Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 6: Mầu nhiệm Đức Giêsu

Trong không gian địa lý được Mác-cô định ranh giới, có một bi kịch. Đó chính là bi kịch của Đức Giêsu khi Người tìm cách làm cho dân chúng nhận biết và tin theo Người.

            Ngay những chữ đầu tiên trong sách Tin Mừng, Mác-cô đưa người đọc đối diện với Đức Giêsu: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1, 1). “Đức Kitô”, “Con Thiên Chúa”... là những danh xưng nói lên căn tính của Đức Giêsu. Tuy nhiên, người đọc  chỉ khám phá được  ý nghĩa đích thực của những danh xưng đó một cách tiệm tiến.

            Căn tính của Đức Giêsu chỉ được xác quyết rõ ràng nơi thập giá: “Người này thật là Con Thiên Chúa”. (Mc 15, 39)

            Sự khám phá từ từ về căn tính của Đức Giêsu được chia thành 2 giai đoạn.

GIAI ĐOẠN 1: Mc 1, 14-8, 26.

-         Thiên Chúa công bố Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, trong khi Người chịu phép rửa. “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”. (Mc 1, 11)

-         Sau khi Gioan làm phép rửa, Đức Giêsu loan báo Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần qua nhiều dấu chỉ, nhiều phép lạ. Vào lúc đó, những thần ô uế biết căn tính của Đức Giêsu, nên đã tiết lộ ra. Nhưng Đức Giêsu truyền lệnh cho chúng im lặng.  “Tôi biết ông là ai rồi: Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa, một thần ô uế la lên”. (1, 24)

Đức Giêsu không để cho chúng nói “bởi chúng biết Người là ai”.

“Còn các thần ô uế hễ thấy Đức Giêsu, thì sấp mình dưới chân Người và kêu lên: “Ông là Con Thiên Chúa!”. Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là ai” (Mc 3, 11-12).

-         Đám đông dân chúng tự hỏi về Đức Giêsu khi Người biểu lộ uy quyền của mình:

“Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh”. (1, 27)

Sau đó, các môn đệ nói với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh”. (4, 41)

-         Thiên Chúa phán, những thần ô uế tiết lộ căn tính của Người, đám đông và các môn đệ tự hỏi với nhau và , khi nói về mình, Đức Giêsu tự xưng mình như là Con Người. Danh xưng quả là bí ẩn!

GIAI ĐOẠN 2: MC 8, 27 – 16, 8.

-         Tại Cêsarê, điều lạ lùng xẩy ra. Từ câu hỏi của Đức Giêsu: “Còn anh em, anh em bảo thầy là ai?”, ông Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô” (8, 29). Đức Giêsu không từ chối danh hiệu này nhưng Người cấm không cho các môn đệ tuyên xưng danh hiệu đó ra.

Nhờ vào lời tuyên xưng đức tin trên, sự khám phá căn tính của Đức Giêsu dần dần tiến triển: “Con Người phải chịu đau khổ” là lời mà Đức Giêu nói với các môn đệ nhiều lần. Các môn đệ phải giữ điều bí ẩn đó, trong suốt thời gian Đức Giêsu chưa hoàn tất định mệnh của Con Người, cũng như chưa hoàn thành sứ vụ mà Người nhận từ Thiên Chúa.

-         Khi Đức Giêsu biến hình, tiếng của Thiên Chúa vang lên một lần nữa: “Đây là Con Ta yêu dấu” (9, 2-10). Tiếng phán bảo này không chỉ nói riêng với Đức Giêsu như khi Người chịu phép rửa, mà còn nhắm đến 3 môn đệ là những chứng nhân ưu tuyển trong lần mặc khải còn đang dấu kín đó (9, 9).

-         Dần dần, người ta nhận ra Đức Giêsu như Người là: “Lạy con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi” , người mù ở Giêrikhô la lên. (10, 46-50).

Người bệnh này cảm nhận ra Đức Giêsu là dòng dõi của Vua Đavit, Đấng Mêsia được mong đợi. Và người ta xem Người như là vua nhưng rất đỗi khiêm hạ khi Người đi vào thành Giêrusalem để lãnh nhận vương quyền ở đó. Tại đây, nhiều câu hỏi được đặt ra về sứ mệnh của Đức Giêsu: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy?” (11, 27-33). Nhưng Người không trả lời. Bằng vào những câu hỏi của mình, Đức Giêsu cố tìm cách để họ nhận biết về vương quyền đích thực của mình (12 và 13).

-         Chỉ trước Thượng Hội Đồng, trước vị thượng tế trịnh trọng đặt câu hỏi với Đức Giêsu (14,60) mà Người chấp nhận trả lời. Nhưng cũng chính tại nơi đây mà Người trả lời cho câu hỏi nền tảng bởi câu hỏi này nhắc đến hai danh xưng xuất hiện ngay từ đầu trong Tin Mừng.

“Phải chính thế” là câu tuyên bố của Đức Giêsu và cũng đủ để nói lên rằng chính Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Người bị kết án lại là người lên án. Đức Giêsu cũng còn nhấn mạnh: “Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (14, 62).

Đức Giêsu tự cho mình những đặc quyền của Thiên Chúa: điều này là nguyên nhân để Người bị kết án.

-         Khi Đức Giêsu chết, câu trả lời của con người cuối cùng đã đến. Bởi khi nhìn thấy Đức Giêsu chịu chết, viên đại đội trưởng đã thốt lên:

Quả thật, người này là Con Thiên Chúa!” (15, 39)

Khởi đi từ Thập Giá, con người thực sự có thể khám phá và tuyên xưng:

ĐỨC GIÊSU , KITÔ, CON THIÊN CHÚA.

CÂU HỎI BÀI SỐ 6

Từng bước khám phá Đức Giêsu , Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.

Mc 1,1 đã như nói lên tất cả Tin Mừng: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”.

            Những câu sâu đây từng bước cho chúng ta biết điều gì về căn tính của Đức Giêsu?

-  1,11

“Thần ô uế” biết :

-   1,24

            -   1,34

            -   3,11-12

-   5,7

            “Con người” tự hỏi nhau...

             -  1,27

             -  2,10

             -  4,41

            -  6,14-16

             -  8,27-30

             -  8,31

KẾT LUẬN

·        Marcô chỉ ra cho chúng ta những điều gì về căn tính của Đức Giêsu trong những chương nêu trên? (1-8)

      - 9,7-9

      - 9,31

      - 10,33

      - 10,47-48

      - 11,3 và 11,9-10 

      - 14,60-62

      - 15,39

KẾT LUẬN : Bạn rút ra được kết luận gì từ chương 9 đến chương 16 ?        


Bài đọc thêm

CĂN TÍNH ĐỨC GIÊSU

Những ghi chú trích từ: Avènement, Évangile selon St Marc:

Coll. Écouter la Bible. DDB, 1978

Và từ: A. Chouraqui, L’Univers de la Bible. T.10, Ed. Lidis, 1985.

Người con

            Trong Mc 13,32 , Đức Giêsu đã xưng mình như Người Con không có sự xác định nào khác. Qua đó, Marcô nhấn mạnh chức năng con thần linh của Đức Giêsu (xem Mt 11,27; 24,36; Lc 10,22).

            Lời xác quyết này được truyền đạt bằng một câu gây ngạc nhiên liên quan chắc chắn đến chính Đức Giêsu: nếu không phải chính Người nói thì ai đã dám đặt lời đó trên môi miệng của Người?

Con yêu dấu

            Một tiếng từ trời phán về Đức Giêsu với những lời Thánh Vịnh 2,7. Thánh Vịnh này là Thánh Vịnh phong vương: Con là Con của Ta. Từ chỉ về phẩm chất: yêu dấu được thêm vào câu trên có thể ám chỉ Isaac, người được chỉ định làm lễ tế (St 22, 2.12.16) Nhất là, từ đó muốn nhấn mạnh rằng Đức Giêsu là Con Một và rằng mối liên hệ với Cha của Người là mối liên hệ tình yêu.

Con Người

            Mác-cô dùng danh xưng này, đặc biệt ở 2,10. Tước hiệu đó thường lập lại trong Tin Mừng của ngài và luôn được Đức Giêsu tự xưng như thế. Từ đó là từ ẩn nghĩa nên thường gây tranh luận. Theo tiếng Hy Lạp cũng như tiếng Aram, Con của loài người chỉ đơn giản là một con người. Tuy nhiên ý nghĩa thiên sai xuất hiện trong sách ngôn sứ Danien và trình bầy “Có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời” . Con Người đó nhận lãnh toàn quyền thống trị (Dn 7, 13-14). Con Người này chính là Đức Giêsu Kitô vinh hiển, ngự bên hữu Thiên Chúa trên cõi trời và từ đó Người trở lại khi đến thời cùng tận.

Con Vua Đavít

            Trong Mc 12, 36, Đức Giêsu đọc thánh Vịnh 109 (110). Thánh vịnh này được coi là Thánh vịnh thiên sai và theo truyền thống qui về Đavít. Bởi vì được mọi người chấp thuận, nên Đức Giêsu lập luận vào thời gian đó rằng: Đavít đã gán cho Đấng Mêsia tước hiệu Đức Chúa. Tước hiệu này chỉ dành riêng cho Thiên Chúa. Điều này giúp ta hiểu rằng Người cao cả hơn Đavít. Bản văn trên khẳng định rằng Đức Giêsu, Đấng Mêsia, không chỉ là Con Vua Đavítmà còn là Đức Chúa ngự bên hữu Thiên Chúa. 

Con Thiên Chúa

            Đức Giêsu tránh tự xưng mình là Con Thiên Chúa; tước hiệu này (với người Phương Đông thì tước hiệu đó không có gì là lạ lùng cả) mở ra nhiều ngờ vực bởi nó hàm ý về Đấng Thiên Sai và có thể làm cho Đức Giêsu chỉ được xem đơn giản như là Đấng Mêsia theo nghĩa thế tục. Đó là lý do mà Đức Giêsu buộc các thần ô uế phải im lặng khi chúng nhận ra Người (Mc 1,34). Nơi môi miệng người tín hữu, danh xưng đó hàm chứa một ý nghĩa mỗi ngày một cao hơn cho thấy mối liên hệ duy nhất kết hợp Đức Giêsu với Cha Người.

Đấng Mêsia

            Qua câu trả lời này (xem Mc 8,2-30), Phêrô đồng hóa Đức Giêsu với một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Israen. Qua vị này, Thiên chúa thực hiện sự can thiệp có tính quyết định vì lợi ích của dân Người.

            Qua lời tuyên xưng của Phêrô, các kitô hữu nhận ra thiên tính của Đức Giêsu.

Mác-cô không nhiều lời về việc này ; ngài chỉ nói (và đó đã là nhiều lắm rồi) rằng Thiên Chúa đang cứu độ bằng một cách thức độc nhất nơi con người và sứ vụ  của Đức Giêsu.

            Dựa vào từ ngữ Do Thái mashia được chuyển sang tiếng Hy Lạp là Kitô, danh xưng này, ngay từ đầu dùng để chỉ vị vua được thánh hiến bằng xức dầu, nghĩa là được trao ban trách nhiệm vừa thế tục và vừa tôn giáo.

            Dưới dạng danh từ Kitô (đó là cách dùng của Mác-cô bởi ngài viết bằng tiếng Hy Lạp (xem 1,1), tước hiệu này, nhanh chóng trở thành một tên thông dụng, sẽ trở nên tên họ của Đức Giêsu Phục Sinh.

            Bằng cách qui câu trả lời cho Phêrô (toàn bộ Tin Mừng nói rằng chính Phêrô là người khởi xướng vào thời điểm quyết định), Mác-cô nhắm đến quyến tối thượng của Phêrô mà Matthêu sẽ nhấn rất mạnh về vấn đề này ở cùng giai đoạn đó (Mt 16,18).