Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 8: Ở với anh em bên Đức Kitô (thư 2 Côrintô)

Sự biến đổi thiêng liêng của người kitô hữu đã bắt đầu bởi Thánh Linh trong quyền năng của Đấng hPục sinh, không lấy đi tính yếu đuối nhân loại, đặc biệt là nơi các tông đồ. Điều này hiện diện trong suốt các chương của thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô, thư hay nhất trong mục vụ tông đồ.

Những tình tiết dẫn đến thư này thì khác so với những tình tiết của thư thứ nhất. Giữa lúc đó, mối quan hệ của người nhận thư với Phaolô xem ra bị khủng hoảng nặng. Một mặt, người ta xác nhận một phần tử của cộng đoàn đã gây tổn thương cho vị tông đồ (2,5) và phẩm chất tông đồ của Đức Kitô đã bị đặt thành vấn đề (1-7). Mặt khác, Phaolô phải lo cho một nhóm theo linh hứng Do Thái của ông (10-13).

Vì thế dường như không phải các đối thủ mà Phaolô nhắm tới tạo thành một nhóm đồng nhất: có nhiều nhóm mà điểm chung là chống đối Phaolô.

Đối mặt với họ, Phaolô thấy mình bắt buộc phải tự vệ, dẫn giải về sứ vụ tông đồ. Điều này gây ra những suy tư tín lý sâu sắc nhất về sứ vụ tông đồ, lôi cuốn người nghe và người đọc đến mục đích của ông xuyên qua một lối văn khác thường và những công thức mạnh mẽ.

I.   SỰ MỎNG DÒN VÀ CAO CẢ CỦA SỨ VỤ TÔNG ĐỒ

Trong sứ vụ tông đồ của mình, Phaolô thường dùng chữ “chúng tôi” thay vì chữ “tôi” vì “chúng tôi” có thể chỉ chính bản thân vị tông đồ hoặc là Phaolô và các cộng sự (1,19; 8,22) nghĩa là tất cả những sứ giả Tin mừng.

Tông đồ không cần thư giới thiệu để chính thức hóa sứ vụ của mình, vì một thư như thế ghi nhận một khả năng cá nhân. Còn khả năng của tông đồ đến từ Thiên Chúa. Phaolô cũng không muốn một thư giới thiệu nào khác hơn là thư đã được đọc trong tim: đó là sự sống, bởi Thánh Thần, công đoàn chính thức hóa sứ vụ “thư viết trong tâm hồn chúng ta, mọi người đều biết và đã đọc” (3,1-5)

Sự cao trọng của sứ vụ Giao ước mới so với cái cũ cũng được ghi nhận (3,6 ; 4,6). Giao ước mới được Giêrêmia và Edêkien loan báo thì bây giờ đã thể hiện nơi Đức Kitô (đây là lần đầu tiên giao ước với Môsê được coi như giao ước cũ và từ Cựu ước được dùng để chỉ các Sách thánh của người Do thái). Đọc Môsê để hướng về Đức Kitô. Kỷ nguyên của Thánh Thần đã khởi sự: “ Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương: như vậy, chúng ta đuợc biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.” (3,18)

Cũng vậy, hành động tông đồ của Phaolô là đầu tiên và độc đáo: động lực do Chúa Kitô ban cho (2,14-17). Việc được chia phần vinh quang với Đức Kitô hướng dẫn và thu hút ông. Và tình yêu của Đức Kitô ôm chặt lấy tông đồ, với ý tưởng rằng “Đức Kitô chết cho tất cả chúng ta và chúng ta cùng chết trong Người”. Thế giới cũ qua đi, một thực tại mới đang tồn tại. Trong Đức Kitô, chúng ta nhận biết mọi người, mọi vật theo một thể thức mới. (5,14-17)

Phaolô tự đặt mình làm sứ giả của Đức Kitô (5,20) và ông cũng tỏ ra cách thức ông thi hành sứ vụ hòa giải (5,18-20). Sự hòa giải mà ông là người tôi tớ không khác gì cách Đức Kitô đã thực hiện qua cái chết và phục sinh của Người: từ đó không còn là Hi Lạp hay Do Thái. Trong Đức Kitô, mọi người là một tạo vật mới và được kêu gọi sống đời sống mới của một tội nhân đã được giao hòa và công chính hoá. Vậy cần phải để mình cho “Thiên Chúa giao hòa”. Sứ vụ của Phaolô là lôi kéo mọi người trong “sự công chính của Thiên Chúa’, trong sự thánh thiện này (5,18-21) 

Chắc chắn rằng, không dễ gì con người để mình giao hòa bởi người khác, để mình không là nguồn cứu độ cho chính mình. Phaolô biết bằng kinh nghiệm điều mà đoạn văn sau đây trình bày: sự cứu độ do bởi thực hiện Lề luật và sự cứu độ do tin vào Đức Kitô. Ông cũng biết Sự Sống nào và Tự Do nào nổi lên. Trong suốt hành trình của sứ vụ tông đồ, ông luôn ý thức ông chỉ là một con người và tất cả những chi tiết ông gieo trong đời sống mình là để phục vụ Đức Kitô - hiểm nguy- đau đớn- lo lắng – khó khăn- roi vọt của người Rôma, đòn vọt của người Do thái, ném đá, đắm tàu (6,1-10) – minh họa cho cái đối với ông là luật căn bản của sứ vụ:“ Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (12,9)

Phaolô biết sự mỏng dòn và cao cả của sứ vụ: “ Kho tàng ấy chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (4,7)

Phaolô mang trong người cái chết của Chúa Giêsu để “ sự sống của Đức Kitô cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi (4,11), để cộng đoàn lớn lên (4,12), sự trao đổi diễn ra giữa tông đồ và các kitô hữu là bắt chước sự trao đổi của Đức Kitô: “ Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô, thì nhờ Người chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi (1,5-6)

Sự trao đổi đã thực hiện nơi “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người (2 Cr 5,21);giữa Đấng “ vốn giàu sang phú quí, nhưng đã tự trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2Cr 8,9). Cũng chính Đức Giêsu Kitô muốn biết sự yếu hèn cho đến tận cái chết để đưa chúng ta đền sự sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa (2 Cr 13,4)

II.   KHÍA CẠNH ĐẠI KẾT CỦA SỨ VỤ TÔNG ĐỒ

Chúng ta đã lưu ý sự đặc biệt  của địa chỉ trong thư 1 và 2 gửi tín hữu Cô-rin-tô: “ gửi Hội thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô”. Không có một Hội Thánh tại Cô-rin-tô và các Hội Thánh ở các nơi khác, nhưng là một Hội thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô cũng như cùng Hội Thánh đó ở các nơi khác.

Phaolô sẽ đưa ra một nội dung cụ thể về thực tại Hội Thánh hoàn vũ qua việc khuyến khích các cộng đoàn do ông thành lập quyên góp giúp cho Hội Thánh ở Giêrusalem (Rm 15,26 ; 1Cr 16,1) là Hội Thánh nghèo nhất (Cv 11,28): các người có trách nhiệm ở Giêrusalem bày tỏ ước nguyện (Gl 2,10), nhưng bằng chứng cho thấy tín hữu Cô-rin-tô đã có sáng kiến trước về việc này (2Cr 8,10,11 và 20).

Khi người dân ngoại trở lại Kitô giáo đem hoa trái cuộc lạc quyên lên Giêrusalem, các đại biểu của các Hội Thánh chỉ ra rằng viễn ảnh về Đấng Mêsia trong Isaia 60-62 đã thành hiện thực: Đức Kitô, Người Tôi Tớ đau khổ và Vinh quang là sự vinh quang của Giêrusalem; mọi dân nước đuợc đón tiếp, dân mới, Hội Thánh cùng chung một thân thể (Ep 2,11-22)

Phaolô cho hành động này của sứ vụ một ý nghĩa quan trọng và sử dụng nó theo quan điểm của người Cô-rin-tô với một sự sáng suốt mục vụ (8-9). Khi cuộc lạc quyên được thực hiện, nó tỏ ra sự thông hiệp xuyên qua các khác biệt; đặc biệt nó nhấn mạnh sự hiệp nhất của người Do thái và người Kitô hữu trong cùng một đức tin, một Hội Thánh.

Phaolô cũng thể hiện bằng hành động lý tưởng mà ông đã bày tỏ trong lần gặp gỡ với “các cột trụ” ở Giêrusalem: Việc truyền bá Tin Mừng cho người không cắt bì được giao cho ông, cũng như Phêrô được giao lo cho giới cắt bì (Gl 2,7) và cuộc lạc quyên cho người túng thiếu ở Giêrusalem muốn là dấu chứng cụ thể cho việc thừa nhận tông đồ này (Gl 2,9-10).

CÂU HỎI BÀI SỐ 8

Ý thức đuợc sự cao cả của sứ vụ tông đồ và những khó khăn kèm theo, Phaolô giải thích cho người Cô-rin-tô ý nghĩa đích thực của đời tông đồ : 2Cr 5,11 - 6,10

1/  Theo đoạn văn trên, đâu là ý nghĩa, các đòi buộc, sự cao cả của sứ vụ tông đồ ?

2/  Phaolô biểu lộ các khó khăn và gian truân của ông không phải là một thất bại đối với Thiên Chúa như thế nào?  (xem thêm 2Cr12,7-10)

3/  Chứng từ của Phaolô soi sáng cho đời tông đồ và nhân chứng cho Đức Kitô của chúng ta trong những khía cạnh nào ?