Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 9: Mầu nhiệm Vương quốc : Đức Giêsu và thân nhân

          “Đức Giêsu cho ta thấy mỗi ngày một ít Vương Quốc đang đến gần. Người ở trên bờ biển. Biển là biểu tượng các thế lực sự dữ. Người khống chế chúng và trao ban quyền năng này cho cộng đoàn của Người, cho Nhóm Mười Hai mà Người đã chọn ra để loan báo Vương Quốc.

          Bằng cách nhìn ngắm và lắng nghe Đức Giêsu qua dáng vẽ bên ngoài, chúng ta sẽ khám phá ra Người thực sự là ai, hoặc chúng ta chỉ là những người mù tối.Chúng ta nhận biết Người và chúng ta trở thành người thân yêu đích thực của Người, hoặc là, chúng ta phê phán Người đồng thời cũng là lên án chính mình.

          Đó là chìa khóa để đọc những dụ ngôn mặc khải mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Lời Chúa được gieo vào lòng con người :hoặc là Nước Thiên Chúa nẩy mầm và lớn lên trong ta, hoặc là bị thui chột đi do những lo lắng vô bổ thống trị hay do chúng ta khinh suất

          Nước Thiên Chúa được thể hiện bằng những hành động đầy quyền năng. Trước những dấu chỉ này, sự sợ hãi chiếm ngự. Nhưng sự sợ hãi đó phải được thay thế bằng niềm tin dẫn đến câu hỏi then chốt: “NGƯỜI NÀY LÀ AI?”

Trích từ “Bonne Nouvelle” Marc nous raconte

Juillet-octobre 1980

Đức Giêsu lập Nhóm Mười Hai (Mc 3, 13-19)

LÀ MÔN ĐỆ,

nghĩa là được chọn, được gọi  để ở với Người,

để Lời Người tác động trên chúng ta,

ngay cả khi khó khăn vây hãm chúng ta.

Để đáp ứng lòng khát khao của những đám đông theo mình (Mc 3,7-12), Đức Giêsu chuẩn bị cho mình những bạn đồng hành.

Mác-cô mời chúng ta giã từ bờ biển để leo lên núi cao: Nơi thường xẩy ra nhiều mặc khải đặc biệt. Tại đó, Đức Giêsu kêu gọi “những ai Người muốn”.

Ba người trong Nhóm được Đức Giêsu đặt tên mới, đồng thời khoát cho họ một nhân cách mới.

Việc kể tên và nêu lên nét đặc thù của từng người cho chúng ta thấy rằng: họ làm sao thì Chúa Giêsu chọn họ như vậy.Chúng ta  không nên xem các tông đồ là những con người lý tưởng.

Đức Giêsu và Satan (Mc 3, 22-30)

Các kinh sư cáo buộc: “Người bị quỷ vương Bêendêbun ám” (3, 22). Họ muốn Đức Giêsu mất uy tín trước mặt mọi người.

Đáp lời họ, Đức Giêsu lần đầu tiên dùng những dụ ngôn mà họ có thể tự mình rút ra bài học: nếu Satan tự chống đối lại hành động của chính mình thì chúng không thể tồn tại, nhưng đã tận số. Và các kinh sư ở dưới sự thống trị của Satan.

Đức Giêsu mạnh hơn Satan nhưng con người phải nhận biết Người để đuợc lãnh nhận ơn tha thứ thần linh.Vậy thì, xác quyết rằng Đức Giêsu hoạt động dưới sự thống trị của thần ô uế, tức là đã tự ngăn mình nhận biết sự thánh thiện của Người và cũng đồng thời xác quyết bản thân Người ô uế ; đó là tội chống lại hoạt động của Chúa Thánh Thần.

Đức Giêsu và cha mẹ, anh chị em của Người (Mc 3, 31-35)

LÀ MÔN ĐỆ

Là ở trong gia đình của Người   

Là ở trong phần đất tốt

Là ở bên trong.

Cụm từ “anh em và chị em” chỉ họ hàng huyết tộc nhưng cũng còn chỉ những thành viên của một bộ tộc, một phe nhóm, theo tinh thần Sêmit.

Mẹ và anh em Người đứng ở ngoài”. Rảo mắt nhìn những người chung quanh Người, Đức Giêsu nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi”. Những mối tương quan của con người với Đức Giêsu xác định một mối quan hệ thân thuộc đích thực hơn là mối quan hệ máu thịt.

Mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.

LÀ MÔN ĐỆ

Chính là đón nhận Lời Thiên Chúa,

Để cho Lời Người nẩy mầm trong ta,

Để cho Lời Người lớn lên trong ta,

Và sinh hoa kết trái.

Đức Giêsu trở lại bờ biển. Người lên thuyền giảng dạy cho đám đông tập trung trên bờ.

Dụ ngôn đầu tiên đã rõ (Mc 4, 1-9) “Một người ra đi gieo giống ...” , “và “trong khi gieo...” có hạt ngấm xuống đất hay không ngấm xuống đất...là do một chuỗi những cản trở.

“Ai có tai nghe thì nghe”. (c. 9)

Lời Thiên Chúa tác động trên người biết lắng tai nghe; Lời đó nẩy sinh trong tâm hồn họ sự tự nguyện cam kết và ưng thuận tuân giữ.

TẠI SAO DÙNG DỤ NGÔN ?

         Những câu 10-13 của chương 4 trả lời cho chúng ta câu hỏi trên.

“Phần anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em, còn với những người kia là những kẻ ở ngoài thì cái gì cũng phải dùng dụ ngôn.”

         Chúng ta so sánh với câu chuyện trước đó: Những người họ hàng của Đức Giêsu thì ở ngoài, đám đông thì ngồi chung quanh Người.

         Sự khác biệt về lắng nghe được ghi dấu bằng sự khác biệt về mức độ gần gũi:

·       Có những kẻ đón nhận ân huệ mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.

·       Có những kẻ còn xa cách, đối với những người này, cái gì cũng phải dùng dụ ngôn, nghĩa là đối với họ, tất cả thực tại Nước Trời còn bị mã hóa.

Ngôn ngữ của những dụ ngôn nơi Mác-cô, được xem như là một phương tiện để che dấu: nghĩa là mầu nhiệm Nước Thiên Chúa được ban cho những người tự do tức là những ai mở lòng ra cho Thiên Chúa...Còn những ai chưa mở lòng ra đủ thì tự đóng kín lòng mình lại nên không hiểu và mọi sự  vẫn còn trong vòng bí nhiệm.

NHỮNG DẤU CHỈ THỂ HIỆN QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA.

          Sự vâng phục của biển. (4, 35-41)

          Đức Giêsu rời bờ hồ để đến miền Thập Tỉnh. Chính các môn đệ “chở Người đi với các ông” trên thuyền.

          Đức Giêsu đang ngủ thì trận cuồng phong nổi lên. Các môn đệ cầu cứu Người: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy không lo lắng gì sao.”

          Đức Giêsu “thức dậy”, “ngăm đe” gió biển. Trong Thánh Kinh, người ta quan niệm rằng biển cả là nơi mà các thế lực sự dữ cư ngụ.

          Hành động của Đức Giêsu có hiệu lực tức thì: biển lặng yên trở lại và Đức Giêsu mặc khải cho các môn đệ hiểu rằng họ sợ hãi là vì họ thiếu đức tin.

          Trước biến cố này, một câu hỏi được đặt ra: “Người này là ai mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh Người?”

          Cuộc gặp gỡ đem lại sự giải thoát (5, 1-20)

          Đức Giêsu và các môn đệ đến vùng đất của dân Ghêrasa. Cuộc gặp gỡ đầu tiên là với một kẻ bị thần ô uế ám: một mối nguy đối với chính người ấy và với cả những người khác. Người này là  dấu chỉ sự ô nhiểm của thế giới xa cách Thiên Chúa.

          Thần ô uế phản ứng: “Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đến ông?”

          Đức Giêsu hỏi nó: « Tên ngươi là gì? » Nó thưa: “Tên tôi là đạo binh”.

          Danh xưng này gợi đến chiến tranh. Quả là lạ lùng khi danh từ này chỉ về đội quân dân ngoại đến chiếm đóng: “đội quân Rôma”.

          Đối với người đàn ông tự thân bị phân rẽ này, Đức Giêsu tặng khả năng hiện hữu mới... Người trục xuất quỷ dữ, chúng nhập vào bầy heo, đổ xô xuống biển, tất cả những việc đó chỉ nhằm để mặc khải sự giải thoát con người  trước đây đã “được an vị, được khoác y phục và sống đúng với lương tri của mình.”

          Con người trở lại điều hay lẽ thiệt, không còn sa sút trí tuệ, con người được nên lành mạnh trong thân xác và tâm hồn ; được mặc y phục, một biểu tượng về sự phục hồi phẩm giá của con người.

Lời khẩn khoản nài xin của ông trưởng hội đường. (5, 21-43)

Đức Giêsu lên thuyền để trở về bên kia bờ hồ. Một người Do Thái, ông Giaia, là trưởng hội đường, đến khẩn khoản nài xin Đức Giêsu: “Xin Ngài đến! Con bé nhà tôi đã gần chết rồi.” Và Đức Giêsu cùng đi với ông.

Một đám rất đông đi theo Người... Và Mác-cô chưa vội tường thuật tình trạng suy kiệt của người phụ nữ bị băng huyết khi bà tìm cách chạm vào Đức Giêsu.

Theo truyền thống Do Thái, máu được xem như là trung khu sự sống con người, nhưng cùng lúc, Mác-cô đặt người đàn bà tìm cách chạm vào Đức Giêsu vào tình trạng ô uế. Người phụ nữ đang chết dần chết mòn vì bị xuất huyết.

Người đàn bà đó được chữa lành. Điều đã cứu sống bà chính là sự gặp gỡ giữa tự do của Thiên Chúa và tự do của con người. Bà đã chạm vào Đức Giêsu, nhưng Người muốn biết người phụ nữ này ... và muốn ban cho bà vài lời nhằm kiện toàn niềm tin của bà: “Này con, đức tin của con đã cứu con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Giữa lúc đó, có người đến bảo ông Giaia: “Con gái ông chết rồi”. Đức Giêsu cũng nghe được câu nói đó và mời ông vượt qua nỗi sợ hãi: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”

Tới nhà, Người chỉ cho cha mẹ đứa trẻ, Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo Người vào nơi đứa trẻ đang nằm.

Người cầm lấy tay và đánh thức nó dậy bằng lời của Người: “ Này bé, Thầy truyền cho con: chỗi dậy đi!”. Cụm từ trên, đối với những kitô hữu đầu tiên, mang một âm hưởng về sự Phục Sinh. Tuy nhiên, Đức Giêsu nghiêm cấm họ không để cho một ai biết việc này.

Qua cơn bão được dẹp yên, Đức Giêsu cho  ta thấy Lời Người có quyền năng làm thay đổi.

Qua những dấu chỉ nơi người bị quí ám ở Ghêrasa, nơi người đàn bà bị băng huyết, nơi con gái ông Giaia, Đức Giêsu đi ngang qua những xung đột, chia rẽ , tâm lý,đau khổ và những sầu muộn hằng ngày của chúng ta, để chiến thắng sự chết, sự ô trọc của ta, và làm nẩy sinh sự sống.

Vì Lời Quyền Năng của Đức Giêsu là Lời đem lại Bình An và Sự Sống.

BÀI TẬP

PHÂN TÍCH DỤ NGÔN NGƯỜI GIEO GIỐNG. (4, 1-20)

1.    Dụ ngôn (c. 3-9)

Thất bại                                Nguyên nhân: địch thủ                       Vùng đất

1) Không nẩy mầm                                           chim                             Vệ đường

2) Không lớn lên                                                mặt trời                        sỏi đá

3) Không sinh hoa trái                                      gai góc                         bụi gai

Một thành công: nẩy mầm                      (Không địch thủ)               đất tốt

                                 lớn lên và

                           sinh hoa kết quả.

Bốn loại đất được nêu ra:  từ vệ đường cho đến đất tốt.

Dụ ngôn gợi ra cho ta hướng đi nào?

Ý nghĩa của sự tiến triển này là gì?

2.    Các câu giải thích. (c. 10-13)

Theo Đức Giêsu, thất bại thực tế bao gồm những gì?

Theo Đức Giêsu, thành công thực sự bao gồm những gì?

3.    Dụ ngôn được diễn nghĩa (c. 14-20)

Thất bại 1 (c. 15)

Thất bại 2 (c. 16-17)

Thất bại 3 (c. 18-19)

Một thành công (c. 20)

4.    Từ dụ ngôn trên, bạn rút ra được bài học nào?

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí