Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 6: Tất cả cho mọi người để bằng mọi cách cứu được một số người– phần 1 (thư 1 Côrintô)

“Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do thái, tôi đã trở nên Do thái, để chinh phục người Do thái. Với những ai sống theo Lề luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề luật, dù không còn phải sống theo Lề luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lế Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề luật, dù tôi không sống ngoài Lề luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Kitô để chinh phục những người sống ngoài Lề luật. Tôi đã nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số ngừơi. Vì Tin Mừng tôi làm tất cả những điều đó, để được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1Cr 9, 19-23).

Những lời trên của Phaolô nói lên cho chúng ta cách nào đó khẩu hiệu của ông: là mọi sự cho mọi người. Các lời đó đặt Phaolô thực sự bước theo chân Chúa Giêsu trở thành một người trong chúng ta để dẫn đưa chúng ta đến với Cha, làm cho ông thực sự là “tông đồ của Đức Giêsu Kitô” như ông thường tự giới thiệu với các cộng đoàn. (1Cr 1,1; 2Cr 1,1; Ep 1,1 ; Cl 1,1; 1Tm 1,1; Tt 1,1)

Đối với ông, cũng như đối với Đức Kitô, phải nối kết con người trong điều kiện sống cụ thể, soi dẫn nó dưới ánh sáng Tin Mừng, đồng thời dẫn dắt nó kết nối với Đức Kitô và kết hợp với Người. Điều gì đúng cho cá nhân thì cũng đúng cho cộng đoàn … Một ví dụ có sức thuyết phục nhất về thực tại Phaolô sống là mối liên hệ của ông với “Hội thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô” (1Cr 1,1; 2Cr 1,1)

I. PHAOLÔ ĐÃ GẶP CÔNG ĐOÀN NÀO Ở CÔ-RIN-RÔ ?

A/ Thành phố

Phaolô đã sống ở Cô-rin-tô có lẽ từ cuối năm 50 đến tháng 7 năm 52. Từ 27 năm trước công nguyên, Cô-rin-tô là thủ đô của vùng thượng viện Achaie, do một quan thái thú điều khiển.

Bị quân Rôma cướp phá và san bằng năm 146 trước công nguyên, thành phố được Xê-da tái xây dựng vào năm 44 trước công nguyên. Khi Phaolô đến đó, thành phố chỉ mới tồn tại khoảng 100 năm. Phát triển rất nhanh, thành phố thịnh vượng này thu hút một số dân tứ phương từ khắp mọi miền của vùng biển Địa Trung Hải.

Người ta làm đủ mọi thứ nghề, theo đủ mọi tôn giáo, có đủ mọi thứ triết lý. Có một đền thờ lớn thờ thần Aphrodite.

Giao thông tấp nập giữa 2 cảng Cenchrées và Lechion làm cho thành phố trở thành nơi trung chuyển giữa đông và tây. Dân số khoảng 500 000 trong đó 1/3 là dân tự do hay nô lệ được giải phóng.

Phaolô đến thành phố đầy hoa, nổi tiếng là giàu có và đầy tập tục này.

B/ Cộng đoàn

Đến Cô-rin-tô, Phaolô liên kết với cộng đoàn ông đã thành lập, gồm phần lớn là người Hy Lạp và kitô hữu xuất thân từ dân ngoại thuộc giai cấp thấp (1 Cr 26-29; 12,20. Cũng có vài phần tử Do thái (Cv 18,8 ; 1Cr 1,22-24). Vì đuợc thành lập từ những tín hữu có nguồn gốc khác nhau, cộng đoàn này gặp nhiều khó khăn trong đời sống hiệp thông hữu hiệu: căng thẳng giữa người Do thái và người Hy lạp ( 1Cr 12,13), giữa người nô lệ và người tự do (1 Cr 7,21-23), giữa đàn ông và đàn bà (1Cr 7; 11,3-15), giữa người có của và người không có của (1Cr 11,22).

Các thư gửi tín hữu Cô-rin-tô cũng là một vấn đề thời sự lớn vì chúng cho phép nắm bắt các vấn đề đặt ra cho một cộng đoàn kitô hữu non trẻ thâm nhập trong một thành phố đông lúc nhúc, ham thích tiền bạc, cấu thành một thứ dân bị cuốn hút vào đấy vì những lý do khác nhau, cuối cùng được rao giảng Tin Mừng bởi một tông đồ muốn mang Tin Mừng đến cho mọi người không phân biệt ai.

Ở Cô-rin-tô, Phaolô thấy sứ điệp của ông va chạm với tư tưởng tôn giáo của người Hi lạp. Thực ra người Hi lạp đòi ”kiến thức” của họ cho một triết lý hay cho những mặc khải: cũng vậy, họ muốn khám phá trong tín lý của Phaolô một triết lý mới và trong những vị rao giảng những nhà tư tưởng theo kiểu mẫu của các “đám rước thần” và của các người đứng đầu.

Sau khi đến thành lập cộng đoàn, các xu hướng Hi lạp đã bao trùm lên các nguyên tắc và sự thờ cúng kitô giáo. Vì thế mối nguy hiểm làm tan biến sứ điệp kitô giáo và trượt về hướng ngộ đạo là có thật. Thế nhưng Tin mừng được đặt nền móng trên một Người và một biến cố lịch sử : Đức Kitô Phục sinh qui trả về Đức Giêsu Na-da-rét.

Đó là hoàn cảnh cụ thể của cộng đoàn, với những cách xử sự lệch lạc và các lộn xộn mà Phaolô chạm trán thường xuyên qua các thư của ông.

-----------------------------------------------------------------------------------

Dàn bài thư thứ nhất Cô-rin-tô

Nhập đề : chào thăm (1,1-3 và tạ ơn (1,4-9)

i.   Các chia rẽ trong Hội Thánh, sự khôn ngoan và lời tiên báo của Tin Mừng (1,10; 4,21)

ii.  Phaolô phản ứng lại 3 việc mất trật tự nghiêm trọng (5,1 ; 6,20)

iii.  Trả lời các câu hỏi : Kết hôn và độc thân (7,1-40)

iv.  Câu trả lời thứ hai: thịt cúng và việc tham gia vào sinh hoạt thị thành (8,1 ; 11,1)

v.  Các vấn đề liên quan đến việc điều hành các buổi họp kitô giáo (11,2; 14,39)

vi.  Sự phục sinh của Đức Kitô và sự phục sinh của chúng ta (15,1-58)

Kết luận : chỉ thị, dự án, khuyên răn và chào tạm biệt (16,1-24)

-----------------------------------------------------------------------------------

II. CÁC CHIA RẼ TRONG HỘI THÁNH, SỰ KHÔN NGOAN VÀ LỜI TIÊN BÁO CỦA TIN MỪNG

Ta có thể nói lời chào của thư thư nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô là một lời chào “đại kết”. Thật ra, Phaolô gửi lời chào tới những người ở ngoài Hội thánh, “ tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giêsu Kitô, là Chúa của họ và Chúa của chúng ta” (1 Cr 1, 2). Đối với tính cách đặc thù của Cô-rin-tô, công thức không bình thường này mang tất cả ý nghĩa của nó.

Thực ra, Phaolô đi từ sự kiện thực tế này là trong cộng đoàn có nhiều phe phái khác nhau. Ông tìm cách đưa cộng đoàn đến ơn gọi hiệp thông trong tình yêu Chúa Kitô. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa xây dựng Giáo Hội. Chính Người, Đấng Phục sinh, là trung tâm, là mối dây liên kết và là mục tiêu của cộng đoàn mà đoàn sủng của Thánh Thần được ban cho để phục vụ cộng đoàn.

Theo cách thức của các nhóm tôn giáo Hi Lạp, người Cô-rin-tô tự tìm cho mình các thủ lãnh  “…Tôi thuộc về ông phaolô … thuộc về ông A-pô-lô … thuộc về ông Kê-pha….” (1 Cr 3,4). Các nhóm riệng biệt đó đe dọa sự hợp nhất của cộng đoàn. Đối mặt với những chia rẽ này, (1Cr 1-4;  11,17-19), Phaolô tuyên bố Đấng Khôn ngoan chân thực thuộc về Thiên Chúa: đó là Đức Kitô bị đóng đinh, điều ô nhục đối với người Do Thái, điều điên rồ đối với dân ngoại, nhưng đó lại là Sức mạnh và Sự Khôn ngoan của Thiên Chúa đối với người đuợc kêu gọi (1Cr 1,17-25).

Vả chăng, trong số người Cô-rin-tô không có ai khôn ngoan, quyền thế, vậy mà họ lại được Thiên Chúa kêu gọi: cho người Kitô hữu trưởng thành, Thánh Thần mặc khải sự khôn ngoan của Thiên Chúa, mầu nhiệm và ẩn khuất…

Thế là những người rao giảng Tin mừng lấy lại chỗ đứng của mình: họ trồng, họ tưới nhưng Thiên Chúa cho lớn lên (3,1-19); họ đặt nền móng nhưng Thiên Chúa xây dựng (3,10-17). Những người rao giảng Tin mừng được xem như những người tôi tớ của Đức Kitô và là những người quản lý mầu nhệm của Thiên Chúa. (3,18 ; 4,5)

Và ai thật là tông đồ thì cũng là tông đồ của cộng đoàn: “vì thế đừng ai sinh ra kiêu ngạo theo người này mà chống người khác” (4,6) 

Đối với Phaolô, chỗ của một tông đồ đích thực của Đức Kitô là chỗ rốt hết, ngược lại với linh đạo của những người ngộ đạo cho rằng chính sự khôn ngoan và kiến thức của con người làm nên những kitô hữu hoàn thiện và trưởng thành.

Vì thế, Phaolô giúp các tín hữu Cô-rin-tô khám phá ra rằng “Nuớc Thiên Chúa không nằm trong lời nói nhưng trong việc làm” (1 Cr 4,20).

CÂU HỎI BÀI SỐ 6

Trong chương 1 thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, Phaolô tố cáo những lộn xộn do sự chia rẻ và hàm hồ về sự khôn ngoan nhân loại gây nên (1,17-25).

  1. Các mối chia rẻ (1,10-17)

a/  Các mối chia rẻ này từ đâu đến ?

b/  Trong câu trả lời của mình, Phaolô đã thấy vai trò của ông trong tương quan với Đức Kitô như thế nào? Công việc dành riêng cho ông là gì ?

  1. Sự khôn ngoan nhân loại (1,17-25)

a/   Phaolô tố cáo cám dỗ nào nơi các tín hữu ?

b/   Đối với chúng ta ngày nay, cám dỗ này có hình thức nào ?

c/  Tại sao Phaolô nói Tin Mừng không phải là một sự “ khôn ngoan” ?

      3. Câu 30 chương 1 diễn tả một nguyên tắc căn bản của đời sống kitô hữu. Nguyên tắc đó là gì ?

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn