Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Kinh Thánh Cựu Ước

Ba chi tộc lớn ở phía Tây Yorđan (Yôs 14,1 - 17,17)

                          2 – BA CHI TỘC LỚN Ở PHÍA TÂY YORĐAN

Mở đầu

             14. 1Và đây là (phần) cơ nghiệp con cái Israel đã lĩnh trên đất Canaan, (phần) cơ nghiệp Elêazar, vì tư tế và Yôsua, con của Nun, cùng đầu mục các gia tộc của các chi tộc con cái Israel. 2Cơ nghiệp của họ (lĩnh) bằng thăm như Yavê đã truyền nhơ Môsê chuyển lại, cho chín chi tộc và một nửa chi tộc bên kia (sông) Yorđan, nhưng các Lêvit đã không được ông ban cho cơ nghiệp giữa họ. 4Ấy vì con cái Yuse làm thành hai chi tộc Manassê và Ephraim, trong khi người ta không ban phần nào trong xứ cho các Lêvit, ngoại trừ các thành cư trú và các đồng cỏ các thành ấy dành cho súc vật và của cải họ có. 5Yavê đã truyền cho Môsê làm sao, thì con cái Israel đã thi hành như vậy, và họ đã phân chia đất đai.

Phần của Caleb
               6Bấy giờ con cái Yuđa lại tìm Yôsua ở Gilgal, và Caleb, con của Yơphunnê, họ Qênizzi, trình với ông: “Ông đã dư biết lời Yavê đã phán vơi Môsê, người của Thiên Chúa về số phận của tôi và số phận của ông, khi ở Cađes-Barnêa. 7Tôi đã bốn mươi tuổi đầu khi Môsê tôi tớ Yavê từ Cađenêa đã phái tôi đi dò thám đất và trong lòng có sao tôi đã báo cáo lại với Môsê. 8Các anh em lên đường với tôi đã làm cho lòng dân tan rã, nhưng tôi, tôi đã trọn nghĩa theo Yavê Thiên Chúa tôi. 9Và Môsê, ngay ngày ấy, đã thề rằng: “Quả thật, đất chân ngươi giẫm sẽ là cơ nghiệp của ngươi và con cái ngươi cho đến vạn đại, vì ngươi đã trọn nghĩa theo Yavê Thiên Chúa ta. 10Và bây giờ, này Yavê đã để tôi sống như Người đã phán, nay đã bốn mươi lăm năm, kể từ ngày Yavê đã phán lới ấy với Môsê – thuở Israel còn đi trong sa mạc – và bây giờ, này tôi đã thọ được tám mươi lăm tuổi. 11Hôm nay tôi vẫn còn kiện tráng như ngày Môsê đã phái tôi đi, sức lực tôi bấy giờ sao, sức lực tôi bây giờ vẫn vậy, để giao chiến, để vào sinh ra tử. 12vậy bây giờ xin ban cho tôi núi này, núi Yavê đã nói đến trong ngày ấy – quả ngày ấy ông đã nghe là ở đó có dân Anaqim và những thành trì lớn lao và kiên cố – miễn sao Yavê ở với tôi và tôi sẽ xua đuổi chúng, như Yavê đã phán!”.
             13Yôsua đã chúc lành cho ông và ban Hêbrôn làm cơ nghiệp cho Caleb con của Yơphunnê. 14Vì thế mà Hêbrôn đã thành cơ nghiệp của Caleb, con của Yơphunnê, người Qênizzi, cho đến ngày nay, vì ông đã trọn nghĩa theo Yavê Thiên Chúa Israel. 15tên của Hêbrôn trước kia là Qiriat-Arba.Arba đó là người cao lớn nhất trong nhóm Anaqim.
           Và xứ đã được yêu hàn hết nạn chiến tranh.

Chi tộc Yuđa
              15 1Phần chi tộc con cái Yuđa bằt thăm được, tùy theo các thị tộc của họ: vùng giới giới Eđôm, ở sa mạc Xin, về phía Nam, mãi cực Nam. 2Ranh giới phía Nam là mút cùng Biển Muối, từ Mũi nhô ra về phía Nam, 3rồi tiến theo phía Nam đèo Aqrabim, qua Xin, lên phía Nam Cades-Barnêa, qua Khesrôn, lên Ađđar, và quay sang Qarqa, 4rồi qua Asmôn và tiến đến Khe Ai Cập, đoạn ranh giới châu đầu ra Biển. “Đó là ranh giới phía Nam của các ngươi”. 5Ranh giới phía Đông là Biển Muối, đến cửa (sông) Yorđan. Rồi ranh giới, về phía Bắc, từ phía ven biển đến cửa (sông) Yorđan. 6Rồi ranh giới lên Bet-Hoglah, qua phía Bắc Bet-ha-Arabah; (rồi ranh giới lại) lên Đá-Bôhan, con của Ruben; 7đoạn ranh giới lên Đơbir, ngang qua cánh đồng Akor, và ở phía Bắc thì hướng đến Gilgal, đối diện với đèo Ađummim ở phía Nam của Khe; rồi ranh giới qua Nước-nôi En-Shêmesh, đoạn châu đầu về En-Rogel. 8Rồi ranh giới lên thung lũng Ben-Hinnom, phía Nam cạnh sườn Yơbusi - tức là Yêrusalem, - rồi ranh giới lên đỉnh đối diện với thung lũng Hinnom ở phía Tây, cuối mút cánh đồng Rơphaim ở phía bắc. 9Rồi từ đỉnh núi ranh giới lườn qua Nước-nôi Nephtoakh và đạt đến các thành núi Ephrôn; rồi ranh giới lườn qua Baal – tức là Qiriat-Yơarim. 10Rồi ranh giới bỏ Baalah vòng qua phía Tây đến núi Sêir, qua bên cạnh sườn núi Rừng phía Bắc – tức là Kơsalôn – xuống Bet-Shêmesh và qua Timma. 11Rồi ranh giới đạt khấu cạnh sườn Êqrôn về phía Bắc; Bấy giờ ranh giới lườn qua Shikharôn, qua núi Baalah và đạt thấu Yabnơel. Đoạn ranh giới châu đầu ra Biển.
            12Ranh giới phía Tây là Biển Cả. Đó lá ranh giới xung quanh bờ cõi con cái Yuđa, theo các thị tộc của họ.

Con cái Caleb chiếm vùng đất Hêbrôn
             13Caleb, con của Yơphunnê đã được ban phần giữa con cái Yuđa, theo lịnh Yavê cho Yôsua; đó là Qiriat-Arba, - Arba là thành của cha của Anaq. Đó là Hêbrôn hiện nay. 14Caleb đã xua đuổi khỏi đó ba người con của Anaq: Shêshai, Akhiman, Talmai, con cháu Anaq. 15Rồi từ đó, ông lên đánh dân cư Đơbir. tên của Đơbir trước kia là Qiriat-Sêpher. 16Và Caleb nói: “Ai đánh Qiriat-Sêpher và chiếm được, ta sẽ gả cho nó Aksah con gái của ta”. 17Otniel, con của Qơnaz, anh em với Caleb đã chiếm được thành; và Caleb đã gả Aksah con gái của ông cho (Otniel). 18Nàng vừa đến thì (Otniel xúi) nàng xin canh một thửa đồng nọ. Nàng tuột xuống lừa, và Caleb nói với nàng: “Con muốn gì?” 19Nàng thưa: “Xin ban cho con một ơn! Bởi cha đặt con mãi ở vùng Namsa, cha sẽ cho con các suối nước nữa!” Và ông đã cho nàng các suối bên trên vá các suối bên dưới. 
                20Đó là cơ nghiệp của chi tộc con cái Yuđa, theo các chi tộc của họ.

Danh sách các thành của Yuđa 
                21Các thành ở mút cùng chi tộc con cái Yuđa–ranh giới Eđom, ở Namsa, là: 
              Qabxêel, (Eder), Yagur, 32Qinah, Đimônah, (Arara), 23Qadesh, (khaxor-Yitnan), 24Ziph, Têlem, Bơalat, 25Khaxor-Khadatah, Qơriyot, Khesrôn, - tức là Khaxor, –26Arnam, Shơma, Môladah, 27Khaxar-Gađdah, Kheshmôn, Bet-Petet, 28Khaxar-Shual, Bơer-sêba Và (các thành tùy thuộc) 29Baalah, Iyim, Exem, 30Eltolad,Kơsil, Khorma, 31Xiqlag, Madmannah, Sansannah, 32Lơbaot, Shilkihim, (En-Rimmôn).
                Tất cả là hai mươi chín thành cùng các thôn trại.
                33Trong vùng Hạ bạn:
               Eshtaôl, Xoơah, Ashan, 34Zanôakh, En-Gannim, Tappuakh, Ha-Eynam, 35Yarmut, Ađullam, Sokoh, Azêqa, 36Shaaraim, Ađitaim, Ha-Gơđerah, (Gơđêritaim): mười bốn thành cùng các thôn trại.
               37Xơnan, Khadashah, Migdal-Gađ,Đilêan, Ha-Mispeh, Yoqtơel, 38Lakish, Bosqat, 39Êglôn. 40Kabbôn, Lakhmas, Kitlish, 41Gơđêrot, Bet-Đagôn, Naamah, Maqqêđa: mưới sáu thành cùng các thôn trại.
                42Libnah, Eter, Ashan, 43Yiphatakh, Ashnah, Nơxib, 44Qơilah, Akzib, Mareshah: chín thành cùng các thôn trại.
               45Eqrôn(và các thành tùy thuộc và các thôn trại; 46từ Eqrôn ra đến Biển, tất cả vùng bên cạnh Asdod cùng các thôn trại. 47Asdod và các thành tùy thuộc cùng các thôn trại; Gaza và các thành tùy thuộc cùng các thôn trại, cho đến Khe Aicập. Biển cả làm ranh giới. 
             48Ở vùng sơn cước:
            Shamir, Yattir, sokoh, 49Đannah, (Qiriat-Sêpher) – tức là Đơbir, 50Anab, Estơmôn, Anim, 51Gôsen, Khôlôn, Gilô: mưới một thành cùng các thôn trại.
             52Arab, Đurnah, Eshơan, 53(Yanum), Bet-Tappuakh, Aphêkah, 54Khumtah, Qiriat –Arba, - tức là Hêbrôn – Xior: chín thành cùng các thôn trại.
             55Maôn, Karmel, Ziph, Yuttah, 56Yizrơel, (Yorqđơam) Zanôakh, 57Ha-Quayin, Gibơah, Timna: mười thành cùng các thôn trại.
               58Khaikhul, Bet-Xur, Gơđor, 59Maarat, Bet- Anot, Eltơqôn: sáu thành cùng các thôn trại.
               (Têqoa, Ephrata – tức là Bêlem – Pơôr, Etam, Qulôn, Tatam, Shoresh, Karem, Gallim, Bêter, Manakh: mười một thành cùng các thôn trại)
              60Qiriat Baal – tức là Qiriat-Yơarim – Ha-Rabbah: hai thành cùng các thôn trại.
              61Trong sa mạc:
         Bet-ha-Arabah, Middin, Sơkakah, 62Nibshan, Thành-Muối, En-Ga-đi: sáu thành cùng các thôn trại. 
             63Còn người Yơbusi, dân cư Yerusalem, thì con cái Yuđa đã không xua đuổi được, và người Yơbusi cứ ở với con cái Yuđa tại Yêrusalem cho đến ngày nay.

Chi tộc Ephraim
               16. 1Phần con cái Yuse bắt thăm được khởi từ (sông) Yorđan trước mặt Yêrikhô, đến nước nôi Yêrikhô, về phía Đông, băng ngang sa mạc từ Yêrikhô lên núi Bêthel, 2rồi ra khỏi Bêth-El đến Luz và qua bờ cõi dân Arqi ở Atarôt, 3rồi về phía Tây, đi xuống bờ cõi dân Yaphlêti, cho đến ranh giới Bet-Khôrôn-Hạ, đến tận Gêzer, rồi châu đầu ra Biển. 4Con cái Yuse, Manassê và Ephraim chia nhau cơ nghiệp:
               5Ranh giới con cái Ephraim theo các thị tộc của họ: ranh giới của (phần) cơ nghiệp họ là, bên Đông, Atarot-Ađđar, đến Bet-Khôrôn-Thượng, 6rồi ranh giới đi về phía Tây, có Mikmơtat ở phía Bắc, và ranh giới vòng về phía Đông đến Taanat-Silô, và băng ngang qua đó về phía Đông Yanokhah, 7rồi bỏ Yanokhah xuống Atarot và Naarah, giáp gặp Yêrikhô và châu đầu ra (sông) Yorđan. 8Rồi ranh giới bỏ Tappuakh đi về phía Tây đến Khe Qanah, đoạn châu đầu ra Biển. Đó là cơ nghiệp chi tộc con cái Ephraim, theo các thị tộc của họ, 9(không kể) những thành chừa riêng cho con cái Ephraim ở giữa cơ nghiệp thuộc con cái Manassê, tất cả các thành cùng các thôn trại tùy thuộc. 10Nhưng họ đã không xua đuổi được người Canaan ở Gezer và người Canaan đã ở lại giữa Ephraim cho đến ngày nay, nhưng phải sung vào khổ dịch tôi đòi.

