Sách » Thể loại khác » Hội Gióng

Phần 2

 

Và hành trình trở thành di sản văn hóa thế giới - Một bảo tàng văn hóa của Việt Nam

Hội Gióng tưởng nhớ công đức Phù Đổng Thiên vương (Thánh Gióng), từ lâu đã trở thành biểu tượng, thể hiện phẩm chất và hành động của người anh hùng chống ngoại xâm, bảo vệ mùa màng, được nhân dân tôn là vị thần đứng đầu trong "Tứ bất tử"… Hội Gióng là hệ thống diễn xướng mang tính biểu tượng, thể hiện sự sáng tạo của dân gian mà không lễ hội nào sánh kịp. Cho đến nay, Hội Gióng được cử hành ở nhiều nơi với nghi lễ khá tương đồng, tâm điểm là làng Phù Đổng (Gia Lâm), tương truyền là nơi Thánh Gióng sinh ra và Phù Linh (Sóc Sơn) - nơi Thánh bay về trời.

Hội Gióng còn là một kịch trường dân gian rộng lớn với hàng trăm vai diễn, trong đó tiêu biểu nhất là diễn xướng dân gian, tái hiện lại trận đánh giặc Ân. Người được chọn đóng vai Ông Gióng phải là một người mẫu mực, con cháu thảo hiền và đó là niềm vinh dự lớn. Hội Gióng hàng năm thu hút hàng trăm ngàn người tham gia. Trung tâm của lễ hội là nghi thức tái hiện lại chiến công của Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân theo truyền thuyết.

Từ những hương lễ, Hội Gióng đã trở thành hội vùng và có tầm cỡ quốc gia. Lễ hội độc đáo này hội đủ những tiêu chí của di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được cộng đồng bảo tồn, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, gìn giữ như một phần bản sắc của mình, chứa đựng những sáng tạo mang tầm nhân loại, thể hiện khát vọng về một cuộc sống thịnh vượng cho mỗi gia đình, về một nền hòa bình cho quốc gia và thế giới.

Theo các nhà nghiên cứu, ngoài ý nghĩa tâm linh, Lễ hội Gióng còn chứa đựng cả hệ tư tưởng đạo lý và triết học sâu sắc, thể hiện sự hòa hợp trong quốc gia, khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam là đất nước được quốc thái dân an, thái bình thịnh trị.

Theo PGS Bùi Quang Thanh, Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam, hình tượng Thánh Gióng sở dĩ có sức sống mãnh liệt trong lòng người dân vì tính dân tộc được thể hiện rất rõ. Thánh Gióng nảy sinh ra từ hoàn cảnh lịch sử, từ vị trí địa lý của cư dân bản địa như vậy nên Thánh Gióng được người dân tôn vinh là biểu tượng cho chống giặc ngoại xâm. Bởi người Việt Nam từ cổ chí kim luôn phải thực hiện hai nhiệm vụ cao cả nhất, đó là dựng nước và giữ nước.

Do vậy, Thánh Gióng đã trở thành một biểu tượng cấp thiết và luôn thường trực đối với đất nước cho nên tính dân tộc thể hiện rất đậm trong hình tượng Thánh Gióng. Trên thế giới các dân tộc đều xây dựng cho dân tộc mình hình tượng người anh hùng. Ở phương Tây, hình tượng người tráng sĩ thể hiện qua các anh hùng ca và sử thi rất rõ. Nhưng người tráng sĩ ấy lại tự thân vận động, mang tính độc lập và khi đã lập nên chiến công rồi mới tiếp nhận được sự tôn vinh của cộng đồng. Nhưng đối với Thánh Gióng thì ngược lại. Thánh Gióng là hình ảnh gắn kết của cả cộng đồng.

Khi Gióng sinh ra là được cộng đồng xây đắp về thể xác, như góp cơm, gạo, quần áo cho Gióng mặc và khi Gióng nhận lời sứ giả để xin vua ra trận đánh giặc Ân thì người dân lại góp từng mẩu sắt để rèn roi sắt, ngựa sắt, áo giáp sắt cho Gióng. Như thế đứng về thể xác, Gióng được sự tôn tạo của cộng đồng. Sau đó cộng đồng xây đắp về các chiến công và cuối cùng là tầm vóc của Gióng được hoàn thiện cũng là do cộng đồng vun đắp lên.

Như tất cả các làng quê khác, Lễ hội Gióng thường được khởi nguồn từ lễ rước nước. Đây cũng là nét đặc sắc của lễ hội Gióng bởi tính dân tộc của cư dân bản địa luôn gắn với nông nghiệp lúa nước.  Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng di sản quốc gia cho rằng: “Đấy là một lễ hội có từ lâu đời, tích hợp nhiều lớp văn hóa. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu càng ngày càng thấy rõ là cốt lõi ban đầu của hội Gióng chính là lễ hội nông nghiệp. Theo chúng tôi bắt đầu từ thời Lý, Trần trở đi, hội Gióng đã dần thay đổi và bây giờ nó đã trở thành một lễ hội sáng tạo ra biểu tượng của dân tộc đó là tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm và ngày nay nói đến Thánh Gióng là nói đến vị anh hùng dân tộc”.

Theo GS Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia: "Cái lõi ban đầu của Hội Gióng là lễ hội nông nghiệp nhưng đến thời Lý - Trần, Hội Gióng bắt đầu thay đổi, trở thành hội trận mang tính biểu tượng, tái hiện cuộc chiến chống ngoại xâm của cha ông ta, từ lúc chuẩn bị vũ khí, lực lượng, lương thảo cho đến khi kết thúc trận đánh. Sự phát triển đã giúp Hội Gióng sống mãi, được chính người dân bồi đắp, tạo nên tính cộng đồng độc đáo".

PGS - TS Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam lưu ý: Hội Gióng với tư cách là một loại hàng hóa đặc biệt, phải mang lại lợi ích kinh tế, nhưng vẫn phải quan tâm tới giá trị tinh thần là chính, chứ không phải là lợi nhuận. Phần lõi của nó vẫn là tín ngưỡng, vui chơi, giải trí lành mạnh, còn dịch vụ phụ trợ chỉ là yếu tố làm thỏa mãn nhu cầu của khách tham quan mà thôi.

Còn đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài, Lễ hội Đền Gióng mang những “tính cách văn hoá” thật độc đáo. Tiến sỹ Geoffrey Wall, một chuyên gia nghiên cứu về lễ hội và du lịch người Mỹ nhận định: Lễ hội Gióng thật độc đáo. Nó gợi lại truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc Việt Nam. Mọi người tham gia lễ hội rất đông vui. Nó thấm đậm hơi thở của lịch sử, ký ức, và đem lại những cảm xúc thật khác lạ”.

Theo bà Katherine Muller Marin, Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội, Hội Gióng có đầy đủ các yếu tố để đệ trình lên UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hội Gióng đã đóng góp một phần quan trọng vào kho tàng Hội làng Việt Nam và chứa đựng những khát vọng nhân bản ngàn đời: Đất nước thái bình, cá nhân có trách nhiệm với quốc gia và gia đình, đây là những thông điệp lịch sử mà các thế hệ tiền nhân đã gửi gắm và đây thực sự là một lễ hội của hòa bình và an lạc.

Với những ý nghĩa to lớn trên, Hội Gióng đã được UNESCO ghi nhận là  "Một bảo tàng văn hóa của Việt Nam, lưu giữ nhiều lớp phù sa văn hóa, tín ngưỡng". Và vào hồi 16 giờ 20 ngày 16/11/2010 (tức 22 giờ 20 Việt Nam) tại Thành phố Nairobi (Thủ đô của Kenya), Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc của Việt Nam chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trước đó, thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, UBND Hà Nội đã phối hợp với Bộ VH,TT&DL, Bộ Ngoại giao, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam xây dựng bộ hồ sơ Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc để trình UNESCO xem xét đưa di sản văn hóa phi vật thể này vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngày 4/8/2009, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đồng ý UBND TP. Hà Nội lập hồ sơ Lễ hội Gióng trình UNESCO. Hồ sơ do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam và Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội phối hợp thực hiện.  Sau gần một tháng, ngày 31/8/2009, hồ sơ Lễ hội Gióng hoàn thành, được gửi tới UNESCO đề nghị công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Thực tế, bộ hồ sơ được xây dựng trong thời gian ngắn và làm rất gấp rút, nhưng có sự hợp tác chặt chẽ của các nhà khoa học nên đã đáp ứng những tiêu chí của UNESCO. Tưởng nhớ một nhân vật truyền thuyết của VN được ghi nhận, đây là lễ hội được cộng đồng bảo tồn, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và coi lễ hội như một phần bản sắc của mình. Theo GS Ngô Đức Thịnh - thành viên Hội đồng di sản quốc gia, người tham gia phản biện hồ sơ, thì 4 điểm đặc sắc của Hội Gióng được thể hiện trong sự tích hợp nhiều lớp văn hoá qua hàng ngàn năm tồn tại với nhiều hình thức thể hiện độc đáo; tư tưởng chống ngoại xâm và khát vọng hoà bình với hình ảnh rất đẹp đẽ khi Thánh Gióng đánh xong giặc, bỏ lại áo giáp bay về trời; hệ thống diễn xướng tuyệt vời cùng các biểu tượng sinh động của một trong những lễ hội tiêu biểu nhất ở Việt Nam.

Trong số 46 di sản được công nhận năm nay của 29 quốc gia thành viên có 6 di sản là nghề thủ công truyền thống, 12 di sản là lễ hội, 6 di sản là tri thức dân gian, 20 di sản là nghệ thuật biểu diễn; 03 di sản là ẩm thực dân gian. Đợt công nhận này của Ủy ban liên chính phủ theo Công ước năm 2003 của UNESCO đã nâng tổng số di sản văn hóa phi vật thể của thế giới được vinh danh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là 212, trong số này có 4 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ở Việt Nam.

Gìn giữ, phát huy giá trị di sản văn hóa của nhân loại

Được tôn vinh ở tầm thế giới bởi mang những giá trị chung của nhân loại, việc bảo tồn, phát huy di sản Hội Gióng ở Việt Nam đặt ra những thách thức lớn ngay từ lúc được công nhận.

Cùng với 82 Bia tiến sĩ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám được công nhận là Di sản Tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới; Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản văn hóa thế giới, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là di sản thứ 3 của Thành phố Hà Nội được UNESCO vinh danh  trong năm 2010.

Lần đầu tiên trong hàng nghìn lễ hội ở Việt Nam, Lễ hội Gióng được ghi danh di sản thế giới. Hội Gióng mở cạnh Thăng Long nhưng qua bao đời, nó vẫn không bị "triều đình hoá", mà vẫn là lễ hội của dân, do dân gìn giữ, tổ chức, tham gia đông đảo. Tính nhân dân là một trong những tiêu chí được quốc tế đánh giá rất cao! Như vậy, Hội Gióng có tinh thần chống chiến tranh, khát vọng hoà bình… đều là những giá trị có tính phổ biến của nhân loại.

Việc thế giới công nhận Hội Gióng là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhân dân Việt Nam . Tuy nhiên, cũng đặt ra cho chúng ta những thách thức trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản luôn được giới chuyên môn cũng như việc giữ gìn trật tự, văn minh lễ hội. GS.TS Ngô Đức Thịnh, ủy viên Hội đồng di sản văn hóa quốc gia, người tham gia xây dựng và phản biện hồ sơ trước khi trình UNESCO cho rằng: “Lễ hội Gióng thuộc về nhân dân, do nhân dân sáng tạo ra, chìa khóa cho việc bảo tồn và gìn giữ chính là nhân dân, không ai có thể thay thế họ làm điều đó. Nhà nước dù có bỏ ra bao nhiêu tiền của và công sức nhưng để lễ hội xa rời nhân dân thì lễ hội cũng sẽ hỏng”.

Nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền khẳng định: Chúng ta cần bảo tồn những gì liên quan đến Thánh Gióng từ nguyên thuỷ đến bây giờ. Trong đó, cùng với di tích, có sự tổng hoà của những dòng văn hoá tụ về từ các địa phương. Như nghi thức múa Ải Lao, ý nghĩa của động tác múa cờ, việc chỉ rước ngựa trắng trong lễ hội, hay việc "tranh cướp" chiếc chiếu, kể cả sự xuất hiện của trẻ con…

GS Lê Văn Lan nhấn mạnh thêm: Hồ sơ được xây dựng trên cơ sở 2 lễ hội đền Phù Đổng ở Gia Lâm mở ngày 8/4 và đền Sóc ở Sóc Sơn mở ngày 6/1 âm lịch. Lần đầu tiên có sự liên kết 2 lễ hội vốn tách biệt, độc lập. Nay có sự kết nối của thời điểm, không gian và quan trọng là chủ đề tín ngưỡng, văn hoá của lễ hội, tính phức hợp sẽ phần nào gây khó khăn trong nghiên cứu, chỉ đạo, tổ chức lễ hội, tạo ra sự phức tạp. Ngoài những ý nghĩa sâu xa trên thì trước hết việc giữ gìn trật tự, văn minh lễ hội là vô cùng cần thiết.

Người làng Gióng có cách gìn giữ văn hóa rất riêng, họ rất tôn trọng các hương ước quy định người được tham gia lễ hội. Những gia đình có con cái hư hỏng, không hòa thuận sẽ không được tham gia hội làng. Gia đình nào có con được chọn đóng vai Thánh Gióng trong diễn xướng thì dốc hết lòng hết sức để làm đúng các nghi lễ, thủ tục mà cha ông truyền lại. Người đóng vai Thánh Gióng sẽ được dân làng cung kính gọi là ông Lệnh... Thông qua những việc làm đó người dân đã giáo dục cho các thế hệ con cháu của mình tinh thần thượng võ, đoàn kết. Vì vậy, thiết nghĩ Nhà nước, các tổ chức xã hội, các nhà quản lý, nghiên cứu văn hóa di sản sẽ có những giải pháp tối ưu nhất để bảo tồn và phát huy giá trị Hội Gióng, cùng góp sức với người dân bảo tồn lễ hội trường tồn cùng với thời gian, để Hội Gióng mãi trở thành một bảo tàng về văn hóa Việt Nam, tái  hiện lịch sử xây và dựng nước của dân tộc ta.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc có rất nhiều lễ hội đặc sắc, nhưng đối với người Việt cổ ở châu thổ Đồng bằng Bắc bộ, Lễ hội Gióng có bề dày văn hóa xa xưa nhất và đặc biệt mang tính dân tộc và tính cộng đồng sâu rộng. Với những giá trị lịch sử, văn hóa độc đáo, hiện, hồ sơ hội Gióng đã được đệ trình và được UNESCO xem xét công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Đây là một lễ hội cần được cộng đồng bảo tồn, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, chứa đựng những sáng tạo mang tầm nhân loại, thể hiện khát vọng về một cuộc sống thịnh vượng cho mỗi gia đình, về một nền hòa bình cho đất nước.