa đọa, bóc lột trong dân, và lặp án phạt của Thiên Chúa trên dân phản ngụy, cũng như Amos. Nhưng ông không chỉ dừng lại ở đó. Ôâng được xác tín sâu xa rằng có cái gì trong liên lạc với Thiên Chúa và Israel, bền vững, không gì lay chuyển được, ngay cả những thất trung của Israel, đó là "khesed" (cái tình cái nghĩa) nơi lòng Thiên Chúa (coi Hôsê 11  1-9).
               Thiên Chúa không thể để mặc dân của Người. Nhóm Người đã từng có liên lạc với Người, dù chỉ một lần thôi, Thiên Chúa không ngơi canh phòng coi sóc. Dân có tội, dân sẽ chịu lấy hậu quả. Một hậu quả hầu như tất nhiên. Cái hậu quả ấy, nói được rằng Thiên Chúa hằng tìm cách giảm đi, dường như giơ tay cản ngăn Người ta tự hủy hại chính mình. Vì lý do nền tảng cho sự lựa chọn và dẫn đưa Israel là chính lòng mến của Thiên Chúa. Lòng mến ấy không phải là một cảm tình tách rời được với Thiên Chúa, như là chính cái bản lĩnh tuyệt đối và thánh thiện của Thiên Chúa. Yavê không thể rời bỏ lòng mến của Người, cũng như Người không thể rời khỏi thần tính của Người. Do đó Hôsê nhận thấy là tai biến đe dọa qua đi, hy vọng sẽ có giảng hòa và một đời sống mới cho Israel.
               Như thế, quan niệm Thiên Chúa hoạt động trong lịch sử như Amos đã rao giảng lại được đào sâu hơn về một khía cạnh nữa. Thiên Chúa là thần lân mẫn, cũng như là thần công lý. Chưa hẳn Hôsê đã có phương giảng hòa hai nguyên lý ấy. Nhưng từ nay tư tưởng Cựu Ước sẽ đi qua đi về giữa hai mút cùng ấy: Thiên Chúa hằng sống hoạt động trong phán xét, và cũng Thiên Chúa ấy hoạt động trong lòng thương xót.
Ysaya 
                Sứ vụ của Hôsê chưa chấm dứt, thì ở miền Nam đã chỗi dậy một vì tiên tri khác còn lớn hơn nũa: Ysaya, Người Yêrusalem, thuộc hạng thượng lưu, có lẽ thuộc hoàng tộc nũa. Một phần lớn đời ngài, ngài đã sát cánh với những nhân vật chính trị nơi kinh đô, ngài lịch duyệt về vấn đề chính trị, xã hội và quốc tế thời ấy liên quan đến xứ sở của ngài. Và giáo huấn tôn giáo của ngài, chính nhân các biến cố mà ngài đã diễn giải.
                Cùng với những tiên tri đi trước. Ysaya nói lên quam niệm căn bản về Thiên Chúa hằng sống và công minh, chưởng trị lịch sử nhân loại, hoạt động trong phán xét và thương xót. Vào thời đầu sự nghiệp, ngài đã chứng kiến sự thực hiện các tiên cảm về phán xét: Án Thiên Chúa đã ra, nước Bắc khánh tận. Và rồi đây ngay sứ sở của ngài cũng sẽ chịu đồng một số phận. Trước sự công bình của Thiên Chúa. Yuđa nào có hơn gì Israel. Lời rao giảng của Ysaya cũng nghiêm khắc như của Amos, nhưng ngài cũng xác tín về lòng thương xót của Thiên Chúa như Hôsê. 
                Từ những nguyên tắc hầu như trái nghịch nhau đó của sự quan phòng của Thiên Chúa, Ysaya tổ thuật một thứ triết lý còn sơ sài về lịch sử. Nước như một khối sẽ chịu lấy án phép công minh của Thiên Chúa ra và thế nào cũng bị tiêu diệt, khi không có một sự thay đổi triệt để. Nhưng dù sao Thiên Chúa không thể bỏ dân của Người. Tai họa tàn phá thế nào đi nữa, Thiên Chúa sẽ chừa lại một số nào đó, dẫu là ít ỏi, giữa một nước ngụy tặc, nhóm người ấy sẽ quay đầu về với Yavê, trong thống hối và vâng phục, chính nhóm Người sẽ là mần giống cho dân mới của Thiên Chúa: "số xót sẽ trở lại" (Ys 10  16-23): Đó là khẩu hiệu, nói lên sự trông cậy của tiên tri vào tương lai của dân Chúa, và tượng trưng cho điều ấy, tiên tri đã đặt tên cho con mình: Shoar yashub.
                Và khi cái họa Assur nên trầm trọng, Yuđa cũng như Israel trước kia chỉ loay hoay tìm phương kế bảo toàn số mạng, bằng những mưu mô người đời, Ysaya đã đành phải rút lui một thời, và ghi tạc giáo huấn vào lòng môn đệ đức tin bất chuyển vào sự trung tín của Yavê và đến khi Yuđa đã nhận thấy vô phương tin cậy loài người, khi Yêsusalem hầu bị tai họa tận tuyệt, Ysaya lại lấy lòng tin bất khuất có thể gián không được đầu hàng. Và, như ta đã thấy trên kia, binh đội Assur nhất đám đã triệt thoái. Yêrusalem đã thoát nạn!  Tại sao tiên tri không có lý mà coi đó là dấu chỉ của lòng lân mẫn của Thiên Chúa đối với dân của Người. Biến cố ấy so với hậu quả đến sau thực có một tầm quan trọng như tiên tri nghĩ, nhờ đó, mà có một thời chấn chỉnh trước khi khánh tận. Và cũng nhờ đó mà Yuđa có số phận khác Israel phía Bắc: Nước tuy mất, nhưng dân Dothái sống sót để chuyển đi mạc họ đã chịu lấy. Biến cố không đánh dấu cho phục hưng tôn giáo trực tiếp, nhưng tin là tiên tri có thể thu hợp một nhóm môn đệ trung kiên, để niêm ký di chúc giáo huấn của ngài, bắt đầu gầy tạo số xót của Israel, cái cội sẽ đâm chồi nẩy lên được một dân thánh mai sau (Ys 8 16-17  6 13).