Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Benyamin và Yêrusalem - Saul, tiền nhiệm của Đavit (1Ks 8,1 - 10, 14)

                           8–BENYAMIN VÀ YÊRUSALEM

Dòng dõi Benyamin
           8. 1Benyamin đã sinh ra Bêla, con đầu lòng của ông, Ashbel con thứ, Akhiram thứ ba, 2Nôkhah thứ tư, Rapha thứ năm. 3Bêla có con là: Ađđar, Ghêra cha của Êâhuđ, 4Abishua, Naaman, Akhoakh, 5Ghêra, Shơphunphan, và Khuram.
           6Và đây là con cái Êâhuđ. Họ là những tộc trưởng của dân cư Ghêba, và đã di dân qua Manakhat: 7Naaman, Akhiyah và Ghêra; chính ông này đã di dân. Ông đã sinh ra Uzza và Akhihuđ.
           8Shakharaim đã sinh (con) trong cánh đồng Moab, sau khi đã rẩy Khushim và Baara, các vợ của ông. 9Ông đã sinh, do vợ ông là Khođesh, Yôbab, Xibya, Mêsha, Malkom, 10Yơrush, Sakyah, Mirmah. Các người này là con cái ông ở Moab: những tộc trưởng.
           11Do Khushim, ông đã sinh ra Abitub và Elpaal. 12Con cái của Elpaal: Êâber, Mishơam, và Shêmeđ. Ông này đã xây Ônô, Lôđ và các thành phụ cận.
           13Bơriah, Elpaal và Shêma là những tộc trưởng dân cư Ayyalôn; chính họ đã đánh đuổi dân cư (thành) Gat.
           14Anh em họ là Shashaq,
           Yơrôkham là những tộc trưởng; những người này đã lập cư ở Yêrusalem. 15Zơbađyah, Arađ, Êder, 16Mikael, Yishipah, Yôkha đều là con cái của Bơriah.
           17Zơbađyah, Mơshullam, Khizqi, Khêber, 18Yishmơrai, Yizliah, Yôbab là con cái của Elpaal.
           19Yaqim, Zikri. Zabđi, 20(Elyôenai), Xillơtai, Êâliel, 21Ađayah, Bơrayah, Shimrat là con cái của Shimơi.
           22Yishpan, Êâber, Êliel, 23Abđôn, Zikri, Khanan, 24Khanayah, Êlam, Antôtiyah, 25Yiphđơyah, Pơnuel là con cái của Shashaq.
           26Shamshơrai, Shơkharyah, Atalyah, 27Yaareshyah, Êliyah, Zikri là con cái của Yơrôkham.
           28Các người này là những tộc trưởng của dòng dõi họ.
Gia phả của Saul
           29Đã lập cư ở Gabaôn: cha của Gabaôn, Yơiel. Tên vợ là Maakah, 30cũng như con đầu lòng của ông là Abđôn, rồi Xur, Qish, Baal, Ner và Nađab, 31Gođor, Akhyô, Zêker, và (Miqlôt). 32Miqlôt đã sinh ra Shimơah. Cả họ nữa, cũng như các anh em khác, họ đã lập cư ở Yêrusalem bên cạnh anh em họ.

Gia tộc Saul 
           33Ner đã sinh ra Qish, Qish đã sinh ra Saul, Saul đã sinh ra Yônatan, Malki-Shua, Abinađab, và Eshbaal. 34Con của Yônatan là Mơribbaal; Mơribbaal đã sinh ra Mikah. 35Con cái của Mikah: Pitôn, Mêlek, Tarêa, và Akhaz, 36Akhaz đã sinh ra Yơhôađđah, Yơhôađđah đã sinh ra Alêmet, Azmavet và Zimri; Zimri đã sinh ra Môxa; 37Môxa đã sinh ra Binơa.
           Rapha con ông, Elasah con ông, Axel con ông. 38Axel có sáu người con. Tên của họ là: Azriqam, con đầu lòng, Yishmael, Shơaryah, Obađyah, Khanan. Tất cả các người này là con của Axel. 39Nhưng người con của Êsheq em ông: Ulam con đầu lòng, Yơush con thứ, Êâliphêlet thứ ba. 40Con cái Ulam là những tay hùng binh, thiện xạ. Họ có con cháu đông đảo, một trăm năm mươi người.
           Tất cả những người này đều là con cái Benyamin.

Yêrusalem thành thánh
           9. 1Vậy là toàn thể Israel đã được ghi vào danh bộ, và này họ đã được viết trong sách các vua Israel. Sau khi những người Yuđa bị đày ở Babilon vì tội thất trung của họ, 2thì những người lập cư trước hết, những người (đã tái chiếm) sản nghiệp và các thành của họ, gồm có người Israel, tư tế, Lêvit và hạng hiến thân. 3Tại Yêrusalem đã lập cư: con cái Yuđa, con cái Benyamin, con cái Ephraim và Manassê.
           4Thuộc con cái Yuđa: Utai, con Ammihuđ, con của Omri, con của Imri, con của Bani, thuộc con cái Phares, con của Yuđa. 5Thuộc họ Shêlah: Asayah và con cái ông. 6Thuộc con cái Zêakh: Yơuel. Cộng với các anh em họ là sáu trăm chín mươi (người).
           7Thuộc con cái Benyamin: Sallu, con của Mơshullam, con của Hôđavyah, con của Ha-Sơnuah; 8Yibnơyah, con của Yơrôkham: Êâlah con của Uzzi, con của Mikri; Mơshullam con của Shơphatyah, con của Rơuel, con của Yibniyah. 9Các anh em họ, theo dòng dõi: chín trăm năm mươi sáu (người). Tất cả các người này đều là tộc trưởng.
           10Thuộc tư tế: Yơđayah, Yơhôyarib, Yakin, 11Azaryah con của Khilqiyahu, con của Mơshullam, con của Sađok, con của Mơrayôt, con của Akhitub, thủ lĩnh trong nhà của Thiên Chúa. 12Ađayah, con của Yơrôkham, con của Pashkhur, con của Malkiyah, và Maasai, con của Ađiel, con của Yakhzêrah, con của Mơshullam, con của Mơshillêmôt, con của Immer. 13Các anh em họ, những tộc trưởng là một ngàn bảy trăm sáu mươi, những người tin tường việc phụng vụ trong Nhà của Thiên Chúa.
           14Thuộc hàng tư tế, Shơmayah, con của Khashshub, con của Azirqam, con của Khashabyah; họ thuộc hàng con cái Mơrari. 15Baqbuq con của Khêresh, con của Galal, và Mattanyah, con của Mika, con của Zikri, con của Asaph, 16Oâbađyah, con của Shơmayah, con Galal, con Yơđuntun, Bêrêkyah, con của Asa, con của Elqanah, người trú ngụ ơ thôn trang Nơtôpha.
           17Những người canh cổng: Shallum, Aqqub, Talmôn, Akhiman, và đứng đầu là Shallum người anh em của họ. 18Và cho đến ngày nay, ông vẫn (canh) Hoàng môn về hướng Đông. Họ đã là những người canh cổng nơi dinh trại con cái Lêvi. 19Và Shallum, con của Qôrê, con của Ebyasaph, con của Qôrakh, và các anh em thuộc gia tộc ông, họ Qôrakh, đã tham dự công việc phụng sự trong chức giữ cửa bên Trướng, còn tổ tiên họ cai dinh trại Yavê, như những người canh lối vào. 20Pinơkhas con của Eâlêazar vào thời ông là thủ lãnh cai họ; xin Yavê ở với ông. 21Và Zakarya, con của Mơshêlêmyah, là người canh cổng nơi cửa Trướng Tao phùng. 22Những người đã được tuyển lựa làm người giữ ngưỡng cửa là hai trăm mười hai người. Đã hẳn họ đăng danh bộ ở các thôn trang, nhưng chính họ lại đã được Đavit và Samuel, thầy chiêm,  bổ nhiệm, vì sự tín cẩn của họ, 23nên họ và con cái họ đã giữ nhiệm vụ canh giữ nơi cổng Nhà Yavê, Nhà của Trướng. 24Bốn hướng Đông Tây Nam Bắc đều có người giữ cổng. 25Và anh em họ ở các thôn trang, cữ mỗi bảy ngày, lần lược theo phiên, phải đến giúp tay với họ. 26Còn các người kia, bốn người cai toán canh cổng, thì phải ở thường trực. Họ là những người Lêvit. Họ phải trông nom các phòng và các kho trong Nhà của Thiên Chúa. 27Họ qua đêm ở xung quanh Nhà của Thiên Chúa, vì mỗi người họ có phiên canh phòng, và cũng phải mở cửa, mỗi buổi sáng.
           28Có những người thuộc nhóm họ lo trông nom các đồ thờ: họ làm sổ khi đem vào và làm sổ khi đem ra. 29Cũng có những người thuộc nhóm được đặt trông coi các đồ vật, tất cả các đồ thánh, bột tinh lúa miến, rượu, dầu, trầm, hương. 30Chính những người thuộc hàng tư tế mới đứng lo biến chế hương ấy.
           31Mattiyah, thuộc các Lêvit, con đầu lòng của Shallum, họ Qôrkh đứng lo thường trực việc bánh trái. 32Cũng thuộc anh em họ, Bơnaya họ Qơhat (có nhiệm vụ) lo sắp đặt bánh trưng hiến mỗi ngày Hưu lễ.
           33Trái lại, nhóm ca đoàn gồm những tộc trưởng trong hàng Lêvit. Đối với họ không có bao giờ là rãnh việc trong các phòng, vì ngày đêm họ hằng có việc.
           34Những người này là những tộc trưởng trong hàng Lêvit, những người cầm đầu chiếu theo dòng dõi của họ. Các người ấy đều đã lập cư ở Yêrusalem.

