Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 9: Tự do của con cái Chúa (thư Galát)

(Thư gửi tín hữu Ga-lát )

Trong chuyến đi truyền giáo lần thứ ba, Phaolô ở lại Ê-phêsô 3 năm, từ năm 54 đến 57 (Cv 18,23 tới 19,40). Trong thời gian lưu lại ở Ê-phê-sô , Phaolô viết rất nhiều thư, đặc biệt là cho tín hữu Cô-rin-tô và Ga-lát , hai cộng đoàn ông đã thành lập trong chuyến đi truyền giáo lần thứ hai (Cv 16,6)

Thư gửi tín hữu Ga-lát cho chúng ta thấy nơi Phaolô một nhân chứng say mê tự do kitô giáo. Thực ra, các Hội Thánh ở Ga-lát đã có vài rối ren, từ khi người Kitô hữu Do thái đến Giêrusalem tìm kiếm các tín hữu để thuyết phục họ cắt bì (5,2-12 ; 6 12-13) và để thực hành luật Do thái (3,2-5 ; 4,9-11.21). Lời giảng dạy của Phaolô bị cáo giác (1,6-10 ; 4,17). Đối diện với những người chống đối đòi luật Do Thái và kitô giáo đích thực, Phaolô bị đưa đến việc phải giải thích vị trí của ông trong nhóm tông đồ và nguồn gốc của quyền được làm tông đồ của ông. Rồi ông chuyển sang một thần học tấn công với lối văn mạnh mẽ chống lại luận điệu kitô giáo Do thái, giải thích ý nghĩa đích thực của tự do kitô giáo.

Đọc thư gửi tín hữu Ga-lát ta thấy chia ra nhiều giai đoạn: trước hết là xác định sự việc và cái được thua của việc tuyên truyền kitô giáo Do thái nơi người dân Ga-lát; hiểu ý nghĩa lời thanh minh về chính mình của Phaolô, về kinh nghiệm và vai trò tông đồ của ông; khám phá ra Phaolô trình bày vai trò của Đức Kitô trong việc cứu rỗi và trong sự tự do kitô giáo của chúng ta như thế nào.

I.  SỰ TUYÊN TRUYỀN KITÔ GIÁO–DO THÁI

Sau địa chỉ (1,1-5), được viết theo một khuôn khổ có tính ước lệ, trong đó Phaolô đã báo các đề tài chính của thư (nguồn gốc thần linh của sứ vụ tông đồ của ông, loan báo Tin Mừng ân sủng của Đấng Cứu độ Giêsu Kitô), chúng ta thấy trình bày hoàn cảnh nguy hiểm mà cộng đoàn tín hữu Ga-lát bị chìm ngập trong đó (1,6-10).

Phaolô tóm gọn sự nguy hiểm trong vài từ “một Tin Mừng khác” (1,6). Dường như thực tế là những kẻ khuấy động, những người từ bên ngoài lọt vào trong cộng đoàn và gây nên xáo trộn ( 1,7). Họ đẩy các tín hữu Do thái trở thành Do thái (3,2 ; 4,21 ; 5,4) nghĩa là hành xử theo luật Do thái: cấm thức ăn thức uống, cắt bì (2-3-4; 5,2 ; 6,12). Họ trách mắng Phaolô rao giảng Tin mừng theo “kiểu cách loài người”.

“Khủng hoảng Ga-lát” là tiêu biểu cho những khó khăn và chống đối mà Phaolô nhiều lần gặp phải trong sứ vụ của ông : Ông không ngừng đụng chạm với não trạng Do thái qui chiếu về các tập tục Môsê (Cv 15,1). Luật Môsê phải chăng được áp đặt cho tín hữu có nguồn gốc ngoại giáo. Thái độ của Phêrô và các quyết định của Công đồng Giêrusalem (Cv 15,19-21.28 và Gl 2,1-10) biểu lộ ý muốn mở ra cho dân ngoại: người ta chỉ đòi họ giữ vài qui tắc thực hành xét là không thể bỏ được.

Vì thế, trong thư gửi tín hữu Ga-lát, Phaolô rất rõ ràng. Muốn áp đặt thực hành các nghi thức Do thái, hay muốn tuân giữ chúng, là thực sự làm nguy hại đến Tin mừng mà Phaolô đã rao giảng. Cuộc chống trả của Phaolô dựa trên cùng lúc quyền tông đồ với mối dây liên hệ với Hội thánh Giêrusalem (1,11 đến 2,21) và việc trích dẫn kinh thánh chứng minh vai trò độc nhất của Đức Kitô trong việc cứu độ chúng ta và trong sự tự do kitô giáo của chúng ta (3,1 đến 6,10).

II.             THANH MINH CÁ NHÂN CỦA PHAOLÔ

Phaolô muốn thiết lập trước tiên, bằng các sự kiện, tính xác thực của “Tin Mừng của ông”:

-         1,11-24 : Phaolô đã nhận Tin Mừng này từ Chúa Giêsu, chứ không phải từ con người .

Trong đoạn văn này Phaolô cho chúng ta những chỉ dẫn quí giá về ý nghĩa của biến cố Đa-mát : Thiên Chúa “đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại (1,15-16). Nguồn gốc thần linh của Tin Mừng của Phaolô giải thích cách xử sự độc lập của ông sau khi trở lại.

-         2,1- trở 10 : Các “trụ cột” của Giêrusalem biết Tin mừng này

“Sự độc lập” của Phaolô không ngăn việc hiệp thông sâu đậm của ông với Nhóm Mười Hai. Công đồng các tông đồ tại Giêrusalem (kể lại trong Cv 15) đã nghe Tin mừng của phaolô và nhìn nhận sứ vụ cho dân ngoại.

-         2,11-14 :  Mối bất hòa với Phêrô ở An-ti-ô-khi-a chỉ là thứ yếu dù nó có ý nghĩa

Thái độ của Phêrô muốn trở về phong tục Do thái, Phaolô tố giác một áp lực đặt trên dân ngoại để cưởng ép họ thi hành Lề luật. Phải bảo vệ “sự thật của Tin mừng” (2,14) là ơn cứu độ hoàn vũ.

-         2,15-21 : Ơn cứu độ là do bởi dức tin chứ không do bởi Lề luật

Phaolô tóm tắt tư tưởng của ông, Tin mừng của ông ở đây. Bởi lòng tin vào Đức Kitô chết và phục sinh, người kitô hữu được tự do và công chính hóa không thể cậy dựa vào việc hoàn thành những công việc của Lề Luật. Vì thế không thể nào quay trở về Lề luật, vì như thế là vi phạm Tin mừng. Nếu chúng ta đã được cứu độ, chỉ là vì công nghiệp của Đấng bị đóng đinh và nhờ ân sủng siêu nhiên…

III.         VAI TRÒ CỦA ĐỨC KITÔ TRONG ĐỨC TIN VÀ TỰ DO KITÔ GIÁO

Phaolô triển khai điều vừa nói về vai trò độc nhất của Đức Kitô Đấng Cứu độ trong một bài giảng luận kinh thánh rất phong phú (3,1 đến 4,31) và ông kết thúc bài thuyết giáo kêu gọi tín hữu Ga-lát tìm đến tự do Kitô giáo đích thực (5,1 đến 6,10)

-         3,1 đến 4,31 : Công chính bởi đức tin chứ không bởi Lề luật

3,1-5 : Kêu gọi kinh nghiệm của tín hữu Ga-lát.

Kinh nghiệm mà tín hữu Gá-lát có đuợc khi trở lại, là một kinh nghiệm kitô giáo đích thực: bài thuyết giảng của Phaolô miêu tả cho họ “hình ảnh đức Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá” (3,1) và Chúa Thánh thần đã được ban cho họ vì họ tin chứ không phải vì họ thực hành Lề luật.

3,6-18 : giảng luận kinh thánh (Abraham)

Phaolô cho thấy Cựu ước chuẩn bị cho Tân ước. Ông tìm thấy trong Cựu ước một ví dụ mang tính giáo dục: Abraham, người của đức tin và của lời hứa, của ơn nhưng không tinh tuyền. Ví dụ này cho thấy tất cả mọi sự công chính bởi Lề luật đều bị loại trừ (3,10-18) : Lề luật thực ra là một thể chế lấy đi sự trừng phạt (11-14) là cái đến sau Lời Hứa (15-18). Trong Chúa Giêsu, con cháu của Abraham, mọi lời hứa với các tổ phụ được thực hiện.

3,19-29 : Vai trò trung chuyển của Lề luật

Vậy thì vai trò của Lề luật là gì? Phaolô mở ra ở đây những viễn ảnh rộng lớn về lịch sử cứu độ và vị trí tích cực mà Thiên Chúa phân định cho Lề luật: lề luật làm cho cảm thấy nhu cầu của ân sủng (3,19-22) và vào thời của nó, nó là một người canh gác, một nhà sư phạm dẫn đưa về Đức Kitô (3,23-29). Lề luật làm cho chúng ta thành con Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, khi mà Lề luật chỉ là khúc dạo đầu của sự chúng ta thuộc về Đức Kitô.

4,1-31 : Từ nô lệ của Lề luật đến tự do của con cái Thiên Chúa.

Người tin trở thành con Thiên Chúa vì “Thiên Chúa gửi Con của Người(4,4) và đã gửi Thánh Thần của Con Người trong tâm hồn chúng ta (4,6) .

Nếu Thiên Chúa đã làm cho chúng ta nên con của Người, nên người thừa kế, thì đừng quay trở lại các thực hành nô lệ nữa (4,8-11). Phaolô nhắc các tín hữu Ga-lát niềm vui và sự ân cần mà họ đuợc tiếp đón ngay từ đầu và họ đuợc nối kết bằng một tình huynh đệ đích thực (4,12-20). Vì thế họ là con cháu đích thực của Abraham, không phải con cháu bằng xác thịt (Agar) nhưng là con cháu theo Thần khí và tự do (4,21-31).

-         5,1 đến 6,1 : kiên trì trong tự do

Như trong phần lớn các thư, bài giảng huấn tiếp theo phần trình bày tín lý. Bài này tóm tắt ở đây một lời mời gọi vào sự thánh thiện.

5,1-12 : Kiên trì trong đức tin với Đấng Giải thoát duy nhất

Đức Kitô đã chuộc chúng ta để chúng ta được tự do thật (5,1). Vì thế đừng rơi vào tình trạng nô lệ lần nữa, nhưng hãy chọn sự tự do cách kiên quyết với niềm hy vọng.

5,13-25 : Ứng xử kitô giáo trong Thần Khí

Tự do Kitô giáo thực, là phục vụ anh em, là đời sống trong yêu thương: chính trong điều này mà lề luật nên trọn (5,13-15). Thần Khí dẫn ta bước đi trên con đường tự do. Thần Khí có sức giải thoát chúng ta khỏi “tính xác thịt” để “trổ sinh hoa trái của Thánh Thần” (5,16-21).

5,26 – 6,10 : Những lời dặn dò khác

Luật của đức mến triển nở, trong cộng đoàn, bằng tình huynh đệ.

Thư kết thúc bằng những lời dặn dò cuối cùng và lời chào sau hết (6,11-18). Phaolô tổng hợp các yếu tố quan trọng trong thư: biến cố Thập giá Đức Kitô đã đảo lộn thế giới và sự hiện hữu của ông; chúng ta được kêu gọi, bởi Thánh Linh, để trở nên một tạo vật mới trong tự do.

CÂU HỎI BÀI SỐ 9

1/  Bạn hãy đọc Gl 1,11-24. Qua đoạn văn này, Thánh Phaolô cho ơn gọi tông đồ của ông ý nghĩa nào ?

2/  Đọc Gl 2,16-21 . Đoạn văn này làm nổi bật vai trò của Đức Kitô trong ơn cứu độ của chúng ta như thế nào ? (Bạn đọc thêm những đoạn khác trong thư)

3/  Thư Ga-lát (nhất là chương 5) nói về sự tự do trong Đức Kitô. Dưới ánh sáng của các đoạn văn này, làm thế nào sống sự tự do kitô giáo ? Có những trở ngại nào trong tôi và quanh tôi? Đâu là những nguy hiểm và đòi buộc của sự tự do này ? Có sự trợ giúp nào trong Giáo hội (Tin Mừng, bí tích , cộng đoàn ….)?