Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 7: Phần mở đầu : Từ Gioan Tẩy Giả tới Đức Giêsu

            "Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa".  (Mc 1,1)
           
Những chữ đầu tiên trong Tin Mừng Mác-cô  gây sốc !
            Mác-cô không quanh co mà nói ngay cho chúng ta về sự khám phá đã làm đảo lộn cuộc đời ông: ĐỨC GIÊSU NAZARET, ĐỨC KITÔ, CON THIÊN CHÚA !

            Lời khẳng định này quá lớn, không thể tưởng tượng được, huyền bí ... Và lời xác tín đó là một TIN MỪNG phải được LOAN BÁO CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI.

            Với những chữ đầu này, Mác-cô cũng nhắn bảo với chúng ta về ba giai đoạn trong Tin Mừng của ngài:

            ĐỨC GIÊSU, đó là tên của Người.
            ĐỨC KITÔ, Phêrô cũng nhận ra danh hiệu đó của Người (8, 29).
          
CON THIÊN CHÚA, viên đại đội trưởng sẽ tuyên xưng như thế đúng vào thởi điểm quan trọng (15, 39).

GIOAN TẨY GIẢ

1.      Sự xuất hiện được báo trước của Gioan. (1,2-3)

Trong Tin Mừng, Mác-cô lấy lại lời dẫn chứng của Isaia đồng thời xen vào đó hai dẫn chứng khác nơi Xuất Hành 23,20 (“Này, Ta sai thiên sứ đi trước ngươi”) và nơi Malakhi 3,1 (“để dọn đường trước mặt Ta”). Phần cuối chỉ là lời của Isaia: “Có tiếng hô trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta.” (Is 40, 3)

-  Dẫn chứng nơi sách Xuất Hành làm ta nghĩ đến con đường dẫn Israel về miền Đất Hứa: Thiên Chúa sai thiên sứ đi trước mặt dân của Người để ngài dẫn đưa và gìn giữ họ trong suốt cuộc hành trình.

Dẫn chứng nơi Malakhi gợi lại nhân vật Êlia mà lần trở lại của vị ngôn sứ phải xẩy ra trước Ngày của Giavê (xem Mlk 3, 23) và sứ vụ của ngài là quét sạch con đường để Đức Chúa có thể vào trong Đền Thờ của Người tại Giêrusalem.

-  Dẫn chứng nơi Isaia (40, 3) gợi lại lần trở về của những người bị lưu đầy, qua ngã sa mạc mà tiến về Giêrusalem.

Con đường mà Gioan Tẩy Giả phải quét dọn vừa là con đường của Đức Chúa vừa là con đường của dân Người.

Người ta không biết con đuờng này dẫn về đâu...

Dù sao đi nữa thì đó là con đường băng qua “sa mạc”.  Và rồi người ta đi đến chỗ nhận ra rằng con đường đó dẫn đến sông Giođan, tại nơi đó Gioan làm phép rửa.

2.      Sự xuất hiện của Gioan(1, 4-6)

Lời tiên tri của Isaia đã thành hiện thực : “Gioan đã xuất hiện” (c. 4).

Gioan hành động (làm phép rửa) và nói (rao giảng sám hối) như một vị ngôn sứ. Phép rửa của ngài có một ý nghĩa rất rõ là: “để được tha tội”.

Ngài ngỏ lời đến toàn vùng Giuđê và Giêrusalem (c.5), với tất cả mọi người, không phân biệt ai kể cả những người có địa vị.

Sự việc đó xẩy ra tại sông Giođan, nơi mà nhiều người lũ lượt kéo nhau đến để xưng thú tội lỗi của mình.

Gioan có phong cách của một vị ngôn sứ (c.6): như ông Êlia, ngài mặc áo lông cừu (xem 2V 1,8), tự nuôi sống mình như những người du mục trong sa mạc (xem St 43,11).

3.      Cốt lõi của sự hiện diện và việc làm của Gioan Tẩy Giả (1, 7-8)

Gioan công bố:

“Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi”.

·        Đến sau tôi”, đi sau một ai đó: điều này thường diễn tả thái độ của môn đệ.

·        Sự khác biệt ở đây là Gioan Tẩy Giả nói rằng môn đệ của ngài thì “mạnh mẽ”  hơn ngài. “Mạnh mẽ”, “quyền năng” là một phẩm chất của Thiên Chúa luôn hiện diện trong Cựu Ước

“Tôi không đáng... cởi quai dép cho Người”.

·        Quả là sự đảo lộn vị thế ! Gioan Tẩy Giả tự nhận mình là tối tớ của Đấng mà ngài loan báo.

“Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước;

còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần”

·        So sánh giữa hai phép rửa.

-  “Phép rửa nhờ nước”: như đã nói ở phần trên (c 4 và 5). Phép rửa của Gioan là một phép rửa sám hối, nghĩa là sự nhận thức về tội lỗi của mình trước Thiên Chúa và do đó, là một sự mời gọi thay đổi não trạng và thái độ.

-   “Phép rửa trong Thánh Thần”: Đó là điều mà các ngôn sứ lớn đã loan báo (Ed 36, 25-28; Gr 31, 31-34). Chỉ có Thần Khí Thiên Chúa mới có thể thực sự thanh tẩy dân chúng trong nội tâm sâu thẳm của họ.

ĐỨC GIÊSU, CON YÊU DẤU.

Phép rửa của Đức Giêsu. ( 1, 9-11)

            Sự xuất hiện của Đức Giêsu đã được loan báo và chuẩn bị trước. Tuy nhiên, đây vẫn có cách thức bất ngờ:

            “Hồi ấy, Đức Giêsu từ Nazaret miền Galilê đến và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan” (c. 9)

            Qua câu 9, Đức Giêsu đặt mình vào trong vị thế của dân chúng: Người tự đón nhận phép rửa vì sự liên đới với dân của Người. Nhưng, đối với Đức Giêsu, đây không phải là vấn đề xưng thú tội lỗi của mình !  Sự khiêm hạ của Người dù sao cũng gây ngạc nhiên: Người, “ Đấng mạnh mẽ nhất”, tự nhận chịu nghi thức của sự chết và sự sám hối này.

            Vừa “lên” khỏi nước, Đức Giêsu thấy một thị kiến: Thần Khí “ngự xuống” trên Người và Người nghe tiếng từ các tầng trời phán bảo.

Chỉ mình Đức Giêsu nhận ra thị kiến này

·        “Các tầng trời xé ra”: hình ảnh (xem Is 63, 19) diễn tả sự thông hiệp đã xẩy ra, sự thông hiệp giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người.

·        “Tựa như chim bồ câu”: Biểu tượng của Thần Khí diễn tả rất đặc biệt về sự dịu hiền, tình yêu, lòng nhân ái của Cha dành cho Người Con yêu dấu của mình. Cùng lúc, nó khơi dậy sự rên rĩ và đau đớn.

·         “Và một tiếng...”: Tiếng từ trời phán bảo trên Đức Giêsu những lời trong Thánh Vịnh 2,7. Thánh Vịnh này là một Thánh Vịnh phong vương (“Con là Con Ta...”)

Chữ “Con” hay chữ “yêu dấu” nói lên một mối dây thân tình .

Cách gọi đó ám chỉ Isaac, người được chỉ định làm lễ tế (xem. St 22.2.12.16; Dt 11, 17-19) và nhất là muốn khẳng định rằng Đức Giêsu là Con Một và mối liên  hệ với Cha là mối liên hệ của tình yêu.

Những lời sau cùng (“Cha hài lòng về Con”) liên tưởng đến Người Tôi Tớ Đau Khổ của Đức Chúa (Is 42,1). Người Tôi Tớ này sẽ hoàn thành sứ vụ của mình ngang qua đau khổ.

          Qua những hình ảnh, ngôn từ, ám chỉ, ta nhận ra ý nghĩa trong sáng về sứ vụ của Đức Giêsu: sứ vụ của lòng nhân ái và yêu thương. Sứ vụ này được thể hiện bằng sự khiêm hạ trong đau khổ và cái chết. Một sứ vụ sẽ dẫn Người lên ngôi Vua.

Thử thách nơi hoang địa. (1, 12-13)

“Và liền” (đã xem ở c. 10)

Marcô dùng cụm từ này 42 lần trong Tin Mừng của ngài. Qua đó, chắc chắn ngài muốn nhấn mạnh đến sự  khẩn thiết phải loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu đến với muôn dân.

            Ngược lại với Matthêu và Luca, Mác-cô không khai triển chút gì giai đoạn liên quan đến những cơn cám dỗ. Bằng cách khơi lại 40 năm trong sa mạc của dân Do Thái, Mác-cô chỉ tóm tắt những thử thách mà Đức Giêsu phải chịu trong suốt cuộc sống trần thế của Người.

            Ám chỉ những dã thú và thiên sứ ( c.13) cho ta thấy rằng Đức Giêsu thắng được thử thách, khôi phục sự bình an và sự hòa hợp với thế giới (dã thú: xem Tv 90, 13; Is 11, 6) , với Thiên Chúa (những thiên sứ, những sứ giả của Thiên Chúa: xem 1V 19, 5-7).

BÀI TẬP

A. Ba câu hỏi đặt ra để giúp đọc bản văn Mc 1, 1-13.

1.  AI?  Ai là diễn viên trong cảnh này ?

      Ai dẫn dắt câu chuyện? Ai hành động? Ta gặp ai?

2. Ở ĐÂU?  Tất cả những sự kiện đó xẩy ra tại đâu?

        Những nơi chốn ấy gợi ra điều gì?

3. ĐỂ LÀM GÌ?  Nếu có nhiều người – nếu họ ở chỗ nào đó – chính là để làm một điều gì ở nơi ấy! Nhưng điều ấy là gì?

B.  Hãy bình luận một câu (tùy chọn) trong bài dẫn nhập này (Mc 1,1-13)

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn