Sách » Thể loại khác » Khái quát hệ thống pháp luật Hoa Kỳ

Chương 4: Các luật sư, nguyên đơn và nhóm lợi ích trong thủ tục tố tụng

Chương này tập trung vào ba nhân vật quan trọng trong thủ tục tố tụng: các luật sư, nguyên đơn và các nhóm lợi ích. Các thẩm phán ở Mỹ ra phán quyết chỉ trong các vụ án được các cá nhân hay nhóm có bất đồng hay tranh chấp với nhau đưa ra tòa. Những đối thủ này, thường được gọi là nguyên đơn, đôi khi tự tranh tụng trong những vụ án của mình tại các cơ quan xét xử nhỏ như tòa khiếu nại, nhưng họ hầu như thường được đại diện bởi các luật sư trong những vũ đài pháp lý quan trọng hơn. Sau khi xem xét nghề luật chuyên nghiệp, chương này sẽ bàn về vai trò của từng nguyên đơn và nhóm lợi ích trong thủ tục tố tụng.

CÁC LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT CHUYÊN NGHIỆP

Việc đào tạo các luật sư và hành nghề luật ở Mỹ đã có những bước phát triển theo thời gian. Ngày nay, các luật sư Mỹ hành nghề trong hàng loạt môi trường và hoàn cảnh khác nhau.

Sự phát triển của nghề luật chuyên nghiệp

Trong thời kỳ thuộc địa ở Mỹ (1607-1776), không có các trường luật để đào tạo những người quan tâm đến chuyên ngà nh luật. Một số người trẻ tuổi đã đến Anh để theo học luật và tham gia vào các hội quán của Hội luật gia Anh. Những hội quán này không phải là các trường luật chính thứ c, nhưng chúng là một phần của văn hóa pháp lý Anh quốc và giúp cho các sinh viên gần gũi hơn với luật pháp Anh. Những người mong muốn theo nghề luật trong thời kỳ này thường làm thư ký hoặc người học việc cho một luật sư danh tiếng.

Sau cuộc Cách mạng Mỹ (1775- 1783), số luật sư tăng lên nhanh chóng do cả việc giáo dục pháp lý và quyền hành nghề luật sư không bị giới hạn chặt chẽ. Phương pháp học việc tiếp tục là cách thức phổ biến nhất để được đào tạo pháp luật nhưng các trường luật cũng đã bắt đầu xuất hiện. Những trường luật đầu tiên bắt nguồn từ những văn phòng luật chuyên về đào tạo thư ký và người học việc. Trường sớm nhất như vậy là Trường Litchfield ở Connecticut, được thành lập năm 1784. Trường này dạy theo phương pháp bài giảng chủ yếu tập trung vào luật thương mại. Cuối cùng, một số trường đại cương đã bắt đầu đưa môn luật thành một phần trong chương trình giảng dạy chung, và trong năm 1817 một trường luật độc lập đã được thành lập ở trong trường Đại học Harvard.

Trong nửa cuối thế kỷ XIX, số trường luật tăng mạnh, từ 15 trường năm 1850 đến 102 trường năm 1900. Các trường luật vào thời gian đó và những trường luật ngày nay có hai điểm khác biệt quan trọng. Thứ nhất, các trường luật vào thời gian đó không thường xuyên yêu cầu phải học qua đại cương. Thứ hai, chương trình giảng dạy tiêu chuẩn của trường luật vào năm 1850 có thể được hoàn thành trong một năm. Vào thời gian sau này của những năm 1800, nhiều trường luật đã xây dựng các chương trình hai năm.

Năm 1870 đã bắt đầu có những thay đổi quan trọng ở trường Đại học Harvard có tác động lâu dài đối với đào tạo pháp luậ t. Đại học Harvard đã xây dựng những yêu cầu đầu vào / tuyển chọn khắt khe hơn; các sinh viên không có bằng đại cương sẽ phải thi đầu vào. Khóa học của trường luật tăng lên thành hai năm vào năm 1871 và thành ba năm vào năm 1876. Tương tự như vậy, các sinh viên bắt buộc phải vượt qua những kỳ thi cuối của năm thứ nhất trước khi tiếp tục theo học các khóa học của năm thứ hai.

Tuy nhiên, thay đổi lâu dài nhất là việ c bắt đầu áp dụng phương pháp giả ng dạy theo tình huống / vụ án. Phương pháp này thay thế các bài giảng và sách giáo khoa bằng các tuyển tập tình huống (tập hợp báo cáo các vụ án trên thực tế) được thiết kế để giải thích những nguyên tắc luật pháp, chúng có ý nghĩa gì, và chúng được phát triển như thế nào. Các giáo viên sử dụng phương pháp Xô-crát để hướng dẫn sinh viên khám phá những khá i niệm pháp luật trong các vụ án. Các trường khác cuối cùng cũng áp dụng phương pháp của Đại học Harvard, và phương pháp giảng dạy theo tình huống / vụ án vẫn là phương pháp giảng dạy được thừa nhận ở nhiều trường luật ngày nay.

Do nhu cầu về các luật sư tăng lên trong những năm cuối thập niên 1800 nên số trường luật mới được thành lập cũng tăng lên tương ứng. Việc mở một trường luật cũng không quá tốn kém, và số trường học ban đêm sử dụng các luật sư và thẩm phán làm cán bộ giảng dạy bán thời gian bắt đầu xuất hiện. Các tiêu chuẩn khi đó thường lỏng lẻo và chương trình giảng dạy dường như chú trọng đến tập quán địa phương. Đóng góp quan trọng của những trường này là ở chỗ chúng giúp cho việc đào tạo trở nên dễ dàng hơn đối với các sinh viên nghèo, nhập cư và thuộc tầng lớp lao động.

Trong thế kỷ XX, số người muốn nghiên cứu luật đã tăng lên mạnh mẽ. Cho đến những năm 1960, số người nộp đơn vào các trường luật đã tăng đến mức gần như tất cả các trường đều trở nên kén sinh viên hơn. Đồng thời, để thích ứng với sức ép và tranh chấp xã hội, nhiều trường luật đã bắt đầu tích cực tuyển dụng những người nộp đơn là phụ nữ và thuộc các nhóm thiểu số.

Cũng đến những năm 1960, chương trình giảng dạy ở một số trường luật đã mở rộng sang những mối quan tâm xã hội như luật các quyền công dân và các vấn đề về “luật và sự nghèo khổ”. Các khóa học về luật quốc tế cũng được đưa vào chương trình giảng dạy.

Một chiều hướng gần đây hơn ở các trường luật là chú trọng vào việc sử dụng máy tính cho mọi công việc từ chỉ dẫn đăng ký lớp học đến mẫu đăng ký tiếp xúc với tòa án và các dịch vụ dành cho sinh viên. Một điều đáng chú ý khác là ngày càng có nhiều trường luật đưa ra các khóa học hoặc chương trình đặc biệt về luật sở hữu trí tuệ, một lĩnh vực chuyên môn hóa đã phát triển đáng kể trong những năm gần đây. Cuối cùng, việc các luật sư sử dụng quảng cáo ngày càng nhiều đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với nghề luật. Giờ đây, trên các đài truyền hình ở khắp đất nước, mọi người có thể nhìn thấy các luật sư tiến hành kháng án để thu hút những khách hàng mới. Hơn nữa, các trung tâm tư vấn pháp luật, được thành lập do việc sử dụng quảng cáo ngày càng nhiều, đã phát triển nhanh chóng.

Sự phát triển và phân tầng

Số lượng luật sư ở nước Mỹ tăng đều trong nửa thế kỷ trước và hiện nay ước tính đạt khoảng hơn 950.000 người. Vậy tất cả những luật sư ở Mỹ tìm công việc ở đâu?

Hội đồng thi tuyển vào các trường luật đưa ra một số câu trả lời trong cuốn Hướng dẫn chính thức về các trường luật của Mỹ ấn bản năm 2001. Gần ba phần tư (72,9%) các luật sư của Mỹ hành nghề ở khu vực tư nhân, một số người làm việc tại các văn phòng một người và số khác làm trong các công ty luật lớn hơn nhiều. Khỏang 8,2% thành viên chuyên ngành luật làm việc cho các tổ chức chính phủ, gần 9,5% làm việc cho các ngành và hiệp hội tư nhân với tư cách là luật sư hoặc nhà quản lý, khoảng 1,1% làm việc cho các tổ chức hỗ trợ luật hoặc với tư cách là luật sư bào chữa đại diện cho những người không có khả năng trả tiền cho luật sư, và 1% làm việc trong hoạt động giáo dục pháp luật. Khoảng 5% số luật sư của đất nước đã nghỉ hưu hoặc không hoạt động nữa.

Các luật sư của Mỹ nộp đơn xin đào tạo chuyên ngành trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau. Một số môi trường làm việc có lợi nhuận và uy thế cao hơn nhiều so với những nơi khác. Điều này đã dẫn đến cái gọi là sự phân tầng.

Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ uy thế là loại chuyên ngành luật và loại khách hàng được phục vụ. Các luật sư với chuyên ngành riêng phục vụ cho các hãng kinh doanh và tổ chức lớn chiếm nửa trên; còn những người đại diện cho lợi ích của các cá nhân thuộc nửa dưới.

Ở tầng trên của bậc thang danh vọng là các công ty luật lớn của quốc gia. Luật sư trong các hãng này từ trước đến nay được biết đến không phải nhờ xuất hiện ở tòa án, mà nhờ những tư vấn cho khách hàng. Khách hàng phải có khả năng chi trả cho những chuyên gia xuất sắc này, và do vậy họ thường là các doanh nghiệp lớn hơn là các cá nhân. Tuy nhiên, nhiều công ty luật lớn của quốc gia thường cung cấp các dịch vụ pháp luật “pro bono” (tiếng Latinh có nghĩa là “hàng hóa công cộng” hay miễn phí) cho các quyền công dân, tự do công dân, lợi ích người tiêu dùng, và các vấn đề về môi trường.

Các công ty luật lớn của quốc gia có nhiều thành viên và người cộng tác. Các thành viên sở hữu công ty luật và được trả một phần trong lợi nhuận của công ty. Những người cộng tác được trả lương và thực chất là làm việc cho các thành viên. Những công ty lớn này cạnh tranh để có được những sinh viên xuất sắc nhất tốt nghiệp từ các trường luật quốc gia. Những công ty luật uy tín nhất có từ 250 luật sư trở lên và cũng tuyển dụng hàng trăm người khác làm công việc bán pháp lý (những người không phải là luật sư nhưng được đào tạo chuyên biệt để xử lý nhiều thủ tục thường nhật của công việc pháp lý), các nhà quản lý, quản thủ thư viện và thư ký.

Ở một mức độ thấp hơn những người làm việc cho các công ty luật lớn của quốc gia là những người được các doanh nghiệp lớn tuyển dụng làm luật sư riêng. Nhiều doanh nghiệp sử dụng các công ty luật của quốc gia như nguồn cố vấn bên ngoài. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này ngày càng có xu hướng thuê nhiều luật sư được trả lương của riêng họ làm cố vấn nội bộ. Bộ phận pháp chế của một vài doanh nghiệp có quy mô lớn hơn so với của các hãng tư nhân. Hơn nữa, các doanh nghiệp này còn cạnh tranh với các công ty luật lớn để có được những sinh viên luật xuất sắc nhất.

Thay vì đại diện cho doanh nghiệp tại tòa án (một nhiệm vụ thường được xử lý bởi nguồn cố vấn bên ngoài trong trường hợp cần thiết), bộ phận pháp chế xử lý hàng loạt những vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp hiện nay gặp phải. Chẳng hạn, bộ phận pháp chế giám sát hoạt động của nhân viên doanh nghiệp để bảo đảm những hoạt động này tuân thủ các quy định của liên bang và bang về thuê và thôi việc người lao động. Các luật sư của doanh nghiệp có thể cố vấn cho hội đồng quản trị về những vấn đề như thỏa ước hợp đồng, sáp nhập, bán cổ phần và những hoạt động kinh doanh khác. Các luật sư của công ty cũng có thể đào tạo các nhân viên khác về những quy định luật pháp áp dụng trong công việc cụ thể của họ và bảo đảm rằng họ tuân thủ những quy định đó. Bộ phận pháp chế của một công ty lớn cũng hoạt động như là cầu nối với nguồn cố vấn bên ngoài.

Hầu hết các luật sư của Mỹ làm việc trong nửa dưới của nghề luật xét về danh vọng / uy tín và không đòi hỏi mức lương cao như trong các công ty luật lớn của quốc gia và các doanh nghiệp hàng đầu. Tuy nhiên, họ tham gia vào rất nhiều hoạt động và thường thấy họ trong và ngoài giờ làm việc tại các phòng xử án của nước Mỹ. Đó là những luật sư đại diện cho khách hàng trong các vụ kiện tai nạn cá nhân, khởi tố và bào chữa cho những người bị buộc tội hình sự, đại diện cho các ông chồng và bà vợ trong các vụ ly hôn, giúp mọi người tiến hành các giao dịch về bất động sản và giúp mọi người soạn di chúc - đó chỉ là một số ít trong các hoạt động của họ.

Các luật sư làm việc cho chính phủ thường thuộc nửa dưới của nghề luật. Một vài người, chẳng hạn tổng chưởng lý Mỹ và tổng cố vấn pháp luật của Mỹ, chiếm những vị trí đầy quyền thế, nhưng đa phần những người khác làm việc cực nhọc ở những vị trí thấp kém và được trả lương ít ỏi. Rất nhiều luật sư lựa chọ n những nghề khác như thẩm phán ở tòa án cấp liên bang hoặc bang.

Một khác biệt khác về sự chuyên môn hóa trong nghề luật là giữa các luật sư của bên nguyên và bên bị. Các luật sư của bên nguyên khởi xướng các vụ kiện, còn các luật sư của bên bị bào chữa cho những người bị buộc tội có hành động phạm pháp trong các vụ án dân sự và hình sự.

Các luật sư của chính quyền trong thủ tục tố tụng

Các luật sư của chính quyền làm việc tại mọi cấp độ của thủ tục tố tụng, từ những tòa án sơ thẩm đến những tòa án phúc thẩm cấp cao nhất của bang và liên bang.

Công tố viên liên bang. Mỗi hạt tư pháp liên bang có một viên chưởng lý nhà nước và một hoặc nhiều phó chưởng lý. Những người này chịu trách nhiệm khởi tố các bị cáo trong các vụ án hình sự ở tòa án hạt liên bang và bào chữa cho nước Mỹ khi nước Mỹ bị kiện ở một tòa án sơ thẩm liên bang.

Chưởng lý nhà nước được tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. Những người được chỉ định phải có quyền lực ở hạt mà họ được bổ nhiệm và phải là luật sư. Họ làm việc chính thức trong một nhiệm kỳ bốn năm nhưng có thể được tái bổ nhiệm không thời hạn hoặc bị bãi miễn tùy theo quyết định của tổng thống. Các phó chưởng lý được tổng chưởng lý Hoa Kỳ bổ nhiệm chính thức, mặc dù trên thực tế họ được chưởng lý nhà nước lựa chọn cho hạt của mình; người chưởng lý nhà nước này sẽ chuyển quyền lựa chọn cho tổng chưởng lý để phê chuẩn. Phó chưởng lý có thể bị tổng chưởng lý sa thải.

Trong vai trò giữ quyền công tố, các chưởng lý nhà nước có quyền tự quyết đáng kể trong việc quyết định những vụ án hình sự nào để khởi tố. Họ cũng có thẩm quyền xác định những vụ án dân sự nào sẽ cố gắng giải quyết ngoài tòa án và những vụ án nào sẽ đưa ra xét xử. Do vậy, chưởng lý nhà nước ở vào vị trí rất thuận lợi để có thể tác động đến sổ ghi án của tòa án hạt liên bang. Tương tự như vậy, do tham gia vào kiện tụng ở các tòa án hạt nhiều hơn bất kỳ ai khác nên chưởng lý nhà nước và nhân viên của họ là những người tham gia cực kỳ quan trọng trong việc hoạch định chính sách ở các tòa án sơ thẩm liên bang.

Các công tố viên cấp bang. Những người khởi tố những người bị buộc tội vi phạm các điều luật hình sự của bang thường được gọi là các chưởng lý hạt. Ở hầu hết các bang, các chưởng lý hạt do các quan chức của địa hạt bầu ra; tuy nhiên, ở một số ít bang họ được chỉ định. Văn phòng của chưởng lý hạt thường tuyển dụng rất nhiều phụ tá làm hầu hết công việc xét xử trên thực tế. Phần lớn những phó chưởng lý hạt là sinh viên mới tốt nghiệp trường luật, những người sẽ thu thập kinh nghiệm xét xử quý báu từ những vị trí đó. Nhiều người sau đó tham gia vào hoạt động tư nhân, thường với tư cách là luật sư bào chữa các vụ án hình sự. Những người khác sẽ tìm cách trở thành chưởng lý hay thẩm phán hạt sau một vài năm.

Văn phòng của chưởng lý hạt có quyền tự quyết rất lớn trong việc xét xử các vụ án. Với những hạn chế về ngân sách và nhân lực, không phải tất cả các vụ án đều có thể được dành một lượng thời gian và nghiên cứu như nhau. Do vậy, một số vụ án bị bãi bỏ, một số vụ không được khởi tố và những vụ khác được khởi tố quyết liệt tại tòa án. Tuy nhiên, hầu hết các vụ án đều phụ thuộc vào sự thương lượng lời khai với bị cáo. Điều này có nghĩa là văn phòng chưởng lý hạt đồng ý chấp nhận lời biện hộ có tội của bên bị ở mức độ giảm cáo buộc hoặc bác bỏ một số cáo buộc đối với bên bị để đổi lấy cơ sở buộc tội những người khác.

Bào chữa viên nhà nước. Thông thường người bị buộc tội vi phạm một đạo luật hình sự của bang hay liên bang không có khả năng trả tiền để được một luật sư bào chữa. Trong một số lĩnh vực, một quan chức chính phủ, được gọi là bào chữa viên nhà nước, sẽ nhận trách nhiệm đại diện cho những bị đơn nghèo khổ. Do vậy, bào chữa viên nhà nước là một đối trọng của công tố viên. Tuy nhiên, không giống như chưởng lý, bào chữa viên nhà nước thường được chỉ định chứ không phải bầu chọn. Ở một số vùng của đất nước, có những hệ thống bào chữa viên nhà nước trên toàn bang; ở các vùng khác, bào chữa viên nhà nước là một quan chức địa phương, thường liên kết với một chính quyền địa hạt. Giống như chưởng lý hạt, bào chữa viên nhà nước tuyển dụng các nhân viên phụ thẩm và điều tra cho mình.

Các luật sư khác của chính quyền. Ở cả cấp độ bang và liên bang, một số luật sư của chính quyền được biết đến vì công việc ở tòa phúc thẩm nhiều hơn ở tòa án sơ thẩm. Chẳng hạn, mỗi bang có một tổng chưởng lý giám sát một nhóm các chưởng lý, những người bị ràng buộc với trách nhiệm xử lý những công việc pháp lý của bang. Ở cấp độ liên bang, Bộ Tư pháp có những trách nhiệ m tương tự thay mặt cho nước Mỹ.

Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Mặc dù Bộ Tư pháp là một cơ quan của bộ máy hành pháp của chính phủ nhưng nó có sự liên kết tự nhiên với ngành tư pháp. Nhiều vụ án xét xử ở các tòa án liên bang liên quan đến chính quyền quốc gia ở vai trò này hay vai trò khác. Đôi khi chính quyền bị kiện; trong những trường hợp khác, chính quyền khởi xướng vụ kiện. Trong cả hai trường hợp này, một chưởng lý phải đại diện cho chính quyền. Phần lớn các vụ kiện tụng liên quan đến chính quyền liên bang đều do Bộ Tư pháp xử lý mặc dù nhiều cơ quan chính phủ khác cũng có luật sư riêng.

Văn phòng Tổng cố vấn pháp luật của Bộ Tư pháp có vai trò cực kỳ quan trọng đối với những vụ án được tranh tụng trước Tòa án tối cao. Bộ cũng có một vài ban pháp lý, mỗi ban có các luật sư chuyên biệt do một phó tổng chưởng lý đứng đầu. Các ban pháp lý giám sát việc xử lý kiện tụng của chưởng lý nhà nước, đưa các vụ án ra tòa phúc thẩm và hỗ trợ văn phòng Tổng cố vấn pháp luật trong các vụ án tranh cãi trước Tòa án tối cao.

Tổng Cố vấn pháp luật Hoa Kỳ. Tổng cố vấn pháp luật Hoa Kỳ, quan chức cao cấp thứ ba trong Bộ Tư pháp, được hỗ trợ bởi năm phó tổng cố vấn và khoảng hai mươi trợ lý tổng cố vấn. Chức năng chủ yếu của tổng cố vấn pháp luật là đại diện cho nước Mỹ quyết định những vụ án nào sẽ được hay không được đưa ra Tòa án tối cao để xem xét lại. Bất cứ khi nào một cơ quan hay tổ chức thuộc bộ máy hành pháp bị thua trong một vụ kiện ở một trong những tòa phúc thẩm và muốn Tòa án tối cao xem xét lại thì cơ quan hay tổ chức đó sẽ yêu cầu Bộ Tư pháp có được một lệnh lấy lên xem xét lại (certiorari). Tổng cố vấn pháp luật sẽ xác định có kháng nghị phán quyết của tòa án thấp hơn hay không.

Nhiều yếu tố phải tính đến khi đưa ra một quyết định như vậy. Có lẽ cân nhắc quan trọng nhất là Tòa án tối cao bị giới hạn về số vụ án mà nó có thể xét xử trong một nhiệm kỳ nhất định. Do vậy, tổng cố vấn pháp luật phải xác định liệu một vụ án cụ thể có nên đưa ra xem xét đặc biệt tại Tòa án tối cao hay không. Ngoài việc quyết định có nên đưa ra Tòa án tối cao để xem xét lại, tổng cố vấn pháp luật còn biện hộ cho hầu hết các vụ án của chính phủ do Tòa Tối cao xét xử.

Các tổng chưởng lý của bang. Mỗi bang có một tổng chưởng lý phục vụ với tư cách là quan chức pháp lý hàng đầu của bang đó. Ở hầu hết các bang, quan chức này được bầu trên cơ sở một cuộc bỏ phiếu kín của đảng trên toàn bang. Tổng chưởng lý giám sát một nhóm chưởng lý, những người mà công việc chủ yếu là giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến bang. Mặc dù việc khởi tố những bị cáo hình sự nhìn chung do các chưởng lý hạt địa phương giải quyết, nhưng văn phòng của tổng chưởng lý vẫn thường đóng một vai trò quan trọng trong việc điều tra những hoạt động phạm tội trên toàn bang. Do đó, tổng chưởng lý và nhân viên của mình có thể phối hợp chặt chẽ với các chưởng lý hạt địa phương trong việc chuẩn bị cho một vụ án khởi kiện một bị cáo cụ thể.

Các tổng chưởng lý của bang cũng đưa ra những ý kiến cố vấn cho các cơ quan của bang và địa phương. Thông thường, những ý kiến này diễn giải một khía cạnh của luật bang mà chưa được các tòa án xét xử. Mặc dù một ý kiến cố vấn cuối cùng có thể bị bãi bỏ trong một vụ án đưa ra trước tòa, nhưng ý kiến của tổng chưởng lý vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lối hành xử của các cơ quan của bang và địa phương.

Các luật sư tư trong thủ tục tố tụng

Trong các vụ án hình sự ở Mỹ, bị cáo có một quyền hiến định là được đại diện bởi một luật sư. Một số khu vực tài phán đã thiết lập các văn phòng bào chữa viên nhà nước để đại diện cho những bị cáo nghèo khổ. Trong những khu vực khác, có một số phương pháp là bổ nhiệm một luật sư tư để đại diện cho một bị cáo không có khả năng thuê luật sư bào chữa. Những bị cáo không có khả năng thuê luật sư cho mình cũng làm theo cách này.

Trong các vụ án dân sự, cả bên nguyên và bên bị đều không có quyền hiến định được luật sư bào chữa. Tuy nhiên, trong phạm vi dân sự thì các vấn đề pháp lý thường phức tạp đến mức phải có luật sư bào chữa. Những hình thức hỗ trợ pháp lý khác nhau thường sẵn có cho những người cần được giúp đỡ.

Luật sư bào chữa được chỉ định / bổ nhiệm. Khi một luật sư tư phải được bổ nhiệm để bào chữa cho một bị cáo nghèo khổ thì việc bổ nhiệm này thường do một thẩm phán độc lập thực hiện trên cơ sở từng trường hợp. Các hiệp hội luật sư địa phương hay bản thân các luật sư thường cung cấp cho tòa án một danh sách những luật sư sẵn sàng cho việc bào chữa như vậy.

Luật sư bào chữa tư. Một số luật sư trong hoạt động cá nhân của họ thường chuyên tâm vào công việc bào chữa cho tội phạm hình sự. Mặc dù cuộc sống của những luật sư bào chữa cho tội phạm hình sự có thể được mô tả rất hào nhoáng trên truyền hình hay phim ảnh, song trên thực tế những luật sư này phải làm việc nhiều giờ với đồng lương và thanh thế rất thấp.

Nhóm làm việc tại phòng xử án

Không chỉ đơn thuần hoạt động theo kiểu thỉnh thoảng tập hợp những người lạ để giải quyết một xung đột nào đó rồi ai đi đường nấy, các luật sư và thẩm phán, những người cùng làm việ c trong một phòng xử án hình sự, trở thành một phần của nhóm làm việc.

Những thành viên hiện hữu nhất của nhóm làm việc – thẩm phán, công tố và luật sư bào chữa – được gắn với những chức năng cụ thể: Bên công tố thúc ép để có lời buộc tội những người bị kết tội vi phạm hình sự đối với chính quyền, luật sư bào chữa tìm mọi cách để khách hàng của mình được trắng án, và thẩm phán đóng vai trò người phân xử trung gian để bảo đảm có mức án công bằng. Mặc dù có những vai trò khác nhau nhưng các thành viên của nhóm làm việc tại phòng xử án có cùng một số giá trị và mục đích và không phải là những kẻ thù ghê gớm của nhau như nhiều người thường nghĩ. Sự hợp tác giữa các thẩm phán, bên công tố và luật sư bào chữa là quy phạm của nhóm làm việc tại phòng xử án.

Mục đích quan trọng nhất của nhóm làm việc tại phòng xử án là giải quyết các vụ án một cách mau chóng. Các thẩm phán và bên công tố quan tâm đến việc giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng để thể hiện một hình ảnh hoàn thiện và hiệu quả. Do những luật sư bào chữa tư cần giải quyết rất nhiều vụ án để bảo đảm về vấn đề tài chính nên việc giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng là lợi thế của họ. Và những bào chữa viên nhà nước thường tìm cách nhanh chóng giải quyết vấn đề một cách đơn giản vì họ thiếu những nguồn lực cần thiết để giải quyết khối lượng công việc của mình.

Một mục tiêu quan trọng khác của nhóm làm việc tại phòng xử án là duy trì sự gắn kết trong nhóm. Xung đột giữa các thành viên làm cho công việc trở nên khó khăn hơn và cản trở việc giải quyết nhanh chóng các vụ án.

Cuối cùng, nhóm làm việc tại phòng xử án quan tâm đến việc giảm bớt và kiểm soát sự bất ổn. Trên thực tế, điều này có nghĩa là tất cả thành viên của nhóm làm việc đều nỗ lực tránh các vụ xử án. Các vụ xử án, đặc biệt là các vụ xử án có bồi thẩm đoàn, gây ra rất nhiều bất ổn khi chúng đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và công sức mà không thể bảo đảm chắc chắn sẽ có được kết quả mong muốn.

Để duy trì những mục tiêu này, các thành viên của nhóm làm việc phải có một số kỹ năng. Mặc dù có những quyết định đơn phương và thủ tục đối lập nhưng đàm phán là kỹ năng được sử dụng phổ biến nhất tại các phòng xử án hình sự. Các thành viên đàm phán về hàng loạt vấn đề - chẳng hạn sự đình lại (trì hoãn trong thủ tục tại tòa án), các ngày xét xử và trao đổi thông tin. Tuy nhiên, thương lượng lời khai là cách thức quyết định nhất trong việc đàm phán.

Các dịch vụ pháp lý cho người nghèo

Mặc dù các bị đơn hình sự có quyền hiến định được đại diện bởi một luật sư, nhưng những người là bị đơn trong một vụ án dân sự hoặc muốn bắt đầu một vụ án dân sự không có quyền được có đại diện. Do vậy, những người không có tiền để thuê luật sư có thể gặp khó khăn trong việc xét xử.

Để giải quyết vấn đề này, những dịch vụ hỗ trợ pháp lý hiện nay đã xuất hiện trong nhiều lĩnh vực. Các hiệp hội hỗ trợ pháp lý được thành lập rất sớm ở New York và Chicago, ngay từ cuối những năm 1880, và nhiều thành phố lớn khác đã làm như vậy trong thế kỷ XX. Mặc dù một số hiệp hội hỗ trợ pháp lý được các tổ chức luật tài trợ, hầu hết những hiệp hội này đều được hỗ trợ bở i những đóng góp cá nhân. Các văn phòng hỗ trợ pháp lý cũng liên kết với các tổ chức từ thiện trong một số lĩnh vực, và nhiều trường luật đưa vào hoạt động các khoa hỗ trợ pháp lý để mang đến sự trợ giúp về pháp luật cho người nghèo và cho các sinh viên luật thực tập. Ngoài ra nhiều luật sư còn cung cấp những dịch vụ pháp lý “pro bono publico” (tiếng Latinh có nghĩa là “vì lợi ích chung”) vì họ coi đó là một trách nhiệm nghề nghiệp.

NGUYÊN ĐƠN

Trong một số vụ án diễn ra trước tòa, nguyên đơn là những cá nhân, trong khi ở những vụ án khác thì một hay nhiều nguyên đơn có thể là một cơ quan chính phủ, một doanh nghiệp, một liên đoàn, một nhóm lợi ích hay một trường đại học.

Điều gì thúc đẩy một người hoặc một nhóm đưa sự bất bình ra toà? Trong các vụ án hình sự, câu trả lời cho vấn đề này là tương đối đơn giản. Một điều luật hình sự của bang hoặc liên bang được coi là bị vi phạm, và chính phủ cáo trạng bên bị buộc tội vi phạm điều luật đó. Trong các vụ án dân sự thì câu trả lời hoàn toàn không dễ dàng. Mặc dù một số người sẵn sàng đưa sự bất bình của họ ra tòa, nhưng nhiều người khác lại tránh thủ tục này do thời gian và chi phí có thể phát sinh.

Nhà khoa học chính trị Phillip Cooper chỉ ra rằng các thẩm phán được triệu tập để giải quyết hai loại tranh chấp: các vụ án tư pháp và những tranh cãi công pháp. Các vụ án tư pháp là những vụ án mà trong đó một công dân hay tổ chức riêng lẻ kiện một công dân hay tổ chức khác. Còn trong những tranh cãi công pháp, một công dân hoặc tổ chức chắc chắn rằng một cơ quan hay quan chức chính phủ đã vi phạm một quyền hiến định hoặc luật định. Trong cuốn Những lựa chọn tư pháp khó khăn (Hard Judicial Choices), Cooper đã viết rằng “những hành động pháp luật, dù là tranh cãi công pháp hay tư pháp, đều nhằm hướng đến một chính sách nào đó hoặc hy vọng được bù đắp”.

Một ví dụ kinh điển về kiện tụng cá nhân, hay kiện tụng thông thường, theo hướng mong được đền bù là khi một người bị thương trong một tai nạn ô tô kiện người lái của chiếc ôtô khác để cố gắng đòi được bồi thường thiệt hại bằng tiền cho những chi phí thuốc men phải chịu. Loại kiện tụng này mang tính chất cá nhân và không nhằm mục đích thay đổi các chính sách của chính phủ hay doanh nghiệp.

Tuy nhiên, một số vụ án tư pháp là có định hướng chính sách hoặc có bản chất chính trị. Kiện tụng về thương tích cá nhân hay trách nhiệm đối với sản phẩm bề ngoài có vẻ đơn thuần chỉ mang bản chất đòi bồi thường, song nó cũng có thể được sử dụng để thay đổi công việ c sản xuất hay hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp tư nhân bị kiện.

Một vụ kiện ở bang Bắc Carolina cho chúng ta một ví dụ rõ nét. Vụ án bắt đầu năm 1993 sau khi một bé gái năm tuổi bị kẹt trong cống của một bể nước sau khi một đứa bé khác đã bỏ nắp cống đó đi. Lực hút quá mạnh đã khiến cho bé gái bị hút gần hết ruột già và ruột non trước khi được cứu ra. Hậu quả là trong suốt phần đời còn lại cô bé phải dành 11 giờ mỗi ngày gắn chặt ống dẫn thức ăn trong tĩnh mạch. Năm 1997, một ban hội thẩm đã xử cho gia đình cô bé được bồi thường 25 triệu USD và trước khi ban hội thẩm phải cân nhắc những bồi thường mang tính trừng phạt thì nhà sản xuất cống nước trên và hai bị đơn khác đã phải giải quyết vụ án với cái giá 30,9 triệu USD. Luật sư của bên nguyên nói rằng vụ kiện này đã tiết lộ những rắc rối tương tự trong các lĩnh vực khác của đất nước và cho thấy một ví dụ đích thực về những gì người trong ngành biết nhưng những người khác thì không. Không chỉ gia đình cô bé chiến thắng vụ kiện mà cơ quan lập pháp bang Bắc Carolina cũng đã thông qua một đạ o luật yêu cầu những ống nước nhằng nhịt đều phải có biện pháp ngăn chặn những chấn thương như vậy trong tương lai.

Tuy nhiên, hầu hết những vụ kiện mang tính chính trị hay có định hướng chính sách là những tranh cãi công pháp, tức chúng là những vụ được đưa ra tòa kiện chính phủ chủ yếu để ngăn chặn những chính sách hay hoạt động bị coi là bất hợp phá p. Chúng cũng có thể tìm kiếm tiền bồi thường hay một số hình thức giảm nhẹ thiệt hại cụ thể khác. Một vụ án do Tòa án tối cao Mỹ xét xử, vụ Lucas kiện Hội đồng bờ biển Nam Carolina, cho thấy một ví dụ rõ nét. Đạo luật bảo vệ đường bờ biển của bang Nam Carolina cấm David H. Lucas xây dựng những ngôi nhà cho một gia đình trên hai lô đất mà ông sở hữu. Một tòa sơ thẩm của bang Nam Carolina phán quyết Lucas có quyền được bồi thường cho tổ n thất nói trên. Tuy nhiên, Tòa án tối cao bang Nam Carolina đã đảo ngược quyết định của tòa sơ thẩm và Lucas kiện lên Tòa án tối cao Mỹ. Tòa án tối cao phán quyết có lợi cho Lucas, tuyên bố rằng nếu một chủ sở hữu tài sản bị từ chối tất cả những hình thức sử dụng có lợi ích hữu hình về mặt kinh tế trên tài sản của mình thì có nghĩa là đã có sự chiếm đoạt và Hiến pháp yêu cầu người chủ sở hữu được quyền bồi thường.

Việc kiện tụng mang tính chính trị hay theo định hướng chính sách phổ biến hơn ở các tòa phúc thẩm so với các tòa sơ thẩm, và xuất hiện nhiều nhất ở Tòa án tối cao Mỹ. Việc kiện tụng đòi bồi thường thông thường thường được kết thúc sớm ở thủ tục tố tụng vì những người đi kiện thấy việc hòa giải tranh chấp của họ hoặc chấp nhận phán quyết của tòa sơ thẩm là có lợi hơn. Tuy nhiên, nguyên đơn trong các vụ kiện chính trị nhìn chung ít dành công sức thúc đẩy những lợi ích chính sách của họ bằng việc giành thắng lợi ở những cấp độ tòa án thấp hơn. Thay vào đó, họ thích sự công khai rộng rãi hơn gắn liền với một quyết định của tòa phúc thẩm. Việc theo đuổi kiện tụng tại các tòa phúc thẩm là rất tốn kém. Do vậy, nhiều vụ kiện đạt đến cấp độ tòa án này thường được các nhóm lợi ích hỗ trợ bằng cách này hay cách khác.

CÁC NHÓM LỢI ÍCH TRONG THỦ TỤC TỐ TỤNG

Mặc dù các nhóm lợi ích có thể được biết đến nhiều hơn vì những nỗ lực của họ nhằ m gây ảnh hưởng đến các quyết định của bộ máy lập pháp và hành pháp, nhưng họ cũng theo đuổi các mục tiêu chính sách của họ ở tòa án. Một số nhóm nhận thấy hệ thống tòa án dễ lĩnh hội những nỗ lực của họ hơn so với bộ máy lập pháp và hành pháp của chính phủ. Các nhóm lợi ích không có những nguồn lực kinh tế để chuẩn bị cho một nỗ lực vận động hành lang mạnh mẽ ở Quốc hội hay một cơ quan lập pháp bang có thể dễ dàng thuê luật sư và tìm kiếm một số điều khoản theo Hiến pháp hay theo luật định làm cơ sở cho một vụ kiện tại tòa án. Tương tự như vậy, một nhóm nhỏ với ít cử tri đã đăng ký trong số các thành viên của nhóm có thể thiếu sức mạnh chính trị để gây ảnh hưởng lên các nhà lập pháp và quan chức hệ thống hành pháp. Tuy nhiên, có nhiều thành viên và có sức mạnh chính trị không phải là những điều kiện tiên quyết để đưa các vụ kiện ra tòa.

Các nhóm lợi ích cũng có thể hướng sang các tòa án vì họ thấy rằng hệ thống tòa án đồng cảm hơn với những mục tiêu chính sách của họ so với hệ thống lập pháp và hành pháp. Trong suốt những năm 1960, các nhóm lợi ích với những mục tiêu chính sách tự do đã gặp rất nhiều thuận lợi với các tòa án liên bang. Ngoài ra, khái niệm công ty luật vì lợi ích chung cực kỳ phổ biến trong thời kỳ này. Các công ty luật vì lợi ích chung theo đuổi những vụ án nhìn chung phục vụ cho lợi ích của công chúng – bao gồm những vụ án trong các lĩnh vực quyền lợi người tiêu dùng, phân biệt đối xử trong tuyển dụng, an toàn nghề nghiệp, quyền tự do dân sự và các vấn đề về môi trường.

Trong những thập niên 1970 và 1980, các nhóm lợi ích bảo thủ hướng sang các tòa án liên bang với mức độ thường xuyên hơn trước kia. Điều này một phần là sự phản ứng đối với những thành công của các nhóm lợi ích tự do. Điều này cũng chính là do các tòa án liên bang dành diễn đàn xét xử thuận lợi hơn cho những quan điểm bảo thủ.

Sự tham gia của nhóm lợi ích vào thủ tục tố tụng có thể dưới một số hình thức khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu của từng nhóm. Tuy nhiên, có hai sách lược chính: tham gia vào những vụ án kiểm tra tính hợp hiến và trình bày thông tin trước tòa án thông qua những “amicus curiae” (tiếng Latinh có nghĩa là “người bạn của tòa án”).

Những vụ án kiểm tra tính hợp hiến (Test Cases)

Do bộ máy tư pháp chỉ tham gia vào việc lập chính sách bằng cách đưa ra những quyết định trong các vụ án cụ thể nên một sách lược của nhóm lợi ích là bảo đảm rằng một vụ án phù hợp với việc đạt được những mục tiêu chính sách của nhóm sẽ được đưa ra trước tòa. Trong một số trường hợp, điều này có nghĩa là nhóm lợi ích sẽ khởi xướng và bảo trợ vụ án bằng việc cung cấp tất cả những nguồn lực cần thiết. Ví dụ được biết đến nhiều nhất về loại hình bảo trợ này là vụ Brown kiện Hội đồng giáo dục năm 1954. Trong vụ án này, mặc dù việc kiện Hội đồng giáo dục Topeka, Kansas được cha mẹ Linda Brown tiến hành nhưng Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP) mới là người hỗ trợ pháp lý và tiền bạc để theo suốt vụ kiện này tại Tòa án tối cao. Thurgood Marshall, người sau này trở thành thẩm phán của Tòa án tối cao Mỹ, đã biện hộ vụ kiện thay mặt cho bên nguyên và NAACP. Nhờ đó mà NAACP đã giành được thắng lợi thông qua phán quyết của Tòa án tối cao rằng sự phân biệt chủng tộc ở các trường công vi phạm điều khoản bảo vệ công bằng của Tu chính án Hiến pháp thứ mười lăm.

Các nhóm lợi ích cũng có thể hỗ trợ cho một vụ án do một người nào đó khởi xướng nhưng lại đặt ra những vấn đề quan trọ ng cho nhóm. Một ví dụ rõ nét cho trường hợp này có thể tìm thấy trong một vụ kiện về quyền tự do tín ngưỡng, vụ Wisconsin kiện Yoder. Vụ án này do bang Wisconsin khởi kiện khi đưa ra những lời buộc tội Jonas Yoder và những người khác đã không chịu gửi con em mình đến trường ở tuổi 16 theo quy định của luật bang. Yoder và những người khác, là hội viên của tín ngưỡng Amish, tin rằng giáo dục sau lớp 8 dẫn đến việc phá vỡ những giá trị mà họ tôn thờ và “gây ảnh hưởng trần tục lên con em họ”.

Một tổ chức được biết đến với tên gọi ủy ban quốc gia về tự do tín ngưỡng Amish (NCARF) đã đi đến quyết định bào chữa cho Yoder và những người khác. Tiếp theo phán quyết của tòa sơ thẩm bất lợi cho Amish, NCARF kháng cáo lên một tòa phúc thẩm lưu động ở Wisconsin, song tòa này đã bảo lưu phán quyết của tòa sơ thẩm. NCARF tiếp tục kháng cáo lên Tòa án tối cao ở Wisconsin, và tòa này phán quyết theo hướng có lợi cho Amish, tuyên bố rằng luật giáo dục bắt buộc đã vi phạm điều khoản tự do thực hiện tín ngưỡng của Tu chính án Hiến pháp thứ nhất. Khi đó bang Wisconsin kháng cáo lên Tòa án tối cao Mỹ và, vào ngày 15 tháng Năm 1972, Tòa án tối cao Mỹ đã chấp nhận sự phản đối về mặt tín ngưỡng mà NCARF đã đưa ra đối với các đạo luật giáo dục bắt buộc.

Như những ví dụ trên cho thấy, sự tham gia của nhóm lợi ích vào việc kiện tụng đã tập trung vào những vụ án liên quan đến những vấn đề Hiến pháp trọng yếu được ra Tòa án tối cao. Tuy nhiên, do chỉ một phần nhỏ các vụ án đến được cấp tòa án cao nhất của đất nước này nên phần lớn công việc của các luật sư nhóm lợi ích là dành cho những việc mang tính thủ tục hơn ở các cấp độ thấp hơn của bộ máy tư pháp. Thay vì tạo những vụ án kiểm tra tính hợp hiến quan trọng cho các tòa phúc thẩm, những luật sư này có thể đơn giản được yêu cầu giải quyết các vấn đề pháp lý cho khách hàng thuộc nhóm lợi ích của họ.

Chẳng hạn, trong phong trào đòi quyền dân sự vào những thập niên 1950 và 1960, các luật sư vì lợi ích chung không chỉ khiếu kiện những vấn đề quan trọng về quyền dân sự, mà họ còn bào chữa cho những người Mỹ gốc Phi và những người lao động đòi quyền dân sự gặp rắc rối với các cơ quan chức năng địa phương. Khi đó, những luật sư nhóm lợi ích này thực hiện nhiều chức năng của một hiệp hội hỗ trợ pháp lý chuyên biệt: Họ mang đến sự đại diện pháp lý cho những người tham gia vào một phong trào quan trọng đòi thay đổi xã hội. Hơn nữa, họ còn thực hiện chức năng quan trọng là thu hút sự quan tâm đến hoàn cảnh khó khăn của những người Mỹ gốc Phi bằng việc kiên trì theo đuổi các vụ án trước tòa.

Thông điệp của “những người bạn của tòa án” (Amicus Curiae)

Việc đệ trình thông điệp của “những người bạn của tòa án” là phương pháp dễ dàng nhất mà nhóm lợi ích có thể tham gia vào các vụ kiệ n. Phương pháp này cho phép một nhóm có được thông điệp của mình trước tòa án kể cả khi nhóm đó không kiể m soát vụ án. Trong trường hợp được sự cho phép của các bên của vụ án hay sự cho phép của tòa án, một nhóm lợi ích có thể đệ trình thông điệp của “những người bạn của tòa án” để bổ sung cho lời biện hộ của các bên. Việc lập hồ sơ của “những người bạn tòa án” là một sách lược được sử dụng nhiều tại tòa phúc thẩm hơn là tòa sơ thẩm, ở cả cấp độ liên bang và bang.

Đôi khi những thông điệp này là nhằm mục đích đẩy mạnh vị thế của một trong các bên của vụ án. Khi vụ Wisconsin kiện Yoder được biện hộ trước Tòa án tối cao Mỹ, tín ngưỡng Amish được ủng hộ bởi các thông điệp của “những người bạn của tòa án” do Hội thảo chung của những tín đồ theo tín ngưỡng ngày Sabbath, Hội đồng quốc gia về các nhà thờ Cơ đốc giáo ở Mỹ, Hội đồng giáo đường Do thái của Mỹ, Quốc hội Do thái Mỹ, Ủy ban Do thái quốc gia về luật pháp và các vấn đề chung, và Ủy ban trung ương dòng Menno trình ra.

Đôi khi những thông điệp của “những người bạn của tòa án” được sử dụng không chỉ để đẩy mạnh lời biện hộ của một trong các bên, mà còn để chỉ cho tòa án thấy quan điểm riêng của nhóm về việc vụ án nên được giải quyết như thế nào. Những thông điệp của “những người bạn của tòa án” thường được trình lên trong nỗ lực thuyết phục tòa phúc thẩm chấp thuận hoặc từ chối việc xem xét phán quyết của tòa án thấp hơn. Một nghiên cứu của Tòa án tối cao Mỹ cho thấy việ c trình bày những thông điệp của “những người bạn của tòa án” làm tăng đáng kể cơ hội mà Tòa có thể xem xét vụ án một cách toàn diện.

Không giống các nhóm lợi ích riêng, tất cả các cấp độ chính quyền có thể đệ trình những thông điệp của “những người bạn của tòa án” mà không cần phải đợi sự cho phé p. Tổng cố vấn pháp luật của Mỹ có vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề này, và trong một số trường hợp Tòa án tối cao có thể mời Tổng cố vấn pháp luật trình bày một thông điệp của “những người bạn của tòa án”.