                      9–SAUL, TIỀN NHIỆM CỦA ĐAVIT
Nguồn gốc của Saul
           35Đã lập cư ở Gabaôn: cha của Gabaôn, Yơiel, tên vợ là Maakah. 36Con đầu lòng là Abđôn, rồi xur, Qish, Baal, Ner, và Nađab, 37Gơđor, Akhyô, Zakarya và Miqlôt. 38Miqlôt đã sinh ra Khimơam. Cả họ nữa, cũng như các anh em khác, họ đã lập cư ở Yêrusalem bên cạnh anh em họ.
           39Ner đã sinh ra Qish, Qish đã sinh ra Saul. Saul đã sinh ra Yônatan, Malkishua, Abinađab và Eshbaal. 40Con của Yônatan là Mơribbaal; Mơribbaal đã sinh ra Mikah. 41Con của Mikah: Pitôn, Mêlek, Takhrêa và Akhaz. 42Akhaz đã sinh ra Yaơrah; Yaơrah đã sinh ra Alêmet, Azmavet, Zimri; Zimri đã sinh ra Môxa; 43Môxa đã sinh ra Binơa; Rơphayah con ông, Elasah con ông, Exel con ông. 44Exel có sáu người con. Tên của họ là Azriqam, con đầu lòng của ông, Yishmael, Shơaryah, Azariah, Ôbađyah, Khanan. Các người này là con của Exel.

Chiến trận Gilboa, Saul chết
           10. 1Quân Philitin giao chiến với Israel, và người Israel bỏ chạy trước mặt quân Philitin, và lăn nhào, tử trận trên núi Gilboa. 2Quân Philitin siết lại bên Saul và các con ông; và quân Philitin đã hạ được Yônatan, Abinađab và Malki-Shua, các con saul. 3Trận chiến nặng dần về phía Saul; và quân xạ thủ (bắn) cung đã nhận ra được ông và ông run lên vì khiếp quân xạ thủ. 4Saul nói với người hiệp sĩ của ông: “ Người hãy tuốt gươm đâm ta chết đi, đừng để quân không cắt bì ấy đến ngạo mạn ta”. Nhưng người hiệp sĩ sợ quá không dám. Saul mới lấy gươm và bổ nhào trên gươm. 5Người hiệp sĩ thấy Saul đã chết, thì cả Yavê nữa cũng bổ nhào trên gươm mà chết. 6Saul đã chết cùng với ba người con. Thế là tất cả nhà ông đã chết vơi nhau. 7Tất cả những người Israel ở trong cánh đồng, thấy người ta bỏ chạy và Saul cùng các con ông đều đã chết, thì họ cũng bỏ thành mà chạy trốn, nên quân Philitin đã đến lập cư trong các thành ấy.
           8Hôm sau, quân Philitin đến để bóc lột tử thi, thì họ đã gặp thấy Saul và các con nằm chết trên núi Gilboa. 9Họ đã bóc lột ông cùng lấy đầu và khí giới của ông; đoạn họ sai đem tin mừng khắp xứ Philitin, giữa các thần tượng và dân chúng. 10Họ đặt khí giới của ông trong đền thờ thần linh của họ, và đóng đinh sọ ông trong đền thờ của Đagôn.
           11Tất cả dân cư Yabesh xứ Galaađ vừa nghe biết quân Philitin đã làm gì cho Saul. 12thì hết thảy những người can đảm đã chỗi dậy. Họ đã lấy tử thi của Saul và tử thi của các con ông mà đem về Yabesh, và đã chôn cất hài cốt dưới cây sến ở Yabesh. Và họ đã làm chay bảy ngày.
           13Ấy vậy Saul đã chết vì tội thất trung ông đã phạm đến Yavê, vì không tuân giữ lời của Yavê, và cũng vì đã xin thỉnh vấn đồng bóng. 14Ông đã không thỉnh vấn Yavê, nên Người đã phạt ông phải chết và truyền ngôi qua Đavit, con của Ysai.

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn