Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 8: Sự tiếp cận Vương quốc do việc Đức Giêsu đến

Như phần dẫn nhập Tin Mừng Mác-cô đã chứng minh điều trên (1,1-13), Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu, rồi sau đó bị bỏ tù bất ngờ, nên ông đã ra khỏi hiện trường.

          Mác-cô tập trung mọi chú ý nơi Đức Giêsu.

1.Tầm quan trọng của Galilê khi được xem như là vùng hoạt động của Đức Kitô. (1, 14-15)

          Chính tại Galilê, Đức Giêsu khởi đầu công việc loan báo Tin Mừng Thiên Chúa. Dưới mắt Mác-cô, sự xuất hiện của Đức Giêsu tại Galilê mang ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Vùng đất này , nơi mà người Do Thái đã gắn bó mật thiết với các nước ngoại giáo, có một giá trị biểu trưng quan trọng: Xứ Galilê, đó là biểu tượng hay là nơi chốn ngang qua đó Đức Giêsu vươn tới toàn thế giới.

2.    Hiệu lực tức thời từ lời nói của Đức Giêsu (1, 16-20).

Khi Đức Giêsu loan báo Tin Mừng, lời của Người đem lại hiệu lực tức khắc; lời đó làm biến chuyển ngay những ai để cho nó tác động ! Cũng vậy, ngay khi Đức Giêsu gọi 4 môn đệ đầu tiên, họ liền theo Người !

Từ đầu sứ vụ, Đức Giêsu không ở một mình. Bên Người, luôn có những bạn đồng hành, mà sau này trở thành môn đệ, công tác viên của Người. Điều này đủ nói lên khả năng tập hợp tuyệt diệu từ lời của Đức Giêsu. Người lôi kéo các môn đệ đến với Người không chút ngập ngừng do dự.

Mác-cô sẽ còn tiếp tục chứng minh rằng Người cuôn hút cả đám đông đến với Người để được chữa lành.

Ví dụ: Buổi chiều, sau khi chữa lành bà mẹ vợ của Phêrô, đám đông lũ lượt kéo nhau đến trước cửa nhà bà.

3. Nơi Marcô, lời của Đức Giêsu không chỉ là một tổng hợp các diễn từ, ngược lại, đó là lời bằng hành động và việc làm. (1, 21-22)

          Nơi Mác-cô, Tin Mừng Thiên Chúa được trình bầy như là một “truyền thống” trên đời sống thế trần của Đức Giêsu, như một “dữ kiện” đã được soi chiếu qua mầu nhiệm Phục Sinh.

          Tin Mừng Mác-cô thể hiện Đức Giêsu như là Đấng Mêsia và Con Thiên Chúa.

Mác-cô không chậm trễ khai triển ý nghĩa hay nội dung rao giảng của Đức Giêsu. Trong khi Luca chậm trễ với thời gian ở Nazaret và Matthêu với bài giảng trên núi. Đối với Mác-cô, điều quan trọng là chỉ ra rằng Đức Giêsu là người năng động , là sự hiện diện của Thiên Chúa làm người

Với sự xuất hiện của Đức Giêsu, “Thời kỳ đã mãn” (1, 15).

Với sự xuất hiện của Người, chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thành tựu viên mãn.

3.    Những hành động của Đức Giêsu.

A)  Đức Giêsu là quyền lực của Thiên Chúa chống lại sự dữ, tội lỗi, đau khổ.

Tình tiết 1: (1, 23-28) Đức Giêsu xua đuổi một thần ô uế bằng quyền năng.

         Thần ô uế buộc phải vâng lời, xuất khỏi người bị ám. Tất cả những ai chứng  kiến đều kinh hãi và nói rằng: Thế nghĩa là gi? Phải chăng đó là giáo lý mới mẻ, người dạy lại có uy quyền !

Tình tiết 2: (1, 29-31) Đức Giêsu chữa lành bà mẹ vợ của Simon.

Người cầm lấy tay và nâng bà dậy!  Trong Cựu Ước, cơn sốt mang một sắc thái của tội lỗi. Nó là lời loan báo về cái chết đối với ai bất trung với Giao Ước. Đó cũng là thứ hình phạt vì tội lỗi.

Khi chống lại  khổ đau, là Đức Giêsu chống lại tội lỗi.

Tình tiết 3: (1, 32-34)

          Chiều đến, cả thành xúm lại trước cửa nhà bà mẹ vợ của Simon. Đối với Mác-cô, những người bệnh và những người bị quỷ ám đến với Đức Giêsu không phải tự động được chữa lành. Mác-cô không nói như Matthêu là tất cả những ai đến với Người đều được khỏi bệnh. Mác-cô hầu như chỉ dẫn chứng một số hạn chế nào đó, còn về số đông người được khỏi thì ngài nói: Nhiều người đau yếu được chăm sóc và nhiều thần ô uế bị trục xuất.

          Khi ra lệnh cho các thần ô uế câm lặng, bởi chúng nhận ra Người, có thể Đức Giêsu ước tính rằng còn quá sớm để tiết lộ căn tính của Người .

Tình tiết 4: (1, 35-39) Đức Giêsu ra riêng một nơi để cầu nguyện.

          Những bạn đồng hành đến tìm Người và nói: “Mọi người đang tìm Thầy đấy”. Đức Giêsu đáp ứng yêu cầu của họ nhưng giải thích thêm : Không phải chỉ ở Capharnaum mà còn phải đến khắp vùng Galilê để thi hành phận việc Thiên Chúa giao phó.

Tình tiết 5: (1, 40-45) Một người phong hủi được lành sạch.

          Câu chuyện kể của Mác-cô làm cho ta có cảm tưởng rằng người phong hủi đến gặp Đức Giêsu đáp ứng được lời tuyên bố “phải đến khắp vùng Galilê”. Hành vi của anh ta tuy là cá thể nhưng lại lột tả được ý đồ là: Anh ta đến với Đức Giêsu như người ta sẽ đến với Người từ khắp nơi, vào phần cuối câu chuyện.

          Ngay từ phần đầu, anh ta đã qui phục ý muốn của Đức Giêsu bởi anh ta nhận ra quyền năng thần thông của Người: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”.

          Điều này quan trọng, vì trong não trạng Cựu Ước, bệnh phong hủi không được xem như những bệnh khác và sự chữa lành bệnh này chỉ nhờ vào lòng thương xót của Thiên Chúa mà thôi. Trong Cựu Ước, rất nhiều lần, bệnh phong hủi được xem như là án phạt của Thiên Chúa. Người bệnh phải cách ly ra khỏi cộng đồng và cấm không được vào trong đền thờ. Chỉ có quyền năng của Thiên Chúa mới có thể chữa lành được bệnh này.

Kết luận

          Phần đầu trong Tin Mừng của Marcô (1, 21-45) cho ta khám phá ra hoạt động của Đức Giêsu: Khi thể hiện quyền năng Thiên Chúa trong đời sống cụ thể của loài người, dù ở hội đường, nơi công cộng hay ở nhà riêng, trong thành thị hay nơi hẻo lánh xa xôi, Đức Giêsu chỉ nhằm đem sự hiện diện của Thiên Chúa đến gần để giải thoát con người khỏi sự dữ (tội lỗi) và cũng để biểu lộ hai khía cạnh thâm sâu trong trái tim Người. Đức Giêsu chất chứa nơi đây những chiến thắng vừa trên bệnh tật của thân xác, vừa trên sự tha hóa của tâm hồn.

B)  Những tranh luận tại Capharnaum: quyền năng của Đức Giêsu càng ngày càng bị các kỳ  mục và Pharisêu chống đối.

Diễn tiến về sự chống đối Đức Giêsu chuyển biến qua năm cuộc tranh luận sau đây:

1.  Cuộc tranh luận về ơn tha tội. (2, 1-12)

Với cái nhìn của Cựu Ước, bệnh bại liệt đổ ập xuống con người như là một án phạt của Thiên Chúa, xứng hợp với tội lỗi của họ.

Qua hành động của những người khiêng bệnh nhân, Đức Giêsu thấy được niềm tin nơi họ. Chính niềm tin này đã dẫn người bại liệt đến với Người và rồi Người phán bảo thân ái như sau: “Này con, tội con đã được tha”. Dưới con mắt của những kinh sư có mặt lúc đó, lời này gây ra một sự khích bác. Người này nói phạm thượng!  Ngoài một mình Thiên Chúa ra, ai có quyền tha tội? Họ nghĩ thầm trong bụng như thế.

Đức Giêsu thấu rõ tư tưởng của họ và đặt ra câu hỏi với họ:Điều nào dễ hơn:  nói với người bại liệt: “ Con đã được tha tội rồi hay Hãy đứng dậy, vác lấy chõng mà về”?

Để khóa miệng các kinh sư, Đức Giêsu mời gọi họ nhận ra rằng khả năng chữa lành phần xác chỉ là nhất thời và hạn hẹp, nếu như khả năng ấy không nắm bắt đuợc con người trong những mối dây thâm sâu của nó : cái chỗ mà nó là tội nhân trước mặt Thiên Chúa, bệnh tật thể xác của nó rõ ràng là một dấu chỉ. Người tỏ ra rằng Người có quyền tha tội trên trái đất này.

Về phía những người khác hiện diện, họ kinh ngạc sửng sốt trước hành động của con người khi hành động đó thể hiện quyền năng cứu độ của Thiên Chúa nhằm giải thoát con người cả thân xác lẫn tâm hồn.

2 . Cuộc tranh luận về việc ăn uống với người tội lỗi (2, 13-17).

Đức Giêsu đã sớm trả lời về vấn đề này khi Người tự ví mình như thầy thuốc có bổn phận phải chăm sóc người bệnh chứ không chăm những người khỏe mạnh.

3 .Cuộc tranh luận về việc không giữ chay. ( 2, 23-28)

Khi so sánh các môn đệ với những khách dự tiệc cưới, Đức Giêsu tự ví mình như là Chàng Rể và khi Chàng Rể còn hiện diện thì phải vui mừng. Chính Người là Chàng Rể, được dân của Người yêu mến say mê và đã được các vị ngôn sứ gợi ý. Những vị này cũng muốn nói về vị đối tác thần linh trong Giao Ước của Thiên Chúa.

4.   Các môn đệ của Đức Giêsu vi phạm luật ngày Sabat. (2, 23-28)

Nhằm khiển trách người Pharisêu, Đức Giêsu trả lời bằng cách nhắc lại cho họ trường hợp vua Đavit. Vua đã cho các thuộc hạ đói khát ăn thứ bánh tiến chỉ dành cho hàng tư tế. Môn đệ của Đức Giêsu đói bụng, nên có quyền bứt và vò lúa trong tay của mình, kể cả vào ngày Sabat và nhất là Người nhấn mạnh rằng chính Người là chủ ngày Sabat!

5.   Có được phép chữa lành trong ngày Sabat không? (3, 1-6)

Đối với những người chống đối, Đức Giêsu đưa ra câu hỏi rất bất ngờ: “Ngày Sabat được phép làm điều lành hay điều dữ? Cứu mạng người hay giết đi?”

Đã rõ khi đưa ra câu hỏi như trên. Đức Kitô không để cho những kẻ chống đối một lối thoát nào, bởi thông thường các luật buộc trong ngày Sabat đều phải hủy bỏ một khi mạng sống của con người bị đe dọa.

Đức Giêsu giận dữ nhìn những người tranh luận lặng thinh. Bằng sự việc này, Ngài phơi bày lòng dạ chai đá của họ, và bằng quyền năng của Thiên Chúa, Người ra lệnh cho người bại giơ tay ra. Nói ngắn gọn, Người chữa lành anh ta trước mặt mọi người. Người Pharisêu tức giận bỏ đi và bàn tính với nhóm Hêrôđê tìm cách giết Đức Giêsu.

Kết luận:

         Phần thứ hai này, xuyên qua những cuộc tranh luận về quyền năng của Đức Giêsu như Đấng Thiên Chúa sai đến, cho chúng thấy sự chống đối mỗi ngày một tăng  của các kinh sư và Pharisêu đối với chính con người Đức Giêsu.

BÀI TẬP

          Chúng tôi đề nghị với bạn một vài câu hỏi nhằm giúp bạn tìm ra bối cảnh của giai đoạn một này.

         Bạn cũng có thể tự lựa chọn một đoạn văn để suy nghĩ. Mời bạn đi thẳng đến câu hỏi số 4.

1. Mc 1, 14-15 Lời công bố của Đức Giêsu có ý nghĩa gì? Lời công bố đó giới thiệu phần một của Tin Mừng Marcô trong những điều gì? Ngày nay,ta diễn dịch các cụm từ này như thế nào?

2. Mc 1, 29-38 Làm sao nhận ra những mối tương quan đan kết nhau giữa Đức Giêsu và các môn đệ thời kỳ đầu sứ vụ của Người?

3. Mc 2, 23-28 và 3, 1-6 Điều gì nối kết hai cuộc tranh luận về ngày Sabat? Ta có thể định rõ cái được thua của những cuộc tranh luận đó không?

4. Lời bình luận bản văn theo sự chọn lựa của bạn.

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn