Sách » Văn Học Trong Nước » Kho tàng lục bát dân gian

Quảng Nam qua ca dao

 

“Ðất Quảng nam chưa mưa đã thấm

Rượu Hồng Ðào chưa uống đã say

Bạn về đừng ngủ gác tay

Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo”.

 

     Nói đến Quảng Nam người ta thường nghĩ đến vùng đất mở đầu cho cuộc Nam tiến từ đó làm bàn đạp tiến đến đồng bằng sông Cửu Long.

 

     Quảng Nam có các nhà cách mạng, khoa bảng gọi là đất “Ðịa Linh Nhân Kiệt” “Ngũ Phụng Tề Phi”, góp phần vào xây dựng đất nước, đem lại điểm son lịch sử nước nhà, và cũng là vùng đất của thi ca, đóng góp vào lâu đài Văn Hóa Dân Tộc.

 

     Trong nhân gian ca dao truyền tụng qua câu hò giọng hát, phong phú và lãng mạn. Câu chuyện cô gái hái dâu tại Ðịên Bàn nhờ tâm hồn văn nghệ lời ca trữ tình, giúp cho nàng bước lên  đỉnh cao của danh vọng. 

 

     Theo Ðại Nam Liệt truyện Tiền Biên, nhân chuyến công du của Sãi Vương vào thăm Quảng Nam, xem xét công việc của Trấn thủ Nguyễn Phúc Kỳ, có Nguyễn Phúc Lan con thứ của Sãi Vương sinh 13.8.1601 là cháu ngoại của Mạc Kính Điển. Đi du thuyền trên sông trong đêm gió mát trăng thanh, dừng thuyền bên gành Ðiện Châu thuộc quận Ðiện Bàn ngày nay. Thế Tử Lan thấy trăng đẹp bèn xuống một chiếc thuyền con sai tuỳ tùng chèo đi vừa câu cá vừa ngắm trăng. Thuyền Thế Tử đang lững lờ trôi giữa dòng bỗng nghe tiếng hát cất lên từ ven sông: Trong đêm vắng nghe giọng ca từ xa vọng lại.

 

Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng

Thiếp thương phận thiếp mà hồng nắng mưa

Thuyền rồng Chúa ngự đi đâu

Thiếp thương phận Thiếp hái dâu một mình

 

     Tiếng hát trong trẻo của người con gái giữa một đêm trăng gợi trí tò mò của thế tử. Thế Tử Lan cho thuyền cập vào bờ nơi có tiếng hát. Đó là một bãi đất trồng dâu ở ven sông. Khi lên bờ, Thế Tử Lan bắt gặp một thiếu nữ thật đẹp đang ngồi ngắm trăng. Nguyễn Phúc Lan tìm đến với nàng, như hai siêu tần số tâm hồn gặp nhau, tình yêu đến thật tình cờ không hẹn ước, phải chăng đó là duyên nợ định mệnh an bài. Sãi vương cho phép Nguyễn Phúc Lan làm lễ thành hôn với nàng “hái dâu” là  Ðoàn Thị Ngọc con gái thứ 3 của quận công Ðoàn Công Nhạn quê Ðiện Bàn

 

     Thế Tử xin Chúa cho phép nàng được vào hầu trong phủ. Kể từ đó, bà trở thành phu nhân thế tử. Khi thế tử nối ngôi Chúa năm 1635-1648 Nguyễn Phúc Lan lên ngôi là Công-Thượng-Vương, bà Ðoàn Thị Ngọc được Sãi Vương sủng ái đưa lên chánh phi, phong Hiếu-Chiêu Hoàng-Hậu. Bà trở thành Chính Phu Nhân. Bà là người công dung ngôn hạnh vẹn toàn nên rất được Chúa sủng ái cũng như được mọi người trong phủ kính yêu. Bà mất năm Tân Sửu (166, lăng bà tại Gò Cốc Hùng, núi Chiêm Sơn, Quảng Nam)

 

     Ca dao là di sản văn hóa, văn chương bác học của dân tộc Việt Nam là những câu hát bình dân, thông thường trong sinh hoạt xã hội. Ðược truyền tụng từ đời nầy sang đời khác, ca dao mang mọi hình thái khác nhau theo thời gian, nói lên tình yêu của tuổi xuân nam nữ, trên cánh đồng lúa với trưa hè trong tiếng ve sầu bên cây phượng vĩ, hay nỗi buồn chia tay của tuổi học trò, diễn tả mọi sinh hoạt đời sống, với thiết tha hay tiếng thở dài vì tuyệt vọng, nói lên lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, cảnh tan thương bất mãn hay lòng hào hùng trong đấu tranh dành lại độc lập... Mỗi địa phương có những câu ca dao khác nhau, người Quảng Nam tiếp xúc văn minh ngoại quốc, từ thế kỷ thứ 17. Trung Hoa có nền văn hóa lâu đời, ngược lại Tây Phương có tài về khoa học kỷ nghệ, bởi thế không có gì tuyệt đối với việc tiếp xúc học hỏi của người dân Quảng Nam, Tổ tiên khi xưa đặt chân đến nhận vùng đất Chiêm Thành với bản tính can đảm lúc đến lập nghiệp trong vùng đất mới khai phá. Thích canh tân tiến bộ trong tình thần dân chủ, cởi mở thích phát biểu ý kiến và phải có lý luận rõ ràng. Ai nói điều gì mơ hồ không có dẫn chứng đúng thường bị cãi lại ngay. Cãi trở nên truyền thống của người Quảng Nam, bởi thế ca dao có nói về cá tính trong sinh hoạt xã hội

 

Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngải hay lo

Bình Ðịnh nằm co, Thừa Thiên ăn hết

 

     Ðời sống gia đình, tình yêu mộc mạc của vợ hiền đảm đang việc nhà, dành thì giờ cho chồng yên chí học hành đỗ đạt ra giúp đời, hay hai người chỉ mới yêu nhau nhưng chờ ngày bái tổ vinh qui .

 

     Ngày xưa các thì sinh Quảng Nam, phải vượt đèo Hải Vân ra Huế thi trong các kỳ thi do triều đình tổ chức, vác lều chỏng ứng thí nhà giàu đi ngựa, nghèo thì đi bộ có người gánh phụ hành trang đường xa cách trở

 

     Các chàng trai xứ Quảng ra Huế thi, thấy nàng gái Huế mặc áo dài, mái tóc thề tung bay trong gió nhẹ của sông Hương, đi qua cầu Trường Tiền sáu vày mười hai nhịp. khác với hình ảnh người yêu hay vợ hiền ở Quê nhà có thể với cái nhìn ngẩn ngơ

 

Học trò trong Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

 

     Sau nầy trai Quảng Nam ra Huế học Ðại học không còn ngẩn ngơ, đến nổi đi không đành..như các cụ ngày xưa, học xong Ðại học đi làm việc khắp nơi, không giới hạn làm quan ở triều đình Huế. Những thành phố Hội An, Ðà Nẵng, Tam Kỳ trở nên sầm uất, các nàng gái xứ Quảng cũng xinh đẹp, văn minh dịu dàng.. nên các chàng  sưả lại chữ  “thấy' ra  chữ  ”mấy”

 

     Tình yêu lòng thủy chung thường nhắc đến, dù học hành đỗ đạt làm quan, đừng quên tình yêu thuở ban đầu lưu luyến ấy.

 

Sáng trăng trải chiếu hai hàng  

Cho anh đọc sách cho nàng quay tơ

Quay tơ vẫn giữ mối tơ,

Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh.

**

Non non, nước khơi chừng

Ái ân đôi chữ xin đừng quên nhau

Tình sâu mong trả nghĩa đền

Ðừng vui chốn khác mà quên chốn nầy 

 

     Vợ chồng quê ngày ngày bận rộn việc ruộng đồng, ban đêm còn tranh thủ thời gian làm thêm việc nhà, không mong ước gì cao xa ngoài lòng chung thủy 

 

Ðêm hè gió mát, trăng thanh

Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp chừng

Lạt chẳng mỏng sao thừng được tốt

Duyên đôi ta đã trót cùng nhau

Trăm năm thề những bạc đầu

Chớ ham phú quí đi cầu trăng hoa.

 

     Tình yêu khép kín trong lễ giáo gia đình 'tình trong như đã, mặt ngoài còn e” nhưng tình yêu của phố Hội An cũng lãng mạn dành cho thi nhân và khách vãng lai:

 

Ai đi phố Hội, Chùa Cầu

Ðể thương , để nhớ, để sầu cho ai,

Ðể sầu cho khách vãng lai,

Ðể thương để nhớ cho ai chịu sầu

 

     Hội An  nơi hẹn hò của các cặp nhân tình trong các mùa làm việc chung với nhau

 

Thương nhau chớ quá e dè,

Hẹn nhau gặp lại bến Cầu Rô Be.

Thiếp nói thì chàng phải nghe

Thức khuya, dậy sớm, làm chè10 ngày 12 xu 

 

Mãn mùa chè, nệm cuốn sàn treo

Ta về, bỏ bạn, cheo leo một mình,

Bạn ơi, bạn chớ phiền tình,

Mùa ni không gặp, xin hẹn cùng mùa sau 

 

Lạy trời, mưa xuống cho mau

Chè kia ra đọt, trước sau cũng gặp nhau

                                                    

     Tình yêu có thể vượt không gian và thời gian không còn ngăn sông cách núi dù ở đâu cũng có thể tìm đến, ngày xưa thiếu phương tiện giao thông, phải vượt núi đèo tìm đến với người  yêu trong đời sống mộc mạc của hoa đồng cỏ nội, hay trên đồi sim tím

 

Ðói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người yêu (thương)

 

     hay

 

Thương nhau, mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội , mấy đèo cũng qua   

 

     Khoảng cách  không thể so sánh với tình yêu, đường xa cách trở có thể thâu gần lại

 

Rằng xa: cửa ngõ cũng xa

Rằng gần: Vĩnh-Ðiện, La-Qua cũng gần

 

     Thân phận con gái đi lấy chồng, nhưng hình ảnh sinh hoạt trong gia đình không thể quên dù được sống hạnh phúc bên chồng, nhưng đôi lúc chạnh lòng nhớ thương cha mẹ

 

Chiều chiều ra đúng ngỏ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Chiều chiều mây phủ ải vân

Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn

 

     Hay

 

Chiều chiều mây phủ Sơn trà

Lòng ta thương bạn, nước mắt và  lộn cơm

                                                     

     Người Quảng Nam tính tình cương trực, nói thẳng, không giấu diếm nỗi lòng, trong tình yêu  gia đình, xã hội đạo làm người luôn được tuyệt đối tôn trọng

 

Ðối với ai ơn trọng , nghĩa dày

Một hột cơm cũng nhớ

Một gáo nước đầy vẫn chưa quên

 

     Người chồng vì bổn phận đi xa, vợ hiền lo gánh vác việc nhà nuôi con phụng dưỡng mẹ già, giữ lòng thủy chung, mong ước ngày đoàn tụ dưới mái ấn gia đình để con có mẹ có cha, Truyền thống đàn bà Việt Nam hy sinh giúp chồng mong làm nên sự nghiệp, vợ khôn ngoan làm quan cho chồng tiễn đưa chồng ra đi không  phải là những nụ hôn nồng nàn, nhưng là lời nhắc nhủ 

             

Anh đi em ở lại nhà

Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ

Lầm than bao quản muối dưa

Anh đi ! anh liệu chen chân với đời

 

     Hoặc

 

Ðứng bên ni sông, ngó qua bên kia sông

Thấy nước xanh như tàu lá,

Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua Hàn

Thấy phố xá nghinh ngang

Kể từ ngày Tây lại đất Hàn,

Ðào sông cù nhĩ , tìm vàng Bông miêu.

Dặn tấm lòng , ai dỗ cũng đừng xiêu,

Ở nuôi Thầy Mẹ, sớm chiều cũng có anh

 

     Các địa danh Tý Sé Hòn Kẻm, Ðá Dừng nhưng chúng ta chưa một lần bước chân đến đó. Xem lại bản đồ Quảng Nam địa danh trên nằm trên sông Thu bồn phát xuất từ trên nguồn chảy qua giữa quận Quế Sơn và Ðại Lộc, nhưng thưở xa xư a có thể người ta đến đó làm việc, trên sông dưới nước với cảnh khỉ ho cò gáy, nhớ về Mẹ là nhớ về cuội nguồn dân tộc

 

Ngó lên Hòn-Kẻm, Ðá-Dừng,

Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi

 

     Công ơn sinh thành của cha mẹ cao như trời, rộng như biển, con cái có lòng hiếu thảo đó là nguồn an ủi đối với cha-mẹ lúc tuổi già. Nhắc lại tình mẫu tử cao qúy, qua kinh nghiệm cuộc sống nhắn gởi ai còn cha mẹ nên giử lòng hiếu thảo.  

 

Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao Mẫu từ

 

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

 

     Người mẹ hiền thường răng dạy con gái qua ca dao như thứ luân lý thực hành

 

Mình là con gái trong nhà

Hình dung yểu điệu nết na dịu dàng

Khi ăn khi nói chững chàng

Khi ngồi khi đứng bỉ bàng dung nghi.

     Sống với quê nhà bên lũy tre xanh, trên con đường làng bé nhỏ, hay phải đi xa một phương trời nào, khó có thể quên được quê hương xứ Quảng, kỷ niệm gắn bó cuộc đời, sau năm 1975 làng sóng bỏ nước ra đi tìm tự do, được định cư khắp nơi trên Thế giới, hội nhập vào văn minh xứ người, nhưng nỗi lòng người ra đi viễn xứ vẫn canh cánh bên lòng nhớ thương về quê Mẹ, mỗi địa phương mang một đặc thù riêng

 

 

Ai đi cách trở sơn khê

Nhớ tô Mì Quảng, tình quê mặn mồng

 

Hội An đất hẹp, người đông

Nhân tình thuần hậu là bông đủ màu

 

Hội An bán gấm, bán điều

Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành

 

Chiêm Sơn,, là lụa mỹ miều

Sớm mai mắc cưởi, chiều chiều bán tơ

 

Chồng em là lái buôn tiêu

Ði lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng

                                  

 

     Dãy trường sơn chạy dọc theo bờ bể từ Nam Ô cho tới Chu Lai phần lớn dân số sống về nông nghiệp và ngư phủ cùng nhau phát triển kinh tế. Các quận trên nguồn như Tiên Phước, Quế Sơn...muốn ăn cá phải mua cá hấp chín, bán vào các buổi chợ sớm, các loại mắn người miền biển gánh lên nguồn đổi lấy ngũ cốc, tùy theo các mùa, nhưng loại cá chuồn, người ta thường làm thính hay hấp, cá chuồn nấu với mít non  một món ăn ngon tuyệt vời

      

Ai về nhắn với ngọn nguồn

Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên  

             

     Trái bòn bon bé nhỏ nhưng có hương vị ngọt, ngày xưa khi vua Gia Long hái ăn khi vượt núi băng ngàn để chống lại nhà Tây Sơn. Thống nhất Sơn Hà 1802, đặt tên trái bòn bon là 'Nam-Trân', trái măng cụt tại miền Nam tên là 'Giáng-Châu', để nhớ lại lúc thiếu lương thực nhà vua và quân lính thường hái  các trái cây trên

 

Trái bòn bon trong tròn ngoài méo

Trái thầu dầu trong héo ngoài tươi

Em thương anh ít nói ít cười

Ôm duyên ngồi đợi chím mười con trăng

  

     Vùng biển cát trắng Nam Ô nằm dưới chân đèo Ải Vân, sản xuất nước mắn ngon không thua gì Phú-Quốc hay Phan-Thiết. Chúng ta ít nhất một lần ăn với dưa cải muối với nước mắn Nam Ô

 

Nói cho lắm cũng nước mắn dưa cải

Nói cho phải cũng dưa cải nước mắn

 

Tường Linh có những vần thơ đi vào văn học

Ðêm Ðà Nẵng vọng về cơn gió biển

Bún chợ Chùa thương nước mắn Nam Ô

 

     Quận Hòa Vang giáp Ðà Nẵng có bến xe Ðò Xu, ngã ba Hòa Cầm quận lỵ tại Cẩm Lệ nơi sản xuất nem, tôi không hút thuốc nhưng nghe người ta thường nói nơi nầy nổi tiếng một vùng trồng thuốc thơm ngon, gọi là thuốc lá Cẩm Lệ các vùng Thanh Quýt cũng trồng cau, thuốc lá được các ghe thương gia tới mua bán

 

Tơ cau thuốc lá đầy ghe

Hội An buôn bán tiếng nghe xa gần.

 

     Hội An làm bánh tổ một đặc sản, vùng Tiên Ðỏa từ Hương An trở vào cho đến quận Thăng Bình vùng cát trắng phau thích hợp cho việc trồng khoai lan .

