Sách » Y Học - Sức Khỏe » Kiến thức nhãn khoa

Điều trị Glôcôm

Glôcôm là bệnh khá phổ biến ở Việt nam. Bệnh gây đau nhức và mất thị lực vĩnh viễn không thể hồi phục. Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng thu hẹp thị trường, teo lõm gai thị giác và tăng nhãn áp. Có 2 thể bệnh glôcôm: góc đóng và góc mở. Tuỳ thuộc vào cơ chế gây bệnh mà người ta đưa ra các phương pháp điều trị khác nhau: điều trị thuốc, điều trị laser, điều trị phẫu thuật. Tuy nhiên, tất cả các phương pháp điều trị hiện nay đều nhằm mục đích làm hạ nhãn áp thông qua đó làm giảm đau và duy trì được phần thị lực còn lại của bệnh nhân.

Thông thường phương pháp điều trị được lựa chọn phải có hiệu quả nhất với ít tác dụng phụ nhất và ít gây trở ngại cho bệnh nhân nhất.

1. Điều trị thuốc:

Thuốc điều trị glôcôm được chia làm 5 nhóm dựa vào cấu trúc hoá học và tác dụng dược lý.

1.1 Các thuốc huỷ Bêta-Adrenergic (Betoptic 0,5%; Timolol 0,25-0,5%)

Thuốc có tác dụng hạ nhãn áp nhờ ức chế sản xuất thuỷ dịch. Thời gian tác dụng thường kéo dài khoảng 12h nên bệnh nhân chỉ cần tra thuốc 2 lần 1 ngày. Tuy nhiên thuốc có tác động phụ lên hệ tim mạch và hệ hô hấp nên các bác sĩ thường hạn chế sử dụng hoặc sử dụng dưới sự giám sát chặt chẽ.

1.2 Các thuốc cường Adrenergic (Adrenalin,Dipivefrin)

Tác dụng tăng cường lưu thông thuỷ dịch qua vùng bè và đường màng bồ đào – củng mạc giúp các thuốc thuộc nhóm này hạ nhãn áp trong một số trường hợp glôcôm góc mở và glôcôm do viêm màng bồ đào. Tuy nhiên thuốc chỉ giúp hạ nhãn áp cho khoảng 70% trường hợp nên thường phải phối hợp với các thuốc khác.

1.3 Các thuốc cường Cholinergic (Pilocarpin 0,5- 5%, Ecothiopat)

Sự co rút cơ thể mi giúp tăng cường lưu thông thuỷ dịch làm nhãn áp hạ. Thuốc có tác dụng nhanh sau 10-15 phút nhưng thời gian tác dụng của thuốc ngắn nên thường phải sử dụng nhiều lần trong ngày.

1.4 Thuốc nhóm Prostaglandin (Travoprost 0,004%)

Nhóm Prostaglandin làm hạ nhãn áp bằng tăng cường lưu thông thuỷ dịch qua đường màng bồ đào củng mạc. Do thời gian tác dụng của thuốc thuộc nhóm này kéo dài tới 24h nên BN chỉ cần tra thuốc 1 lần trong ngày. Thuốc gây biến đổi màu sắc mống mắt và làm ảnh hưởng đến thai nhi nên không được dùng với các bà mẹ có thai.

1.5 Ức chế Anhydrase carbonic (Axetazolamid)

Thuốc được dùng theo đường toàn thân và làm giảm mạnh việc sản xuất thuỷ dịch (tới 40-60%), tuy nhiên lại gây nhiều tác động phụ nên không thể dùng kéo dài

1.6 Ngoài ra , người ta còn sử dụng các loại thuốc tăng thẩm thấu, thuốc ức chế Anfa giao cảm,…

 2. Điều trị laser:

Ta có thể sử dụng Laser (Argon, YAG) cắt lỗ mống mắt chu biên hoặc tạo lỗ vùng bè củng- giác mạc để điều trị glôcôm. Nhìn chung, việc điều trị lase tương đối an toàn và ít biến chứng.

Tạo lỗ mống mắt chu biên: thường được sử dụng để điều trị dự phòng trên những mắt thứ 2 của bệnh nhân đã bị glôcôm ở 1 mắt hoặc để điều trị glôcôm góc đóng giai đoạn đầu. Phương pháp này tuy rất đơn giản và hiệu quả nhưng đòi hỏi trang thiêt bị đắt tiền nên chỉ thực hiện được ở một số cơ sở điều trị những khoa lớn.

Laser vùng bè củng- giác mạc: Cũng như phương pháp trên laser vùng bè củng- giác mạc chỉ được thực hiện ở các cơ sở nhãn khoa lớn. Thường chỉ các trường hợp glôcôm góc mở giai đoạn sớm mới có chỉ định điều trị bằng phương pháp này.

3. Điều trị phẫu thuật:

Phẫu thuật được lựa chọn để điều trị glôcôm góc đóng giai đoạn muộn, glôcôm góc mở không điều chỉnh với các loại thuốc và một số trường hợp glôcôm đặc biệt khác. Đôi khi, ta cũng có thể can thiệp phẫu thuật sớm hơn nếu bệnh nhân không có điều kiện dùng thuốc hoặc điều trị lủng.

Phẫu thuật cắt mống mắt chu biên:

Phẫu thuật này được chỉ định tại các cơ sở chưa có máy laser hoặc việc điều trị bằng laser không thể thực hiện được (Giác mạc, tiền phòng quá nông,…)

Phẫu thuật lỗ dò:

Phẫu thuật cắt đi 1 phần bè củng giác mạc đã được thực hiện từ khá lâu và kỹ thuật vẫn luôn được liên tục cải tiến. Hiệu quả của phương pháp phẫu thuật rất cao, tỷ lệ điều chỉnh nhãn áp khá lớn. Tuy nhiên song song với nó là biểu hiện tăng lên của tỷ lệ biến chứng do nguy cơ phẫu thuật vào nội nhãn . Hiện nay, các phẫu thuật lỗ dò đã được biến đổi rất nhiều như sử dụng phối hợp thuốc chống chuyển hoá để làm giảm tỷ lệ tái phát, cắt củng mạc sâu để hạn chế biến chứng,…

Phẫu thuật đặt ống dẫn lưu:

Được sử dụng trong những trường hợp nhãn áp khó điều chỉnh và hiệu quả hạ nhãn áp của phương pháp rất cao. Tuy nhiên phương pháp này cũng gây ra những biến chứng tương đối trầm trọng nên chỉ được sử dụng trong trường hợp mắt có thị lực rất thấp và khi các phương pháp điều trị khác không còn hiệu quả.

Phẫu thuật tác động vào thể mi:

Để gây giảm tiết vùng thể mi, có thể sử dụng điện đông, lạnh đông hoặc quang đông áp vào vùng thể mi. Phương pháp này chỉ được sử dụng trên những mắt không còn thị lực và mắt gây quá đau nhức cho bệnh nhân.

Tóm lại, có rất nhiều phương pháp để điều trị glôcôm nhưng việc lựa chọn phương pháp điều trị nào thích hợp còn tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh, khả năng tới bệnh viện theo dõi bệnh lâu dài của bệnh nhân, tuỳ thuộc hiệu quả điều trị bệnh và tác dụng dược lý của từng loại thuốc,…

Bs. Ths. Bùi Thị Vân Anh