Sách » Y Học - Sức Khỏe » Kiến thức nhãn khoa

Chấn thương mi mắt

Những vết thương trong nhãn khoa có thể do tai nạn, chơi thể thao, do phẫu thuật, ô nhiễm trong môi trường, hoá chất, tia cực tím và những bức xạ tia ion...Ngoài tình trạng bệnh tật, thẩm mĩ, và các tác động xã hội liên quan đến chấn thương, chi phí tài chính cũng rất lớn. Chấn thương mi có thể phòng được bằng cách đeo các loại kính dự phòng, đáng tiếc hiện nay còn ít người sử dụng kính bảo hộ.

I - CHẤN THƯƠNG MI VÀ HỐC MẮT

Chấn thương mi có thể đơn thuần tổn thương tại mi và cũng có thể phối hợp với các tổn thương khác như chấn thương vùng hàm mặt, chấn thương hốc mắt và chấn thương nhãn cầu kèm theo.

Cần phải kiểm tra thị lực và tình trạng của nhãn cầu trước khi quyết định phục hồi những chấn thương của phần mi và bộ phận phụ cận. Nếu chấn thương nặng thì chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) đầu mặt là cần thiết để đánh giá một cách toàn diện các tổn thương, phải loại trừ được chấn thương sọ não, nhất là khi rất khó đánh giá tình trạng giảm sút của tri giác (trong trường hợp say rượu hay choáng não)

Loại trừ thủng nhãn cầu cũng rất cần thiết. Thường thì chúng ta phải khám được các tổn thương nhãn cầu ngay. Nhưng có thể chúng ta gặp nhiều khó khăn trong khi khám: bệnh nhân không hợp tác, bệnh nhân là trẻ em… Chính vì vậy, một số trường hợp thủng nhãn cầu có khi chỉ được phát hiện ra khi gây mê toàn thân. Nhãn cầu chấn thương thường phối hợp với chấn thương mi và chấn thương hốc mắt.

Những câu hỏi quan trọng được đặt ra trước một trường hợp chấn thương mi :

  • Hệ thống lệ có bị thương tổn hay không?
  • Cơ nâng mi có bị thương tổn hay nguyên vẹn ?
  • Có những phần nào của mi bị mất không?

Hơn nữa, sự cần thiết phải làm CT Scanner để loại trừ dị vật nội nhãn hay gẫy xương. Nếu những việc tìm kiếm như vậy được làm, sẽ dễ dàng hơn để lập kế hoạch phục hồi lại mi và thông báo với bệnh nhân và gia đình về sự tổn hại của chấn thương và những việc cần phải làm.

II - CÁC LOẠI CHẤN THƯƠNG MI MẮT

1 - Chấn thương đụng dập

Bầm máu và phù mi là dấu hiệu thường gặp nhất của chấn thương đụng dập. Mi sưng mọng, mầu đỏ hay tím sẫm, mắt khó mở và đau.

2 - Chấn thương xuyên

a) Vết rách không ảnh hưởng đến bờ mi

Những vết rách nông ở da và cơ vòng cung chỉ cần khâu da. Nếu những vết rách có thấy mỡ hốc mắt trong vết thương chứng tỏ đã tổn thương đến vách hốc mắt, cần khám cơ nâng mi trước khi khâu để tránh sụp mi. 

b) Vết rách ở bờ mi

Vết rách ở bờ mi phải được khâu chính xác để tránh tạo thành hình chữ V, đảm bảo tính thẩm mĩ của mi.

c) Vết rách ở góc mắt

Khi có vết rách ở góc trong mắt cần phải khám kỹ hệ thống dẫn lệ và gân góc mắt. Khi khám và điều trị những vết rách ở góc trong hay góc ngoài cần phải xem cả ba chiều (vị trí của góc mắt theo chiều ngang, dọc và trước sau) để phẫu thuật đạt được kết quả tối ưu về chức năng và thẩm mĩ. Chú ý đến hình dạng khác nhau của góc trong và góc ngoài mắt. Góc ngoài thì nhọn và góc trong thì hơi tròn. Những vấn đề về thẩm mĩ và chức năng của mi sẽ xuất hiện nếu như không nhận thấy sự khác nhau này.

Chấn thương gây tổn thương đường dẫn lệ cần được thăm dò nhẹ nhàng và phải được tiến hành phẫu thuật ở các cơ sở chuyên khoa để tạo hình lại đường dẫn lệ.

d) Chấn thương toàn bộ chiều dầy của mi

Vết thương thường gặp là theo chiều đứng và ngang qua bờ mi. Rách mi theo chiều đứng thường không gây tổn thương cơ nâng mi như trong vết thương theo chiều ngang mi. Thông thường nếu vết thương không gây mất tổ chức thì sự phục hồi đầu tiên có thể đạt được. Nếu có rất nhiều tổn thương và các tổn thương không đồng đều, tổ chức phải được ráp lại và mô tả thật cẩn thận và bảo tồn, nếu cho phép. Nghĩa là các tổ chức không quá dập nát hoại tử. Một nguyên tắc trong chấn thương mi là tiết kiệm cắt lọc các tổ chức.

e) Những chấn thương gây mất tổ chức mi

Trong một vài trường hợp chấn thương gây mất tổ chức mi gây nên khuyết mi hay làm ngắn chiều cao của mi (gây hở mắt sau này). Những trường hợp này cần phải được phẫu thuật tạo hình mi để giữ lại chức năng và thẩm mĩ của mi

f) Chấn thương gây tổn thương cơ nâng mi

Những tổn thương này thường được chờ khoảng 6 tháng đến khi không còn khả năng tự phục hồi chức năng. Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ là đối với trẻ em cần phẫu thuật sớm để tránh nhược thị sau này.

g) Bỏng mi

Đây là một dạng tổn thương đặc biệt. Tổn thương bỏng mi có thể có cả bỏng trên diện rộng ở cơ thể và cả bỏng trong nhãn cầu.

Bỏng mi gây mất chức năng che phủ bảo vệ của mi, do đó dễ tổn thương các cấu trúc khác của mắt. Do vậy điều trị phải khám và chăm sóc kỹ mắt và mi mắt. Điều trị những bệnh nhân này thường dùng thuốc nước, thuốc mỡ kháng sinh tra mắt, dùng màng dính chống bóc hơi nước mắt.Thường ghép da hoặc tạo hình mi khi sẹo đã ổn định.

BS.QUỐC ANH