Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 7: Tất cả cho mọi người để bằng mọi cách cứu được một số người– phần 2 (thư 1 Côrintô tiếp theo và 2 Côrintô)

III. TÁC ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN VÀ CÁC ĐẶC SỦNG

        (1 Cr chương 5-14)

Cần nhắc nhớ người Cô-rin-tô, những người mới có kinh nghiệm và linh hứng sơ sài, về cái gọi là hiểu biết sự thật ( bài 6)

Kế đó Phaolô phản ứng về 3 vụ lộn xộn trầm trọng :Một trường hợp loạn luân (5,1-13) ; kiện nhau ở tòa đời (6,1-11) ; và dâm ô (6,12-20) . Tiếp theo ông trả lời các câu hỏi về :

-         Hôn nhân và độc thân (7,1-40) : phục vụ Thiên Chúa là điều tối cần; đó là ơn gọi chứ không phải do con người quyết định.

-         Thịt cúng và việc tham dự vào đời sống thị thành (8,1-11) : đối với Phaolô được tự do là biết khước từ các quyền của mình. Vì thế người Cô-rin-tô phải canh chừng: nếu ăn thịt cúng mà làm cho ai đó sa ngã thì chớ nên ăn. Người Cô-rin-tô phải bắt chước Phaolô như Phaolô bắt chước Đức Kitô là làm tất cả mọi sự vì vinh quang Thiên Chúa (10,31 – 11,1).

-         Các vấn đề liên quan đến việc quản lý trong các buổi hội họp (11,2-16): có một chỗ đứng cho đàn ông và một chỗ đứng cho đàn bà trước mặt Chúa, trong Đền thờ mới là Thân Thể Đức Kitô

Người ta xác nhận, trong 1Cr 11,2-16 rằng, phụ nữ có một chỗ đứng trong việc thờ cúng của cộng đoàn và tham gia vào các sứ vụ: phụ nữ nói tiên tri (12,5). Qui luật thực tiễn đặt ra trong 14,34-36, và phụ nữ chỉ còn “im lặng trong các buổi họp” và không được phản đối. Nhưng ở những thời điểm mà việc thờ cúng theo đông phương biết đến bà đồng và các nữ tu sĩ của Cybèle, Phaolô sợ rằng các hiện tượng xuất thần có thể làm quên đi cách xử sự kitô giáo.

-         Việc cử hành tiệc Thánh Thể (11,17-34) : một lần nữa, Phaolô nghi ngại sự thấm nhập của dân ngoại nơi các tín hữu Cô-rin-tô: cách mà họ dùng bữa để cử hành Tiệc Thánh Thể gần giống như sự thái quá trong việc thờ cúng thần rượu nho Bacchus : người thì đói, người khác lại say xỉn. Nếu “được phép làm mọi sự” nhưng “không phải mọi sự đều thích hợp (10,23). Tự do kitô giáo tìm thấy đức ái đối diện với nó và phải ngưng lại trước nó. Vì bản thân Phaolô thuộc về thế giới của Thiên Chúa, ông đồng nhất sự tự do và đức ái: “ làm nô lệ cho mọi người” (9,19)

Phaolô cũng nhắc lại truyền thống mà ông nhận được và vươn lên tới Chúa (11,2-25) ; ông thêm vào đó viễn ảnh cánh chung (11,26). Ước gì mỗi người tự xét cách thức mình tham dự Tiệc Thánh Thể và rút ra những hệ luận.

-         Các ơn của Chúa Thánh Thần và việc sử dụng chúng trong tình huynh đệ: trong học thuyết về Thánh Linh và những ơn ban cho cộng đoàn, Phaolô nhấn mạnh trên những khía cạnh của sự hiểu biết và tình yêu: điều này quyến rũ nhất đối với người Hi Lạp.

Nếu chúng ta cân nhắc các chương 11, 12, 13, 14 với nhau, chúng ta nhận được một lời giảng dạy có tính học thuyết về đề tài thừa tác vụ và các ơn của Chúa Thánh Thần. Phaolô chỉ cho chúng ta cách định vị chúng trong mối tương quan với nhau.

Tuy nhiên, không nên đòi Phaolô một khảo luận đầy đủ về những điều trên. Mục đích của ông trước hết là để điều chỉnh những vấn đề thực hành.

Chỉ có một Thiên Chúa là nguồn mạch duy nhất cho mọi đặc sủng (12,4-11). Các đặc sủng được ban tặng nhằm mưu ích cho mọi người. Phaolô dùng hình ảnh thân thể và các bộ phận của nó (12,12-25) để kết luận : Anh em là Thân thể của Đức Kitô và là các bộ phận của Người, mỗi người có phần mình (12,22). Vì thế, tất cả đặc sủng thuộc về toàn thể cộng đoàn. Phaolô trình bày sự đa dạng của các đặc sủng này, đặt lên hàng đầu ba sứ vụ xuất phát từ những kitô hữu Do Thái: tông đồ, tiên tri , thầy dạy (12,28).

Rồi ông cắt phần diễn giải bằng Bài ca đức mến vì “ Nếu tôi không có đức mến, thì chẳng làm ích gì” (13,1-3) : đức mến gạn lọc các đặc sủng khỏi mối nguy hiểm kiêu ngạo.

Tin, cậy, mến là nền tảng của đời sống kitô hữu và rất quan trọng trong hệ tư tưởng của Phaolô, nhưng đức mến vượt trội hơn các nhân đức khác. Phaolô đưa ra 15 đặc tính để đạt đỉnh cao nhất trong hình ảnh của tấm gương và viễn tượng của niềm hi vọng: “mai sau tôi sẽ được biết hết như Thiên Chúa biết tôi” (13,12). Thông minh kitô giáo là thông minh được thấm nhuần tình yêu, được Thánh Linh biến đổi.

Bằng phương thức này, Phaolô giúp tín hữu Cô-rin-tô tránh được ảnh hưởng sự ngộ đạo và linh đạo cuồng nhiệt: người ta càng được linh hứng thì càng xuất thần và càng trở nên người kitô hữu trọn vẹn. Người ta tin rằng được Thánh Linh dẫn dắt và núp dưới danh nghĩa “mọi sự đều được phép” (6,12 ; 10,23);  chỉ riêng cá nhân của từng người và sự xây dựng cá nhân theo quan điểm riêng của mình là đáng kể. Phaolô cũng nhắc rằng trong số các kinh nhgiệm về linh hứng, chỉ những linh hứng nào đưa tới việc tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa thì mới là linh hứng lành mạnh (12,1-3); và trong số nói tiên tri và tiếng lạ, ông chọn lời tiên tri xây dựng nhắm vào cộng đoàn (14,1-19). Vì trong tất cả mọi nghi thức, tất cả phải nhằm xây dựng cộng đoàn (14,20-40), và không cần phiên dịch. Vai trò của đặc sủng không phải là để thực hiện ngay bây giờ và cách “nhãn tiền” những niềm hi vọng bất tử nhưng mà để mở ra cho sự chiêm ngắm và cho đức mến tỏa hiện ra bằng sự phục vụ cộng đoàn. Điều này rất quan trọng đối với Phaolô đến nỗi ông đi vào các chi tiết nhỏ nhặt để điều chỉnh các buổi họp phụng vụ.

IV. KẾT HỢP VỚI ĐỨC KITÔ (1 Cr chương 15 và 16 ; 2Cr 4,16 ; 5,10)

Tín hữu Cô-rin-tô so sánh học thuyết của Phaolô liên quan đến việc phục sinh với quan niệm riêng của họ :

Đối với người Hi lạp, thân xác là vật chất, đối ngịch với trí thông minh: do đó thân xác bị khinh chê.

Đối với người Do Thái, con người là một thể thống nhất: linh hồn và thể xác. Người Do Thái sợ giai đoạn thân xác phải chết bị bỏ rơi và thân xác linh hồn chưa kịp mặc áo (2Cr 5,2-5)

Để trả lời cho các vấn nạn tại sao và như thế nào đối với việc phục sinh, trước tiên Phaolô nhắc lại nội dung Tin Mừng Kitô giáo bằng cách kể ra một công thức đức tin cũ kỷ từ truyền thống, có lẽ bằng tiếng A-ram, xuất xứ từ Giê-ru-sa-lem “Đức Kitô chết vì tội chúng ta, theo lời Kinh Thánh. Người đã chịu mai táng. Người đã sống lại theo lời Thánh Kinh. Người hiện ra với Kê-pha và Nhóm Mười hai… “ (1Cr 15,3-5).

Rồi nói với người Hi Lạp, hình ảnh nẩy mầm giúp cho ý nghĩa “thiêng liêng” của việc phục sinh thân xác (1Cr 15,42-44) vì theo ông, thân xác là dáng vẽ bên ngoài trông thấy đuợc của một con người. Cũng vậy như thân xác vinh quang của Đức Kitô phục sinh, Chúa Thánh thần sẽ bao bọc thân xác chúng ta và làm cho nó một thân xác tinh thần. Việc biến đổi thiêng liêng này sẽ chạm đến người sống cũng như kẻ chết trong ngày Quang lâm- đang hoàn thành ngay từ bây giờ nơi người kitô hữu. Phaolô đưa ra kinh nghiệm: nếu thân xác bên ngoài của ông đi đến chỗ hư mất, con người bên trong của ông lớn mạnh lên và dẫn đưa ông từng chút một đến “với Chúa Giêsu”, đến “với anh em gần kề bên Người”(2Cr 4,7-18). Và để nối kết với người Do thái đang lo lắng, Phaolô đi từ sự chắc chắn về tình yêu của Chúa, tình yêu tạo lập sự đảm bảo rằng hiện hữu của chúng ta sau cái chết không lệ thuộc vào thân xác nhưng vào tình yêu và quyền năng của Đức Kitô Sống động. Con người bên trong, nhân cách thật vẫn tồn tại sau cái chết ( 2Cr 5,6-8). Cái chết không phải là sự hư vô hóa của con người nhưng là sự tìm gặp lại đầu tiên với Đức Kitô.

Ngay từ bây giờ, người kitô hữu, bởi đức tin và phép Rửa, hợp nhất trong Chúa Thánh Thần, với sự phục sinh của Đức Kitô. Ngay từ bây giờ, người Kitô hữu được mời gọi sống với Đức Kitô bằng cách thông phần vào sự đổi mới thiêng liêng đã bắt đầu, tận thâm sâu của lòng mình (2Cr 5,17). Chúng ta đã mang trong mình tính hiện hữu thực tế, dù ẩn giấu của sự phục sinh. Và sự phục sinh của riêng ta sẽ tỏ hiện và làm đầy đủ cuộc sống này.

Kitô hữu là người để cho Thánh Linh và quyền năng của Đấng Phục sinh chiếm đoạt trí thông minh và thân xác mình và đưa dẫn chúng về vinh quang của Đức Kitô.

CÂU HỎI BÀI SỐ 7

Trong 1Cr chương 8-10, Thánh Phaolô trả lời câu hỏi về ăn thịt cúng.

 1/  8,4-6 : Thánh Phaolô trả lời chung như thế nào?

 2/  8,7-13 : sau đó Thánh Phaolô thêm vào nguyên tắc nào ?  (xem thêm 8,1-12)

 3/ Thánh Phaolô đưa thí dụ của mình : bản thân ông, vì lòng mến, đã từ bỏ quyền của mình. (chương 9). Thí dụ này làm sáng tỏ điều gì? Bạn có thể minh họa các câu 9,19-23 bằng một vài thí dụ của đời sống kitô hữu ngày nay không ?

4/ Thánh Phaolô biết rằng ngoại giáo có thể lừa tín hữu Cô-rin-tô : tham dự các bữa ăn ngoại giáo, là rất nguy hiểm trở về các ngẫu tượng cũ. Trong chương 10, những nguyên tắc nào người kitô hữu phải dùng để xem xét hành vi của mình?