Sách » Thể loại khác » Giới thiệu về Sài Gòn

Người Sài Gòn


Thành phố Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh, đã 300 tuổi, liệu đã thành tạo một "Người Sài Gòn" chưa? Sài Gòn trong thời cận hiện đại cũng là một trung tâm văn hóa - kinh tế lớn của đất nước và khu vực, 300 năm văn hóa có chăng đã kết tụ một "người Sài Gòn".

"Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức viết vào khoảng năm 1820, có đoạn "Vùng Gia Định nước Việt Nam, đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời, Người tứ xứ, nhà nào tục nấy. Đất thuộc sao Dương Châu, gần Mặt trời, khí hậu nóng bức, nên người Gia Định trọng tiết nghĩa...". Ở đoạn tiếp sau, viết: "Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trọng nghĩa khinh tài rất nhiều, giai nhân mỹ nữ cũng lắm..."

John White, một du khách người Anh đến Sài Gòn vào đầu những năm hai mươi của thế kỷ mười chín. Khi trở về Luân Đôn, năm 1824 ông cho xuất bản sách "A voyage to Cochinchina", trong sách, ông ghi lại một số cảm nhận của người dân ở Sài Gòn: "Nhiều phụ nữ đẹp rất đúng mực và có nước da đặc biệt tươi sáng, cử chỉ của họ rất quyến rũ mà không có gì là thiếu đứng đắn...". Sau khi đi dạo phố về, tác giả viết: "Chúng tôi rất thỏa mãn về tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy, mang theo cảm tưởng tốt đẹp nhất về phong tục và tính tình của dân chúng. Những sự ân cần, lòng tốt và sự hiếu khách mà chúng tôi thấy đã vượt quá cả tất cả những gì mà chúng tôi đã quan sát đến nay tại các quốc gia châu Aá, khiến chúng tôi không thể tưởng tượng một dân tộc như vậy lại có thể khác được..."

Năm 1937, nhà văn Hồ Biểu Chánh, một thời nổi tiếng ở miền Nam với lối hành văn "rất Nam bộ" đã miêu tả lại cảnh chợ đêm ở Sài Gòn, có cảnh như sau: "Tại các cửa lớn, người ta tụ lại chật nức, trai chải đầu láng mướt, gái thoa môi đỏ lòm, già ngậm thuốc điếu phì phà khói bay tưng bừng, mẹ dắt tay bầy con, đứa chạy trước nghinh ngang, đức theo sau núc ních, kêu nhau inh ỏi, tốp chen lấn mua giầy, tốp ùng ùng vô cửa, người mặc y phục đàng hoàng, chung lộn với kẻ bình dân lao động không ai ngại chi hết, mà coi ra thì trên gương mặt mỗi người đều có vẻ hân hoan hớn hở..."

Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh cũng giống với Hà Nội, là nơi quy tụ của nhiều nguồn người dân. Hà Nội là chốn kinh kỳ, thuở xa xưa bốn phía là bốn trấn, Hà Nội dân bốn trấn về làm ăn sinh sống, cái mà dân gian gọi là "dân tứ chiếng". Đất Sài Gòn xưa cũng là nơi quy tụ của dân từ nhiều nơi trong nước. Sách Phủ biên tập lục của Lê Quý Đôn cho biết chúa Nguyễn đã chiêu mộ những người "có vật lực" từ xứ Quảng Nam, xa hơn là Trung và Bắc Trung bộ đến khẩn hoang lập ấp. Người đến Sài Gòn trong buổi ban đầu ấy đủ các thành phần, những người "có vật lực", nông dân nghèo đói vì mất đất, mất mùa vì chiến tranh, thợ thủ công, thương nhân tìm nơi làm ăn buôn bán, binh lính đồn trú, quan lại được bổ nhiệm (phần nhiều trong số này đến vùng Sài Gòn - Gia Định thường là bị Nhà nước "kỷ luật"), những tội nhân bị lưu đày, và cả những tội phạm trốn tránh truy nã và cả những kẻ du đảng... Các "tứ chiếng" của Sài Gòn "rộng" đến như vậy, có khác với Hà Nội.

Trong số những người nước ngoài đến Sài Gòn sớm nhất và đông nhất phải kể đến là người Trung Hoa, mà con cháu của họ hôm nay đã hội nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam với tên gọi "người Hoa" và là công dân Việt Nam. Đó là những người ở duyên hải phía Nam Trung Hoa, bao gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân, quan lại, binh lính... Họ đến Sài Gòn - Gia Định với nhiều lý do, mà chủ yếu là tìm đất sống, vì không chịu thần phục chính quyền đương thời, đặc biệt là một số quan lại binh lính của TrầnThượng Xuyên, Dương Ngạn Định hy vọng có dịp "phản Thanh, phục Minh". Những di dân người Hoa không chỉ góp phần tích cực cho sự hình thành và phát triển thành phố Sài Gòn xưa, mà còn góp phần vào sự định hình "con người Sài Gòn". Những yếu tố văn hóa Hoa trong văn hóa Nam Bộ có khác với Bắc Bộ, bởi tác động của những lưu dân người Hoa này. Những yếu tố văn hóa từ bên ngoài tác động vào Sài Gòn trong thời gian đầu phải kể đến trước tiên là văn hóa Trung Hoa từ những lưu dân người Hoa nhập cư. Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: "Gia Định là đất Việt Nam mới khai thác, lưu dân nước ta cùng với người Đường (...), người Tây Dương (tức các nước Pháp, Anh,... các nước ở châu Âu khác), người Cao Miên, người Java, Malai... chung sống với nhau đông đảo và phức tạp...".

Nửa thế kỷ hơn, trước khi Sài Gòn ra đời, những lưu dân người Việt đầu tiên đó không phải sống đơn độc. Đất Sài Gòn - Gia Định trước năm 1689 không phải hoang hóa, những nhà Sử học, Khảo cổ học, Dân tộc học đã chứng minh sự hiện diện một lớp cư dân cổ, nhưng cư dân bản địa, mà con cháu họ sau này này là các dân tộc ít người còn ở Đông Nam Bộ như Khmer, Stiêng, Mạ, Châu Ro... Định cư và khai thác mảnh đất Sài Gòn - Gia Định, lúc ban đầu, những lưu dân người Việt hẳn đã gặp gỡ và chung sống với các dân tộc ít người này trong một số thời gian dài. Quan hệ lưu văn hóa giữa người Việt và các dân tộc anh em đã góp vào việc hình tạo "người Sài Gòn" từ thuở ban đầu.

Để hình tạo một "người Sài Gòn", không thể không nói đến môi sinh địa lý của Sài Gòn. Cái khác nhau của con "người Hà Nội" và "người Huế" cũng là cái khác nhau của thiên nhiên, địa lý hai nơi đó, cái khác nhau giữa sông Hồng và sông Hương, khác nhau giữa một vùng thuộc trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, và vùng đất núi đồi xứ Huế - Trị Thiên... Sài Gòn có cái thiên nhiên riêng khác so với Hà Nội, Huế. Sài Gòn gần đường xích đạo, nói như Trịnh Hoài Đức là "Gia Định có vị trí Nam phương dương minh...". Sài Gòn thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, nên độ nóng và ẩm cao, thuận lợi thực động vật sinh sôi phát triển. Khí hậu Sài Gòn có hai mùa rõ rệt: mưa và khô. Về mặt cấu tạo địa chất, Sài Gòn nằm trên giới phân tuyến vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, nơi tiếp giáp đồi núi và đồng bằng, nên có vùng đất cao ở phía Bắc, còn phía Nam và Đông Nam đất thấp dần, có nhiều kinh rạch đầm lầy. Sông Sài Gòn là dòng sông trẻ, nối Sài Gòn với biển. Nhờ sông Sài Gòn, nên thành phố Sài Gòn nằm sâu trong nội địa hơn 60km mà vẫn là một cảng biển lớn, thuận tiện cho tàu biển ra vào. Sông Sài Gòn và hệ thống kênh rạch thành phố chịu ảnh hưởng rõ rệt của thủy triều. Chính cái thiên nhiên của Sài Gòn đó, ảnh hưởng sâu đậm đến nếp sống, phong cách của người Sài Gòn. Ở đây, ông Trịnh Hoài Đức có lý khi viết: "phương Nam thuộc quẻ Ly, hành hỏa, là quẻ có tượng khí văn minh, cho nên nơi đây kẻ sĩ thì chuộng điều nghĩa, quý việc học hành, người dân thì siêng năng trồng trọt chăn nuôi, làm nghề thủ công và buôn bán. Tuy nhiên, địa cực phương Nam chịu ảnh hưởng của sao Dương châu Dương tức phát dương, chỉ tính khí nóng nảy, bồng bột, nông nổi...".

Thế nếu có "người Sài Gòn", thì người Sài Gòn đó là như thế nào?

Quả thực đem câu hỏi này, hỏi người Hà Nội, người Huế, e cũng khó trả lời rành rẽ. Ông Trịnh Hoài Đức và sau này là Nguyễn Đình Chiểu đã đôi lần khẳng định cái đặc sắc của người Sài Gòn, ấy là "Trọng nghĩa khinh tài!". Quả thực để nói về tính cách, đặc điểm của một "con người" không dễ, có cái chung và cái riêng. Cái chung ấy, dù là người Hà Nội, người Huế, hay người Sài Gòn cũng đều là người Việt Nam cả, còn cái riêng là cái để nhận biết của mỗi người. Cái riêng của người Sài Gòn là thể hiện của cái chung trong điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử của vùng đất Sài Gòn. Những dòng viết này tôi không hướng tới một lý giải về người Sài Gòn. Ở đây, tôi chỉ nêu hai ý nhỏ, góp vào việc tìm hiểu người Sài Gòn:

- Sài Gòn là một thành phố "mở" trẻ và năng động, vì vậy, con người Sài Gòn không dừng lại ở sự định hình, mà còn tiếp tục hoàn thiện và thích ứng. Những nhìn nhận về người Sài Gòn phải được đặt trong trạng thái động, không ngừng phát triển.

- Tôi nghĩ rằng, người Huế không phải là điển hình cho người miền Trung, người Hà Nội vẫn chưa phải là tiêu biểu cho người phía Bắc. Bởi lẽ, miền Bắc và miền Trung tính địa phương khá đa dạng và không đồng nhất, mà Hà Nội và Huế có thể được xem như một trong những địa phương đó. Trái lại, người Sài Gòn, trong một chừng mực nhất định, có thể nói là tiêu biểu cho tính cách Nam Bộ nói chung, hoặc giữa cái gọi là người Sài Gòn vời người Nam Bộ không có sự phân biệt mấy về tính cách. Nghiên cứu người Sài Gòn cần thiết phải đặt trong cái chung Nam Bộ.

(Theo PGS - PTS Phan An trong khóa học phổ thông - 1998)

Người Sài Gòn xưa & nay

Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: "Gia Định ở Nam Việt đất rộng, vật thực nhiều, không lo sự đói kém, rét mướt, nên người dân ít tích lũy, tập tục xa hoa, sĩ khí hiên ngang... Gần Mặt trời khí thiêng hưng phát, trung chính văn minh. Nên con người chuộng tiết nghĩa, học sách Tứ thư, Ngũ kinh, Thông giám thì tìm hiểu nghĩa lý..."11. Thiên nhiên Sài Gòn, có những mặt ưu đãi con người, "vật thực nhiều, không lo sự đói kém, rét mướt"... đó là nơi "gạo trắng nước trong", nên con người Sài Gòn có nếp sống khá thoải mái. Đã một thời người xưa coi Sài Gòn như là một chuẩn mực cho những người lịch lãm, từng trải:

Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng

Người Sài Gòn, ngay từ sớm đã có chí làm ăn lớn, đã biết đến các hoạt động kinh tế mang tính hàng hóa. Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục (quyển 6) đã nhận xét: "Đất Đồng Nai bằng phẳng, thổ địa phì nhiêu... mỗi nhà có thể mướn 50, 60 người cày ruộng và nuôi đến hàng 300 - 400 con trâu bò, cày bừa, cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng mười một, mười hai thường giã gạo, bán lấy tiền ăn Tết, chạp. Từ tháng giêng trở đi, không làm công việc xay giã. Bình thời, chỉ đem gạo ra Phú Xuân đổi lấy hàng Bắc, lụa lãnh, trừu đoạn, quần áo tốt đẹp...".

Năm 1821, ông Finlayson dẫn đầu một phái bộ Anh quốc đến tìm kiếm cơ hội giao thương, đã nhận xét về người dân Sài Gòn: "Quần chúng nhân dân rất lịch sự, có trật tự, có tư cách hay kính nhường. Thật là vừa lý thú, vừa bất ngờ với chúng tôi. Ai nấy đều ăn mặc tử tế. Họ nhỏ thó người, nhanh nhẹn, mặt tròn có những nét đặc sắc... Chúng tôi có cảm giác rất tốt đẹp về phong tục và cử chỉ của nhân dân. Sự ân cần, tính rộng lượng và lòng hiếu khách mà chúng tôi đã gặp, vượt xa những gì mà từ trước đến nay chúng tôi đã thấy ở các nước châu Á khác".

Tầng lớp trí thức Sài Gòn cũng có một phong cách sống khá gần gũi với giới bình dân. Những thơ ca thi vịnh của nhóm Gia Định tam gia thi, Bình Dương thi xã ca ngợi cảnh đẹp, con người Sài Gòn, nhà thơ và dân chúng như hòa quyện vào nhau.

Con người Sài Gòn vốn năng động, chịu khó làm ăn, biết cách làm ăn lớn, nhưng vẫn giữ được cái dáng vẻ ung dung thư thái:

Trong cái buổi Sài Gòn ban đầu ấy, tuy gọi là thành thị nhưng dáng vẻ của thôn dã vẫn còn đậm nét đó đây, cái cảnh người nông phu trở về trong sự bình yên thanh thản, đã để lại dấu ấn cho người Sài Gòn về sau này. Người Sài Gòn có cái sự chân phương cởi mở. Nhiều câu chuyện dân gian, nhất là những sự tích của các địa danh Sài Gòn như sự tích sông Nhà Bè (hay truyện Thủ Huồng), cầu Thị Nghè, đồng Ông Cơ... cho thấy con người Sài Gòn xưa luôn hướng về cái thiện, về cộng đồng, gắn bó với một vùng đất mới. Trên bình diện văn hóa, Sài Gòn cũng là nơi sớm hình thành các nhóm thi ca, các sinh hoạt văn học nghệ thuật.

Sinh hoạt văn học nghệ thuật của Sài Gòn - Gia Định trong dân gian cũng rất phong phú. Vào dịp cúng đình, thường có hát bội phục vụ cho dân làng suốt ba đêm. Bộ phận người Hoa ở Sài Gòn cũng có những nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc: "Phía Tây đường lớn ở đầu phía Nam có hội quán Chương Châu, hễ gặp tiết đẹp, đêm trăng, các ngày tam nguyên, sóc vọng, thi treo đèn đặt bàn, đua tranh kỳ xảo, trông như cây lửa, cầu sao thành gấm vóc, hội quỳnh dao, trống kèn huyên náo, trai gáo dập dìu".

(300 năm SG-TP.HCM - NXB CTQG-1997)

 

Các cộng đồng dân cư ở Sài Gòn

Do vị trí chiến lược đặc biệt, Sài gòn là nơi hội tụ của nhiều luồng dân cư dân tộc từ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ đến định cư sinh sống trong nhiều thời điểm lịch sử khác nhau. Ngoài ra dưới thời Mỹ-Ngụy còn một số lớn binh lính, công nhân viên chức nước ngoài như Mỹ, Pháp, Canada, Úc, Philippines, Đài Loan, Thái Lan... đến Sài Gòn. Do đó cộng đồng dân cư ở Sài Gòn-Gia Định có rất nhiều thành phần khác nhau về địa phương, dân tộc, tôn giáo... Trong các thành phần dân cư ở Sài Gòn-Gia Định, người Việt chiếm tuyệt đối đa số. Vào những năm 1960, riêng vùng nội thành Sài Gòn có 1.423.500 người Việt trên tổng số 1.800.000 người, chiếm tỉ lệ 77,8%.

Người Việt có gốc miền Bắc di cư vào khoảng 33.000 người (năm 1945) cư trú ở các vùng Sài Gòn-Gia Định và Chợ Lớn, trong đó 75% là người công giáo di cư từ các vùng Bắc Ninh, Bùi Chu, Phát Diệm, Hải Phòng, Hà Nội, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Thái Bình, Thanh Hóa, Vinh... Số người này tập trung đông nhất ở các quận vành đai Sài Gòn như Tân Bình (chiếm 40% dân số quận và tập trung trong 13 phường), Gò Vấp (10 phường), Phú Nhuận (5 phường), Bình Thạnh (phân bố đều trong các phường)...

Người Việt gốc miền Trung di cư vào thành phố từ những năm 1959, 1960 và nhất là từ năm 1963 khi tình hình chính trị, chiến sự trở nên gay gắt ở miền Trung lúc bấy giờ. Ngoài gốc Quảng Nam tập trung ở khu Bảy Hiền, người Bình Định, Thừa Thiên và các tỉnh khác tập trung ở các xóm lao động vùng Cô Giang, Khánh Hội, Bàn Cờ...

Người Việt gốc lục tỉnh Nam Bộ như Tây Ninh, Long An, Đồng Nai hay An Xuyên (Bạc Liêu), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Long Xuyên... qua những biến động thời cuộc đã lên thành phố để làm ăn sinh sống.

Cộng đồng người Hoa ở Sài gòn
Người Hoa ở Sài gòn có khoảng 400.000 người, chiếm gần 15% dân số toàn thành phố. Sài gòn là nơi tập trung người Hoa đông nhất nước ta. Người Hoa cư trú rải rác trong nhiều quận huyện của thành phố , đông nhất là tập trung sinh sống ở các quận 5 (chiếm khoảng 45% dân số của quận), quận 11 (chiếm khoảng 45% dân số toàn quận) và các quận 10, quận 6, quận Tân Bình.

Trong quá trình lịch sử xây dựng và phát triển, bà con người Hoa đã có nhiều đóng góp tích cự, to lớn và có một vị trí kinh tế-xã hội quan trọng của thành phố. Người Hoa, ngày nay là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.

Người Hoa có mặt ở Sài gòn vào cuối thế kỷ 17. Đó là những lưu dân miền Duyên Hải-Hoa Nam của lục địa Trung Hoa, họ là những nông dân nghèo khổ, binh lính và một số quan lại phong kiến rời bỏ quê hương vượt biển tìm đất mưu sinh. Lý do rời bỏ quê hương của họ là tình trạng nghèo đói, loạn lạc bất yên, do những cuộc chiến tranh, những cuộc thanh trừng, bất phục tùng của các quan lại phong kiến, tri thức... Trên đường lênh đênh lưu lạc về phương Nam, một bộ phận lưu dân người Hoa có dừng chân, lập nghiệp nơi mảnh đất miền Nam Việt Nam, trong đó có khu vực Sài Gòn-Gia Định xa xưa. Người Hoa đến Sài Gòn-Gia Định với nhiều đợt di dân, định cư, mà một trong những đợt đông đảo, khá sớm là nhóm người của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạc Định đến Việt Nam vào năm 1679 cùng với 3.000 người, 50 chiếc thuyền xuất phát từ Quảng Đông. Đoàn người của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đến Đà Nẵng xin chính quyền phong kiến Việt Nam cho tỵ nạn.

Nhà vua Việt Nam đã cho phép những người Hoa này đến cư trú ở miền Nam Việt Nam. Nhóm của Trần Thượng Xuyên chọn đất Trấn Biên (nay là vùng Biên Hòa) để lập nghiệp. Một bộ phận của nhóm Dương Ngạn Địch đến vùng đất Phiên Chấn (sau là vùng Sài Gòn-Gia Định) tổ chức công cuộc định cư lâu dài, thành lập làng Thanh Hà. Năm 1778 nhóm cư dân của làng Thanh Hà chuyển từ vùng Biên Hòa về hợp nhất với bộ phận cư dân người Hoa ở Phiên Trấn lúc này đã lập nên làng Minh Hương. Thành phố Chợ Lớn đã khai sinh từ sự hợp nhất đó và nhanh chóng mở rộng để về sau trở nên thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn. Tên "Chợ Lớn" vốn có từ năm 1801 khi Lê Văn Duyệt giữ chức Tổng Trấn Gia Định thành, còn người Hoa vẫn quen gọi Chợ Lớn là "Đê Ngạn" (tiếng Quảng Đông là "Tai Ngon"). Những đợt di dân của người Hoa đến vùng Sài Gòn-Chợ Lớn còn tiếp diễn mãi đến năm 1949 là năm chính quyền cách mạng Trung Quốc ở lục địa thành công. Người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nhóm ngôn ngữ, chủ yếu gồm các nhóm sau đây:

- Quảng Đông
- Triều Châu
- Phúc Kiến
- Hải Nam
- Hẹ (Hakka)

Ngôn ngữ nhóm Hakka khá phức tạp, bao gồm nhiều nhóm nhỏ hơn và có sự dị biệt lớn. Tiếng Quảng Ðông và tiếng Triều Châu được nhiều người Hoa ở thành phố sử dụng và giao tiếp giữa các nhóm. Tiếng Bắc Kinh (phổ thông) cũng được các nhóm sử dụng và được giảng dạy trong nhà trường để cho con em người Hoa học.

Nhà nước phong kiến Việt Nam đã sớm công nhận một bộ phận người Hoa là công dân, các làng Minh Hương và Thanh Hà của người Hoa được hưởng các qui chế như các làng xã Việt Nam, người Minh Hương (người Hoa) cũng được đối xử bình đẳng như mọi thần dân trong vương quốc của nhà Nguyễn. Sự hội nhập của người Hoa vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam là một tất yếu lịch sử, điều đó là một bảo đảm chắc chắn cho hiện đại cũng như tương lai của đồng bào Hoa ở nước ta.

Ở Sài gòn, người Hoa sinh sống bằng nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, nhưng chủ yếu trên hai lĩnh vực: sản suất tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ. Trên lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp của thành phố, người Hoa góp một phần quan trọng trong tổng giá trị sản phẩm, ở một số quận đông người Hoa, từ 50% đến 70% giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp thuộc về bà con lao động người Hoa. Hoạt động tiểu thủ công nghiệp của người Hoa ở thành phố rất đa dạng, họ có mặt hầu hết trong các ngành lớn nhỏ, đáng chú ý là có đông người Hoa tham gia ngành cơ khí, hóa nhựa, cao su, thủy tinh, thuộc da và sản phẩm của da, dệt,v.v.. Một số ngành nghề thủ công của người Hoa mang tính truyền thống và sản phẩm của họ được ưa chuộng trên thị trường trong nước cũng như ở nhiều nước như chế biến thực phẩm, hương liệu, đông nam dược v.v... Người Hoa ở Sài gòn cũng rất tài giỏi trên lĩnh vực buôn bán, dịch vụ.

Trước ngày giải phóng 30.4.1975, hơn 80 hàng hóa bán lẻ và 60% hàng hóa bán buôn của thành phố do người Hoa đảm trách. Nhiều công ty xuất nhập khẩu lớn thuộc người Hoa quản lý, một số ngân hàng cũng nằm trong tay tư sản người Hoa. Từ sau ngày giải phóng, một số bà con buôn bán, dịch vụ người Hoa đã chuyển sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nhưng trên mặt trận lưu thông phân phối, dịch vụ, người Hoa vẫn còn nhiều ưu thế. Trong sản xuất và kinh doanh, người Hoa có một đội ngũ thợ chuyên môn tay nghề giỏi, tiếp cận kỹ thuật và thị trường thế giới nhanh chóng, linh hoạt. Giữ chữ "tín" trong quan hệ sản xuất, buôn bán là một đặc điểm và truyền thống của người Hoa.

Sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của người Hoa ở Sài gòn rất phong phú. Văn hóa của người Hoa là sự kết hợp giữa những nét truyền thống và được phát triển trong quá trình hội nhập của người Hoa vào Việt Nam, là sự giao lưu văn hóa với các dân tộc anh em trong cộng đồng Việt Nam. Nếp sống của bà con lao động người Hoa tương đối giản dị, chất phác, bà con còn bảo lưu nhiều tập tục, tín ngưỡng dân gian. Hàng năm vào các ngày tết cổ truyền như tết Nguyên Ðán, Nguyên Tiêu, Ðoan Ngọ, Trung Thu... bà con người Hoa thường tổ chức những cuộc vui hội lễ tưng bừng náo nhiệt. Nhà ở, chùa chiền, đình, miếu... được treo đèn kết hoa, dán đầy các mảnh giấy màu đỏ với dòng chữ chúc mừng hạnh phúc, bình yên, may mắn. Sân khấu hát Tiều, hát Quảng, múa Lân, múa Rồng, Sư tử... là những hoạt động biểu diễn nghệ thuật dân gian truyền thống đặc sắc của nghệ sĩ và quần chúng người Hoa.

Trong công cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp-Mỹ vừa qua, bà con người Hoa đã có nhiều hy sinh cống hiến to lớn vì sự nghiệp độc lập tự do của đất nước và thành phố. Những tên tuổi của các anh hùng liệt sĩ người Hoa như Trần Bội Cơ, Hàn Hải Nguyên, Lý Phong... còn sống mãi trong lòng nhân dân thành phố và dân tộc Việt Nam.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bà con người Hoa tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, tích cực lao động và hăng hái sản xuất, đạt nhiều thành tựu lớn lao, góp phần vì một Tổ quốc Việt Nam giàu đẹp...

Các dân tộc khác
Ngoài ra, trước năm 1975, ở thành phố Sài Gòn còn có khoảng 32.000 viên chức nước ngoài, 9.713 công nhân Mỹ và 5.612 công nhân Philippines, Nam Triều Tiên, Nhật, Pháp...

Sài gòn còn có nhiều dân tộc anh em cư trú, ngoài người Hoa còn có người Khmer-6.260 người, người Chăm-1.810 người. Bên cạnh đó còn có sự hiện diện của các dân tộc ít người miền Bắc di cư như: Tày (579 người), Mường (108), Nùng (5.812), Thái (196), Mèo (1), Hán (198), Cao Lan (3), Sán Dìu (5), Thổ (142), Mán (1)... và các dân tộc vùng Trường Sa Tây Nguyên như Gia Lai (10 người), Ê đê (18), Bana (7), Xơ Đăng (1), Stiêng (2), Vân Kiều (4), Churu (2).

Sự hình thành lối sống và con người Sài Gòn
Có thể nói vị trí địa lý và những nhân tố lịch sử đã góp phần quan trọng trong việc hình thành lối sống và con người Sài Gòn-thành phố Hồ Chí Minh. Dân thành phố vốn là những người đi khai phá vùng đất mới Nam Bộ, mà đã là dân khai phá thì phải có bản lĩnh, cá tính sức sống mãnh liệt để vượt qua các khó khăn thử thách để gầy dựng nên cơ nghiệp. Dân Sài Gòn khởi đầu là dân di cư lưu tán nghèo khổ cơ cực ở ngoại vi vùng Trấn Biên xa xôi, vốn căm thù chế độ phong kiến nên họ ít bị ràng buộc bởi những khuôn phép lễ giáo phong kiến và vì vậy rất cởi mở, phóng khoáng, hào hiệp. Lịch sử đấu tranh kiên cường trong lòng đô thị Sài Gòn những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho thấy con người Sài Gòn có lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh bất khuất dù phải hy sinh đến người con cuối cùng như các bà mẹ Củ Chi.

Bên cạnh đó, trải qua trăm năm Pháp thuộc và hai mươi năm thời Mỹ cai trị dưới tác động thường xuyên của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và công nghiệp phương Tây hiện đại dần dần đã tạo cho người dân Sài Gòn có lối sống công nghiệp, đầu óc thực tế, nhạy bén kỹ thuật, thị trường, biết quản lý và nhạy cảm với cái mới.

Do nằm ở ngã tư đường quốc tế từ Á sang Âu, từ Bắc xuống Nam, nên đất sài Gòn dung hợp nhiều nền văn minh, văn hóa. Hầu hết các tôn giáo lớn đều có hiện diện ở Sài Gòn, con người và kỹ thuật của đa số các nước trên thế giới đều có đến Sài Gòn, nên người Sài Gòn biết tiếp thu và gạn lọc những yếu tố văn minh, văn hóa nào phù hợp với tính cách dân tộc để giữ lại và phát triển.

Người Sài Gòn ngày nay, ăn mặc theo thời trang châu Âu, thích ở nhà theo kiến trúc của Pháp, rất sàch các món ăn Trung Hoa, có tập quán uống cà phê buổi sáng ở ngoài phố như người Pháp, lao động ngiêm chỉnh và cật lực như người Mỹ, chuộng cái thẩm mỹ kết hợp giữa truyền thống và hiện đại của người Nhật, thích đọc triết học của Đức, yêu thơ Tagore của Ấn Độ, say mê Dostoievski, Tolstol của Nga...

Song, mặt khác, cái giá mà người Sài Gòn phải trả cho những giá trị trên ở chế độ cũ cũng khá cao vì bọn thực dân, dù là Pháp hay Mỹ hoặc phát xít Nhật, không bao giờ có thiện chí đem đến cái tốt đẹp cho văn hóa Việt. Những nọc độc văn hóa mà chúng đưa đến đã có những tác hại sâu xa. Sau giải phóng, Sài Gòn có đến 100.000 gái mại dâm, 150.000 người nghiện ma túy, 10.000 trẻ em bụi đời, 10.000 người ăn xin. 200.000 trẻ em mồ côi, 200.000 du đãng 30.000 kẻ cờ bạc, buôn lậu, 400.000 lính Ngụy rã ngũ và gần 500.000 người thất nghiệp.

Những năm qua, Chính quyền Cách mạng đã nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, hạn chế dần những tệ nạn xã hội và các nọc độc văn hóa lỗi thời phản động đã làm tha hóa con người, chọn lọc và phát huy những yếu tố văn hóa văn minh lành mạnh và hiện đại.