Chi tộc Manassê
               17. 1Phần chi tộc Manassê (bắt thăm được – Manassê là con đầu lòng của Yuse – thì thuộc về Makir, con đầu lòng của Manassê. cha của Galaad, vì là tay thiện chiến, nên đã được Galaad và Bashan. 2Rồi là (phần) của các người con khác của Manassê, theo các thị tộc của họ: con cái Abiezer, con cái Khêlek, con cái Asriel, con cái Shêkim, con cái Khêpher, con cái Shơmida: Đó là con cái Manassê, con của Yuse, hàng nam nhân, theo các thị tộc của họ. 3Xơlophơkhad, con của Khêpher, con của Galaad, con của Makir, con của Manassê, không có con trai mà chỉ có con gái; tên các con gái ông là: Makhlah, Nôah, Khoglah, Milkah, Tirxa. 4Các cô đến gặp Êleazar, vị tư tế và Yôsua, con của Nun, cùng các vương công và nói: “Yavê đã truyền cho Môsê phải ban cơ nghiệp cho chúng tôi giữa các anh em chúng tôi!” Vậy theo lịnh Yavê họ đã ban cho các cô được có phần cơ nghiệp giữa các anh em của cha các cô. 5Vậy Manassê đã bốc được mười phần, không kể xứ Galaad và Bashan ở bên kia sông Yorđan, 6vì các con gái của Manassê cũng được lĩnh phần cơ nghiệp giữa các con trai của ông. Còn xứ Galaad thì thuộc về các người con khác của Manassê.
             7Ranh giới của Manassê, phía giáp với Asher, là ở Mikmotat, đối diện với Sikem; rồi ranh giới đi về phía Nam, đến dân cư En-Tappuakh. 8Manassê được vùng Tappuakh, còn Tappuakh trong bờ cõi của Manassê thì thuộc về con cái Ephraim. 9Đoạn ranh giới xuống Khe Qanah; dọc phía Nam Khe… Các thành ấy thuộc về Ephraim đi dọc theo phía Bắc Khe; ranh giới châu đầu ra biển. 10Phía Nam thuộc Ephraim; và phía Bắc thuộc Manassê, lấy Biển làm ranh giới. Phía Bắc giáp với Asher và phía Đông giáp với Issakhar. 11Trên phần của Issakhar và Asher, Manassê có Bet-Shoan và các thành thuộc, Yiblơam và các thành phụ thuộc; với các dân cư của Đor và các thành phụ thuộc, dân cư của En-Đor và các thành phụ thuộc, dân cư của Mơgiđđô và các thành phụ thuộc, một phần ba gò nỗng. 12Nhưng con cái Manassê đã không thể chiếm được các thành ấy và các người Canaan đã cố quyết ở lại trong xứ ấy. 13Nhưng khi con cái Israel đã nên mạnh, thì họ bắt người Canaan làm khổ dịch; nhưng người ta không thể xua đuổi được chúng.

Con cái Yuse khiếu nại
               14Con cái Yuse nói với Yôsua rằng: “Tại sao ông chỉ cho chúng tôi một phần, một khoảng cơ nghiệp mà thôi, trong khi tôi đông dân thế này, như Yavê đã chúc lành cho tôi bội hậu”. 15Yôsua bảo họ: “Nếu ngươi đông dân, ngươi hãy lên rừng đốn cây đi (mà ở), trong xứ của dân Phơrizi và Rơphaim, vì núi Ephraim quá chật chội đối với ngươi!” 16Con cái Yuse nói: “Núi không đủ chổ cho chúng tôi; vả lại quân Canaan ở trong vùng đồng bằng, có xe sắt cả như bọn ở Bet-Shoan và các thành tùy thuộc, bọn ở cánh đồng Yizrơel”. 17Yôsua nói với nhà Yuse, với Ephraim và Manassê rằng: “người đông dân và lại có sức lớn. Ngươi sẽ không chỉ có một khoảng mà thôi, 18Vì núi sẽ thuộc về ngươi, và lại là rừng. Ngươi sẽ đốn rừng; các trục ra vào sẽ là của ngươi, khiến ngươi sẽ xua đuổi được dân Canaan, cho dẫu chúng có xe sắt và mạnh thế nào đi nữa”.