 

Nem chả Hòa Vang

Bánh tổ Hội An

Khoai lan Tiên Ðỏa

Thơm rượu Tam Kỳ

 

     Quận Trà My tại Quảng Nam trồng Quế vỏ nhiều dầu, phẩm chất cao đặc sản nơi nổi tiếng các nơi khác trồng nhưng có thể xa khí hậu phong thổ chất lượng kém, bởi vậy khó nơi nào sánh bằng,

 

Quế Trà My thứ cay thứ ngọt

Bởi anh thợ rừng mới lọt tay anh

Phàn du, bạch chỉ rành rành

Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân

 

     Quế  sản phẩn giá trị như Yến ở cù Lao Chàm nổi tiếng thơm ngon và đắc tiền

 

Ðầy hàng tháng 8 ngát mùi hương

Sửa quế người xem khá rộng ràng

Số chở hàng năm khôn kể xiết,

Bán xong lại đến lấy thêm hàng..

 

     Lời ru ngọt ngào của mẹ hiền, tiếng ru à ời ngọt ngào âm thanh kéo dài, trong những trưa hè nắng gắt, đem lại cho con giấc ngủ bình yên, liên khúc ca dao trữ tình như lời nhắn nhủ, lớn lên phải khôn ngoan vào đời. Nhờ truyền khẩu nên các bà thuộc lòng các câu ca dao kết hợp lại thành liên khúc ru con

 

Ru con con thét cho muồi

Ðể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Mua vôi chợ Quán chợ Cầu

Mua cau Nam phổ mua trầu chợ Dinh

(Tùy theo mổi điạ phương có thể thay đổi tên chợ )

 *

Công cha nghĩa mẹ chớ quên

Ơn vua lộc nước mong đền con ơi

Như vầy mới gọi rằng trai

Trên lo nghĩa Chúa, dưới mài Thảo thân.

            *           

Con mèo trèo lên cây cau

Hỏi thăm chú chuộc đi đâu vắng nhà

Chú chuộc đi chợ đường xa

Mua mắn mua muối giổ cha chú mèo

 

     Các nàng được ví von như tấm lụa đào đẹp, như những giọt mưa sa trong mỗi dạo xuân về, con gái dịu dàng tha thước, nhưng thân phận so sánh như 12 bến nước trong nhờ đục chịu, tình yêu duyên nợ cột vào với nhau, tình yêu chỉ là giấc mơ cho phương trời viễn mộng? Ngày xưa chịu ảnh hưởng gia đình “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” nhưng có câu 'ép dầu ép mở ai nở ép duyên”.

 

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai ?

Thân em như hạt mưa rào

Hạt sa bãi cát, hạt vào vườn hoa

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đồng nội, hạt sa vũng lầy. 

 

     Quảng Nam có những trang sử oai hùng và bi đát, qua các cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp.Tình thần yêu nước hy sinh của sĩ phu và những người dân quê, họ sống trên cánh đồng lúa bờ dâu, hiền từ chất phát không hận thù. Dưới thời Pháp thuộc bị bóc lột đến tận xương tủy, nên mọi người cùng nắm tay nhau lên đường đấu tranh. Phong trào đấu tranh xin xâu giảm thuế phát xuất tại Quảng Nam đánh dấu một kỷ nguyên mới dưới thời nô lệ.

 

Ðất Quảng Nam từ năm bính ngọ (1906)

Xâu ngũ nhật, công sưu công ích, đường trường làm tột núi cao

Thuế bách phân gia ngũ gia tam,đủ ngón vét từng xu nhỏ

Mãi tới xuân nầy (1908) cực đà hết chỗ,

Ra tết trời làm tai biến, hạn hán tiêu khô

Nhiều nơi đất bỏ hoang dân tình đói khổ..

 

     Làng sóng đấu tranh nổi lên toàn tỉnh Quảng Nam sau đó kéo dài các tỉnh miền Trung

 

 

 

Ðời ông cho tới đời cha

Ðời nào cực khổ như ta đời nầy

Ngoài đồng cắm cọc giăng giây

Vườn nhà đóng thuế, vợ gầy con khô.

 

Ðời xưa thuế một quan năm

Ðời nay thuế lại hai đồng bốn giác

Con tay bồng tay dắt

Vợ tay đỡ tay mang

Vui chi mà hát mà mừng

Mua ngày mà ở cầm chừng với Tây

Từ ngày Tây chiếm Ðế đô

Xâu cao thuế nặng , biết  chừng mô hởi trời !

Còn lo một nỗi khổ đời

Quan trên ỷ thế nặng lời hiếp dân. 

 

***  

Kể từ Ðồn Nhất kể vô

Liên Chiểu, Thủy Tú, Nam Ô, xuống Hàn

 

Hà Thân, Quán Cái, Mân Quang

Miếu Bông, Cẩm Lệ là đàng vô ra

 

Ngó lên chợ Tổng bao xa

Bước qua Phú Thượng, Ðại La, Cồn Dầu

 

Cẩm Sa, Chợ Vải, Câu Lâu

Ngó lên đường cá, thấy cầu Giáp năm

 

Bây chừ, thiếp viếng, chàng thăm,

Ở cho trọn nghĩa, cắn tăm nằm chờ.

 

     Thời tiết các năm ấy hạn hán bị mất mùa, thu hoạch ngũ cốc chưa đủ sống, nhưng bọn sai nha thâu thuế lấy xâu không nương tay, chỉ muốn thu tiền cho đầy túi dâng cho bọn thực dân hưởng thụ, bắt dân phu đi làm đường đào mỏ.. sống chết mặc bay. Người dân Quảng Nam không chịu đựng cảnh người bóc lột người của thời  nô lệ, từ đó họ đã biến đau thương thành hành động

 

Tháng giêng cho chí tháng hai

Con dân áo rách quần xài đi ra

Mười lăm cho đến ông già

Cơm đùm, ruột tượng, xuống tòa lãnh ban

Chức sắc cho chí diên quan

Làm đơn  kêu gọi các làng xin xâu

 

***  

Kể từ cầu Ông Bộ kể ra

Cây Trâm, Trà Lý, bước qua Bàu Bàu

 

Tam Kỳ, chợ Vạn bao lâu,

Ngó qua  đường cái, thấy lầu ông tây

 

Chiên Ðàn, Chợ mới là đây,

Kế Xuyên mua bán, đông tây rộn ràng

 

Hàlam gần sát Phù Ðàng,

Phía ngoài bãi cát, Hương an nằm dài,

 

Cầu cho gái sắc, trai tài.

Ðồng tâm xây dựng, tương lai huy hoàng

 

     Thực dân Pháp và tay sai đàn áp các cuộc biểu tình xin xâu kháng thuế, nhiều người bị kết án tử hình, trong đó Ông ích Ðường cháu nội Ông ích Kiêm bị bắt tử hình ở Túy Loan. Ông trùm Thuyết bị chém vì hô những tiếng lớn lên án Trần Tuệ chuyên ăn hối lộ làm cho đề đốc Trần Tuệ là tay sai đắc lực với Pháp sợ qúa hộc máu mà chết .

 

     Tiếng hô uất hận của dân tộc lầm than, đói khổ bị đè nén lâu ngày,tiếng hét được mọi người hưởng ứng để đánh đổ bạo quyền và tay sai. Nên ca dao và vè đấu tranh lưu truyền mãi mãi.

 

Cậu Ðường mười tám tuổi đầu

Dẫn dân công ích xin xâu dưới tòa

*

Bắt anh trùm Thuyết dẫn ra,

Dẫn ra dân tưởng quan tha cho về

Chém anh trùm Thuyết gớm ghê

Gươm đao âm phủ ba bốn bề cách xa

                                                                      

     Các Phong trào chống thực dân dù bị đánh dẹp, không tránh khỏi cảnh bất công trả thù gông xuyền tù đày bắt bớ, chém đầu, máu của dân tộc Việt Nam đổ ra khá nhiều, nói riêng tại Quảng Nam Phong trào trên làm cho chính sách của bọn thực dân phải chùn bước. Phan Châu Trinh (1872 -1925) Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Nguyễn Thành (1863-191 đều bị bắt cùng nhiều người khác đày ra Côn đảo. Trần Quý Cáp(1870-1908)

 

     Ca dao mang chúng ta trở về nơi xa mù quá khứ, hoài nhớ lại kỷ niệm của tuổi thơ  được nghe tiếng hát mẹ hiền..Kỷ niệm như đang len lỏi vào hồn, như khởi dậy nỗi niềm xa xứ , nhắc nhở chúng ta đừng quên cội nguồn. đừng quên bổn phận với Quê hương bên kia bờ Ðại dương. (Hết)

Tác giả Nguyễn Quý Ðại