Sách » Y Học - Sức Khỏe » Kiến thức nhãn khoa

Điều chỉnh quang học sau mổ đục thể thuỷ tinh ở trẻ em

Điều trị bệnh đục TTT ở trẻ em không chỉ đơn thuần là phẫu thuật, mà vấn đề quan trọng là thời điểm phẫu thuật, cách thức điều chỉnh quang học và tập luyện để phục hồi thị giác sau mổ.

Cho đến nay trên thế giới có 4 phương pháp điều chỉnh quang học sau mổ lấy TTT cho trẻ em là: đeo kính gọng, dùng kính tiếp xúc, phẫu thuật đắp giác mạc và đặt thể thuỷ tinh nhân tạo (TTTNT). Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng.

Đeo kính gọng là dùng kính hội tụ có công suất khoảng +9 đến +12 điốp. Đây là một phương pháp đơn giản, có thể sử dụng ở trường hợp đục TTT hai mắt ngay sau phẫu thuật, và đễ dàng thay đổi công suất kính để điều chỉnh thay đổi khúc xạ khi trẻ lớn lên. Nhưng còn nhiều bất lợi như không thể dùng được trong đục TTT một mắt, do sự chênh lệch kích thước hình ảnh ở hai mắt. Trong những trường hợp đục TTT hai mắt thì trẻ còn nhỏ quá (dưới 3 tuổi) cũng không chịu đeo. Đối với trẻ lớn hơn, đeo kính cũng có cảm giác choáng váng do kính phóng đại hình ảnh lớn tới 30%. Hơn nữa nhìn hình không thật và thị trường bị thu hẹp.

Kính tiếp xúc là một thấu kính hội tụ đặt trực tiếp lên giác mạc. Nó có ưu thế hơn kính gọng là có thể sử dụng được sau phẫu thuật đục TTT một mắt do những ưu điểm sau đây: phóng đại hình ảnh chỉ khoảng 10%, thị trường rộng hơn, có thể sử dụng sớm ngay sau mổ và dễ dàng thay kính để phù hợp với thay đổi khúc xạ ở trẻ em. Ngoài ra kính tiếp xúc có ưu thế về mặt thẩm mỹ, thay thế tốt hơn cho việc đeo kính quá dày. Tuy nhiên những bất cập của kính tiếp xúc cũng không ít. Trẻ nhỏ khó sử dụng và kém chịu đựng kính tiếp xúc, việc tháo lắp kính thường xuyên dễ gây nhiễm trùng và làm tổn thương biểu mô giác mạc. Luôn luôn phải có sự chăm sóc cẩn thận của gia đình, và việc thường xuyên phải theo dõi ở cơ sở y tế cũng gây khó khăn cho gia đình và bệnh nhân. Thêm vào đó tỷ lệ mất kính cao, có khi tới 3-4 lần trong một năm. Chính vì vậy mà tỷ lệ điều trị thất bại của những trường hợp dùng kính tiếp xúc cũng rất cao tới 30%.

Điều chỉnh bằng phẫu thuật đắp giác mạc là dùng một mảnh thấu kính sinh học (lấy từ giác mạc người) đặt lên và khâu vào mặt trước giác mạc của trẻ đã được mổ lấy TTT, nhưng loại này khó thực hiện ở trẻ nhỏ và khó đánh giá kết quả.

Điều chỉnh bằng thể thuỷ tinh nhân tạo là phương pháp đặt TTTNT bằng chất liệu PMMA vào vị trí của TTT tự nhiên. Về phương diện lý thuyết đây là phương pháp điều chỉnh quang học tốt nhất: TTTNT được đặt ở vị trí giải phẫu, tạo điều kiện tốt nhất để nâng cao thị lực và phục hồi thị giác 2 mắt  cho trẻ. Kích thước hình ảnh tạo ra ở võng mạc hầu như không tăng, tỷ lệ phóng đại chỉ vào khỏng 3-4%, điều đó cho phép sử dụng TTTNT sau mổ đục TTT một mắt. Thị trường hoàn hảo và thị lực ở vùng ngoại biên thì gần như bình thường.

Kết quả thị lực của trẻ em sau mổ đục TTT rất không ổn định, phụ thuộc vào những tổn thương trước và sau mổ, cũng như những tổn thương chức năng và vận nhãn ở trẻ do bệnh đục TTT gây ra. Thêm nữa, những bệnh lý phối hợp của toàn thân, đặc biệt như trì trệ về tinh thần, thường làm cho việc đánh giá thị lực gặp khó khăn.

Bs.Ts. Lê Kim Xuân

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn